Nội dung chính

LỜI NÓI ĐẦU

1. THỬA ĐẤT NHO GIÁO

2. CÂU HỎI VỀ GIẢI THOÁT

3. HẠT GIỐNG TIN MỪNG

4. TU VÀ YÊU

5. BỨC TƯỜNG HỘI THÁNH

6. TƯƠNG GIAO LIÊN NGÃ VỊ

7. THIÊN CHÚA TƯỚC ĐOẠT

8. ĐỨC GIÊSU TRONG HỘI THÁNH

9. CUỘC VƯỢT QUA

10. LỄ RỬA TỘI

11. XUẤT GIA

12. NỖI NHỚ CÁT MINH

13. TRONG BỘ ĐỒ LÍNH

14. QUÊ NGƯỜI

15. ĐI TÌM MỘT NẾP TU

16. ÔNG THẦY TÀI TỬ

17. LÁ RỤNG VỀ CỘI!

18. XEM LẠI MỘT KHÚC PHIM

19. TỈNH MỘT CƠN MÊ

20. HÀNH HƯƠNG HÀ NỘI

21. HỘI THÁNH VẪN MUÔN ĐỜI

22. CƯ SĨ

23. LỜI KẾT: ĐƯỜNG CHÚA ĐƯA TÔI VỀ


LỜI NÓI ĐẦU

1. “Le moi est haïssable” (Cái tôi đáng ghét).
Câu ấy của Pascal đã làm cho tôi nhiều lần có ý định kể chuyện về đời mình rồi lại thôi. Kể làm gì? Có ích lợi gì cho ai không? Không khéo chỉ là dịp cho mình quay về với mình, đi tìm chính mình trong sự duy kỷ trung tâm (égocentrique) nếu không là vị kỷ (égoïste), tự ngắm mình, chết chìm trong ‘cái tôi’, tự phô trương, tự mãn! Nhưng rất nhiều bạn bè thuộc nhiều xu hướng bảo tôi nên ghi lại những quãng đường đời có lắm khúc quanh co của tôi. Vì tuy là một người tầm thường, nhưng tôi được cái may mắn (hay không may?) trải qua khá nhiều biến đổi từ sinh hoạt bên ngoài, cũng như trong đời sống tâm tư: xuất thân từ một gia đình khoa bảng Nho học, cho đến nay 61 tuổi đầu. Tôi đã từng mặc áo rộng xanh lễ Thành Hoàng ở đình làng; đã từng trú ngụ tại một ngôi chùa, chiều chiều đến thỉnh 108 tiếng chuông thu không; đã chịu phép Thánh Tẩy, tu dòng Phanxicô, tu dòng Biển Đức; đã từng tham gia Đội Tuyên Truyền Xung Phong tỉnh Hà Tĩnh năm 1946; bị động viên học trường sĩ quan Thủ Đức, du học tại Pháp, làm quyền khoa trưởng Văn Khoa Viện Đại Học Đà Lạt; học tập cải tạo tại Sông Mao, làm cán bộ tại Ủy Ban Khoa Học và Kỹ Thuật , cán bộ tại Ủy Ban Mặt Trận tỉnh Lâm Đồng và sau cùng “Về vườn” trồng cây ăn quả, thả cá, chờ ngày được Thiên Chúa gọi từ giã cõi đời này ra đi.
Năm 1977, sau gần 30 năm xa cách, lúc gặp mẹ tôi, bà bùi ngùi, nói: ” Ừ Thúy Kiều thì 15 năm lưu lạc; còn phần con thì 30 năm chìm nổi!” Tôi chỉ biết cầm tay mẹ, cúi đầu im lặng; nhưng trong lòng bỗng nghĩ tới một tác giả nào đó: “Rồi cuối cùng, con người cũng chỉ có việc là rơi vào bàn tay Từ ái của Thiên Chúa mà thôi!”
Việc tôi gần 60 tuổi tìm về gặp lại mẹ già đã gần 80 gợi lên hình ảnh trong thành ngữ, “lá rụng về cội”: cội trần gian mà biểu tượng là mẹ già; nhưng lại sâu xa hơn cả là Cội Muôn Đời – chính là THIÊN CHÚA TÌNH YÊU, Cội Nguồn và Cứu Cánh của muôn loài.
Những dòng sau đây, chỉ là tâm sự của một người trên 60 tuổi sau bao nhiêu chặng đường đời, bỗng thấy mình như được trở về cái tuổi thơ ấu, ngã vào lòng mẹ già, buông mình vào bàn tay của Thiên Chúa Cha hằng hữu. Tôi viết với tinh thần của Lao Lai nhảy múa trước sân cho vui lòng mẹ già, với tinh thần của vua Đavít, nhảy múa đàn hát tung tăng trước Hòm Bia Thiên Chúa và lẽ dĩ nhiên là dưới cặop măt của một bà mẹ. vừa là Mẹ Thiên Chúa, vừa là mẹ của mọi người: Đức Maria Đồng Trinh Vô Nhiễm.
Cho nên, tôi được phép xem tất cả những bạn sẽ đọc tập “Hồi Ký” này là anh chi em, con chung một Cha trên Trời, dù các bạn thuộc bất cứ phương trời nào. Và cũng xin tất cả đọc với cặp mắt thân ái huynh đệ: có điều gì không phải, xin các bạn bao dung lượng thứ. Và cuối cùng, nêu không có gì đáng giá, thì mong rằng, tôi có thể kết thúc tập Hồi Ký như Tố Như: “Mua vui cũng được một vài trống canh!” Vì suy cho cùng thì Lao Lai, trên 60 tuổi còn đùa giỡn trước sân, cũng không ngoài mục đích mua vui cho cha mẹ già và mọi người ở trong gia đình mà thôi.
2. Làm việc này, tôi không khỏi liên tưởng đến những bản “Hồi Ký” lừng danh của các bậc như: Âu Tinh, Têrêsa thành Avila, và Têrêsa thành Lidiơ, Thomas Merton,… theo gương các vị ấy, tôi kể chuyện đời mình với tinh thần thống hối, để ý thức sâu xa hơn sự hư không của bản thân, nhưng chủ yếu là để tán tụng tuyên xưng Lòng Từ Ái Vô Biên cùa Thiên Chúa đối với tôi là một con người tội lỗi, một tạo vật hư hèn. Tôi đặt để những dòng chữ sau đây dưới chân Đấng Vô Nhiễm Trinh Thai, Đấng đã cất lời tán tụng Thiên Chúa: Vì “Ngài đã làm cho tôi những sự kỳ diệu”, vì “danh Ngài là Thánh, vì “lòng thương xót của Ngài đến muôn đời muôn thuở”. Vì “lòng Ngài đã đoái nhìn đến phận hèn” của người tội lỗi. Quả vậy, và một cách khiêm hạ, tôi nghĩ rằng “Thiên Chúa đã làm nơi tôi những sự kỳ diệu”! Bất cứ ai, bất cứ gì: bậc tài đức cũng như người tầm thường, muôn vàn tinh tú cũng như cỏ mọn hoa hèn, tất cả đều kỳ diệu, vô cùng kỳ diệu, trên hết mọi sự kỳ diệu có thể hình dung được, đó là: sự sáng tạo từ hư không và sự tái tạo từ tội lỗi. Chỉ có Quyền Năng vô hạn và Từ Ái vô biên của Thiên Chúa, mới có thể làm nên hai sự kỳ diệu vô cùng kỳ diệu ấy mà thôi!
Do đó, bất cứ người nào, bất cứ việc nào, bất cứ hữu thể nào, dù tầm thường đến đâu, dưới cái nhìn trần tục của người phàm – thì dưới cặp mắt của Thiên Chúa và của những ai được đức tin soi sáng - đều là kỳ diệu cả! Những trang đầu của sách Sáng Thế có ghi chép rằng sau khi tạo thành mọi vật, Thiên Chúa đều khen là ‘thiện hảo’, và nhất là đến con người thì lại được mô tả là ‘nên giống hình ảnh Thiên Chúa’. Tân Ước lại còn ghi rõ: linh hồn con người là ‘đền thánh, nơi Thánh Thần Thiên Chúa ngự xuống’, là bảo vật đáng cho Chúa Cha sai Con Một yêu dấu của Ngài xuống thế đổ đến giọt máu cuối cùng để cứu chuộc, sau khi đã quì xuống rửa chân trước giờ nộp mình chịu nạn! Giá trị vô song dường như tuyệt đối của mỗi một linh hồn ‘dù là của bất cứ ai’ đã được Pascal mô tả bằng lời sau đây mà ông nhân danh Chúa Giêsu viết ra: “Ta dành riêng giọt máu này cho con đó!”
Giá máu của Ngôi Con Thiên Chúa hàm thai trong lòng băng tuyết của Đức Maria Vô Nhiễm trọn đời đồng trinh do Thánh Mẫu Thiên Chúa: đó là giá trị của mỗi một linh hồn! dù là linh hồn của người hành khất phung hủi mà Phanxicô thành Atsidi ôm vào lòng hôn, hay của những em bé sơ sinh “chửa hoang’ bị ném bên rãnh nuớc mà Vinhsơn đờ Pôn lượm nhặt về cưng nuông nuôi dưỡng, hay của kẻ tử tội Pranzini mà Têrêsa thành Lidiơ cầu nguyện xin Chúa ban ơn hối cải trước khi đầu lìa khỏi cỗ trên máy chém.. Bởi vì con người nào cũng được mời gọi trở nên con Thiên Chúa, thông dự vào chính Sư Sống và Tình Yêu muôn thuở của Ngài. Lẽ đương nhiên, tôi hay bất cứ ai, cũng đều có ơn thiên triệu đó, nên cũng là một sự kỳ diệu do Thiên Chúa làm nên cả! Và nếu lưu ý đến khía cạnh ơn tái tạo Cứu Độ của Ngài, sau khi con người bị phá hủy, tự hạ phẩm giá mình do tội lỗi, thì con người càng sa đọa bao nhiêu mà vẫn được Chúa đoái thương lại càng kỳ diệu bấy nhiêu. Cho nên khi một kẻ tội lỗi trở về cùng Thiên Chúa, ‘chín tầng trời vang dội tiếng hoan ca!’. Cái giây phút tôi được nhận bí tích Thánh Tẩy (đúng hơn là được ‘thánh hóa’ và ‘thánh hiến’, vì từ giây phút ấy tôi trở nên đền thánh nơi Chúa Ba Ngôi ngự xuống ở củng), chắc hẳn là chin phẩm Thiên Thần đều quì gối thờ lạy tung hô ‘Danh Cha cả sáng’, vì nước Chúa đã trị và đã đến trên một tâm hồn!
Kể lại đời mình chẳng qua là vọng lại lời tung hô thờ lạy ấy. Việc đó: Thánh Âu Tinh, cả hai vị Thánh Nữ Têrêsa, Thomas Merton, John Wu, … đã làm; và trên hết, chính Đức Nữ Đồng Trinh Maria – cũng đã làm trong bài tán tụng ‘Magnificat’.
3. Đó là hướng lòng lên cao về Thiên Chúa, nơi phát xuất mọi nguồn ơn sủng tưới khắp vũ trụ, nhưng những giọt mưa móc Ơn Sủng của Thiên Chúa dành cho tôi, Ngài không ban trực tiếp song qua sự trung gian của muôn vàn khâu tiếp dẫn, khác nào như một mạng lưới kinh mương thủy lợi đưa dòng nước từ thượng nguồn chót vót đến tận từng gốc cây cội lúa. Quả vậy sở dĩ có tôi, và tôi được trở nên ‘tôi’ như Ý của Thiên Chúa, đành rằng tôi có tự do Ngài ban cho, nhưng để thực hiện, với sự đóng góp có thể nói là của toàn thể vũ trụ, chưa nói đến giá máu cực trọng của Con Thiên Chúa, mà chỉ nói đến cơ thể của tôi: được tạo dựng nên là cũng do bao nhiêu công lao trời biển, bao nhiêu ân tình nợ nghĩa, bao nhiêu não cân tâm huyết của Hội Thánh, Nhân Loại, Gia Đình và Xã Hội, kể làm sao xiết được! Kể lại đời mình là dâng lòng tri ân Thiên Chúa, mà cũng là dâng lên cho Ngài tất cả, với ý thức rằng nếu chỉ tự mình (vốn là hư vô cát bụi), thì mình chẳng là cái gì; nhưng tất cả đều là Ân sủng! Ân sủng của Thiên Chúa, mà cũng là của tất cả cuộc sống được xây dựng trên nền tảng của sự trao ban, đón nhận và phục hoàn giao lưu giữa trăm nghìn vạn hướng: trên xuống, dưới lên, dọc ngang, xuyên chéo, mọi chiều nghiêng thẳng không cùng. Do đó, ‘tạ ơn’ là một chiều kích căn bản của Nhân sinh. Kể chuyện đời mìnhchỉ là một cách dâng lời tạ ơn đến tất cả! Tất cả, ngay cả đối với những người, những việc, những vật mà trong sự nông cạn hời hợt tối tăm của lòng duy kỷ và vị kỷ, mình tưởng là thù địch với mình. ‘Tất cả đều là Ân Sủng!’ ’Tất cả, chẳng trừ bất cứ ai, bất cứ gì!’ Chí lý, thâm thúy và cao thượng biết bao - lời của vị thánh nữ Tiến sĩ Hội Thánh Têrêsa Avila! Trung tâm đời sống phụng vụ của Giáo Hội là một Thánh lễ Tạ Ơn. Tập hồi ký này cuối cùng cũng chỉ là lời kinh Phụng Vụ Tạ Ơn. Và ngay từ giờ phút này, cũng xin gởi đến các bạn đọc lời tri ân đối với sự cảm thông của các bạn sẽ dành cho một sự thông cảm mà thôi.
4. ‘Sự Cảm Thông’ – Đó là điều tôi mong chờ nơi các bạn đọc. Bởi vì những dòng sau ðây không phải là những suy tư về nhân sinh vũ trụ, dựa trên lý luận minh chứng một hệ thống triết học, mà chỉ là câu chuyện riêng tư của một kẻ tâm sự kể lại đời mình với những tâm hồn đã có ít nhiều cởi mở. Do đó, vấn đề đồng ý hay nhất trí về mặt tư tưởng hay đối kháng về mặt lập trường không được đặt ra, vì kẻ viết không có chủ trương đúng sai, hơn thua, để tranh luận hay thuyết phục, mà chỉ bày tỏ nỗi lòng: Cho nên trăm sự đều nhờ lượng cả bao dung. Nếu có lúc phải so sánh chuyện này chuyện nọ là chỉ nhằm mục đích trình bày cho rõ ràng minh bạch, chẳng khác gì so sánh con rắn không chân, con thạch sùng bốn chân, con rít hàng chục chân, thế thôi! ‘mỗi con một vẻ’, ‘mười phân vẹn mười’ hợp nhãn hay không là tùy nhân tâm sở thích: hay nói thanh tao hơn: đàn bầu, đàn thập lục, đàn nguyệt: có ai so sánh đàn nào hơn đàn nào đâu, mà tùy sở thích; chẳng qua là để trao đổi tâm tình cho hiểu nhau thôi! Lòng tri kỷ, dạ tri âm; đó là tinh thần chủ yếu. Có chăng là kẻ đánh đàn mong rằng khi tiếng đàn dứt rồi, người nghe dành cho một chút chạnh lòng và nếu có gợi lên một chút ít tiếng vang nào đó, thì cũng là chuyên riêng tư của người nghe; kẻ đánh đàn cũng không dám chen vào, chỉ biết kính cẩn im lặng cúi đầu bước lui như rời khỏi một Cung Thánh, một Điện Thờ! Những lời tâm sự của mình chỉ là tiếng xôn xao vô tích sự trước cái thâm nghiêm đầy thiêng liêng bất khả xâm phạm của mọi tâm hồn.
Thế giới các tâm hồn khác nào như một vườn thượng uyển muôn màu muôn vẻ, mà đối với Lượng Thánh của Quân Vương thì dù hoa hèn cỏ mọn cũng được tuyển vào cho đẹp mắt Cửu Trùng; những dòng thô sơ sau đây chỉ là một đóa hoa nơi thôn đã đã bỗng dưng được tuyển vào Vườn Cấm, ít nhiều thẹn thùng, e dè, khép nép, chờ lúc đêm khuya thanh vắng mới dám vươn cành thô thiển tỏa hương ngào ngạt mộc mạc, cho nên chỉ mong, nếu không được giá trị gì, thì cũng là: ‘Mua vui cũng được một vài trống canh’

Ðà Lạt, thứ Bảy, 1/3/1986
(21 tháng giêng – Bính Dần)
N.K.D.

1. THỬA ĐẤT NHO GIÁO
Tôi sinh năm 1925 (Ất Sửu). Giấy khai sinh chính thức ghi là sinh vào ngày 24 tháng 9 Dương Lịch, tại nguyên quán là làng Thịnh Xá, nhưng thực sự là tại bệnh viện thành phố Vinh, là nơi thân phụ tôi giữ chức Án Sát tỉnh Nghệ An. Nguyên quán tại làng Thịnh Xá, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Gia đình tôi sang cư ngụ tại làng Gôi Mỹ, sát cạnh làng Thịnh Xá, nhưng theo tục lệ xưa thì họ NGUYỄN KHẮC của tôi vẫn thuộc danh bộ làng Thịnh Xá, và vẫn bị xem như là dân cư ngụ tại làng Gôi Mỹ. Công việc sưu thuế, cúng tế đều thuộc về nguyên quán; còn tại làng Gôi Mỹ thì chỉ đóng góp với tinh thần ngoại qui. Cả hai làng nguyên và trú quán đều thuộc về tổng An Ấp, nằm về tả ngạn sông Phố, là phụ lưu của sông Lam, từ Trường Sơn đổ xuống. Sông Phố chảy hết địa phận huyện Hương Sơn sẽ kết hợp với một phụ lưu khác là song Sâu chảy giữa hai huyện Hương Khê và Đức Thọ, tại ngã ba sông gọi là Tam Soa (3 cành) có đồn Linh Cảm. Hai dòng Phố và Sâu chảy vào khúc sông ngắn gọi là sông La chảy qua huyện (bấy giờ gọi là phủ) Đức Thọ. Rồi sông La chảy vào sông Lam tại ngã ba Phủ. Ngọn núi được xem như tiêu biểu cho quê tôi gọi là Rú Chuối (tên chữ non Tiêu), non Tiêu ngàn Phố chỉ là vùng tổng An Ấp, cũng như Hồng Lam chỉ là vùng Nghệ Tĩnh. Danh nhân thì có Hải Thượng Lãn Ông đã chọn Hương Sơn làm nơi ở ẩn, có Cao Thắng, Lý Chính Thắng, cụ Nguyễn Đình Kiên và Hồ Hảo (đánh chiếm đồn phố Châu thời Nhật thuộc).
Dù là thuộc về một gia đình quan lại Nam triều dưới thời Pháp thuộc, tôi và anh chị em trong gia đình, như bất cứ người dân Nghệ Tĩnh nào cũng có chút tự hào về truyền thống cách mạng và văn hóa địa phương mình. Từ thuở bé, tôi đã luôn nghe nói đến Nguyễn Biểu, Mai Hắc Đế, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Đặng Thái Thân, Lê Văn Huân, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Ái Quốc, Cao Thắng, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, cụ Thám làng Ngang, cụ Nghè và… rồi Xuân Diệu, Huy Cận,v.v… dân Nghệ Tĩnh có tiếng là can trường, khảng khái, trung kiên, chân chất, cần kiệm, đôi khi quá kham khổ (như trong sự tích cá gỗ!); so với nhân dân đất Kinh Bắc thời xưa thì có phần thiếu thanh lịch, vụng doanh thương. Đời Lý, Trần, đất Nghệ có thể như địa đầu cực Nam, nơi quan ải xa xôi, đât đai không được phì nhiêu, luôn lụt lội bão tố. Học trò Nghệ có tiếng là học giỏi, đỗ đạt nhiều, thời Hán Học cũng như thời Tây học. Dòng họ Nguyễn Khắc của tôi thời Lê Trung Hưng mới từ Sơn Tây (Nguyễn Khắc Hiếu) vào đất Nghệ, trước ở huyện Nam Đàn, sau nhánh thứ mới sang Hương Sơn, đến tôi chỉ độ năm sáu đời. Vị tổ đầu tiên vào đất Nghệ là Nguyễn Khắc Văn (giữ chức phó Đô Ngự Sử đời Lê Vĩnh Tộ); tuy không thấy ai ghi chép rõ, nhưng tôi phỏng đoán lý do cũng tương tự như cụ Hải Thượng: bất mãn chế độ họ Trịnh nên rút lui vào đất Nghệ. Các đời sau không thấy mấy ai đỗ đạt hay làm quan cho đến đời thân phụ tôi so với họ Đinh (thứ trưởng Đinh Nho Liêm) ở làng Gôi Mỹ, thì có phần kém sút mà chỉ thuộc về thành phần phú hào trung lưu. Chỉ có người cậu ruột của ông nội là một nhà nho đỗ đạt làm quan và nổi tiếng về đông y: đó là cụ Lê Kinh Hạp. Ông nội tôi có được sách đèn, nhưng không đỗ đạt gì. Thân phụ tôi có lẽ chịu ảnh hưởng nhiều của ông cậu họ Lê ấy nên đã sớm ham học và may mắn có thiên tư nên đỗ đạt rất sớm: năm 19 tuổi đậu hoàng giáp (khoa thi Đình đời vua Thành Thái). Việc thân phụ tôi đậu đại khoa lúc 19 tuổi là một vinh dự cho gia đình và giòng họ, cho cả làng xóm, cả đến hàng huyện hàng tổng. Và trong cái nhìn của những người bình dân thì cho rằng ông bà tôi có phúc đức, bởi vì theo Nho học, thì không chỉ có văn chương, mà chủ yếu là lễ nghĩa theo đạo thánh hiền với lý tưởng: tu tề trị bình! Nên ông bà có phúc đức thì con cháu mới được như thế. Thậm chí có kẻ còn cho rằng đó là một thần đồng hóa thân, nên lắm người có con cái hay đau yếu đã đem bán khoán cho thân phụ tôi như bán cho các vị thần ở đình miếu, có khi còn xin mảnh vải từ y phục của người để làm bùa cho con cái đeo để trừ tà!
Con nhà có học thì không phải chỉ có học giỏi, mà phải có lễ nghĩa, đức hạnh, nết na, kế tục truyền thống gia phong không phài chỉ có lo trau giồi chữ nghĩa, mà phải tu tâm dưỡng tính theo các bậc thánh hiền, ít nhất cũng phải là con người có lương thiện, đừng làm điều gì mà thất đức, điếm nhục đến cha ông, và gây tội với Trời, di hại cho con cháu. Do đó việc giáo dục gia đình tôi tương đối nghiêm khắc: từ lời ăn tiếng nói đến cách đi dứng đều được rèn luyện kỹ lưỡng, và tất nhiên phải là chăm lo học hành. Từ thuở bé, tôi đã được gia đình truyền thụ cả một nền đạo đức Khổng giáo và một truyền thống văn học khá sâu đậm. Cái truyền thống ấy tôi tạm phân tích ra ba yếu tố sau đây:

1. Yếu tố xã hội: Nhằm có một vị trí trong tầng lớp xã hội vào hạng thượng lưu mà biểu tượng là làm quan (chứ không phải là làm giàu, và vẫn lấy các vị quan cao có đời sống thanh bạch làm lý tưởng). Cái mộng làm quan ấy có hai phần:

Một là vị kỷ: Nhằm có địa vị, năng về danh thơm hơn lợi lộc, nặng về tôn trọng kính nể hơn là oai quyền hống hách.

Một phần vị tha: giúp Vua trị nước (theo nghĩa giúp dân sống no ấm, an ổn và có đạo đức) theo kiểu ‘dân chi phụ mẫu’.

2. Yếu tố trí thức: Nhằm cách vật trí tri, tuy có bị sa lấy vào tệ tứ chương cử nghiệp, nhưng cũng không sao nhãng chuyện trau giồi trí tuệ cho thông minh và có kiến thức, hiếu học (trọng văn, hơi khinh võ): chữ văn hiểu theo nghĩa rất rộng là kiến thức bách khoa.

3. Yếu tố đạo đức: Nhằm sống theo nhân, lễ, nghĩa, trí, tín; tránh tàn ác tham lam, xảo trá dâm dật, xa xỉ phóng túng; hơi có bề khắc khổ và hơi gò bó, ít nhiều nặng về hình thức, sợ dư luận khen chê, có ít nhiều sợ lẽ Công bình trời đất. Khá mơ hồ: ngầm sợ một cuộc lai sinh có thưởng phạt nhưng rõ ràng nhất là sơ gây oan nghiệt cho con cháu, có lẽ chính yếu là nhằm: ‘để đức cho con’. Trong nền đạo đức này, nhân nghĩa là căn bản: Nhân - được hiểu như là lòng thương người, nhất là dưới hình thức giúp đỡ người hoạn nạn cơ bần; Nghĩa - được hiểu như là lòng trung tín thủy chung, không phản bội lừa lọc, tham lam. Tiếp đó là nhấn mạnh đến việc tu thân tự trọng, tự giữ gìn nhân phẩm, đôi khi hơi thiên về khía cạnh sĩ diện danh thơm (không là hư danh nhưng là mong giữ tiếng tốt lưu truyền hậu thế) trong cái khí tiết có phần tự trọng nhưng cũng có phần tự cao (đôi khi bao hàm sự khinh chê kẻ tiểu nhân), mặc dầu bề ngoài khiêm tốn (tự xưng mình là tiện đệ ngu huynh…) ngay đến bậc quyền thế cũng tự xưng là ‘cô, quả’. Cái khiêm tốn chú trọng về cái lễ trong tương quan xã hội, tuy không cao thượng lắm, nhưng cũng là một cách ổ định hài hòa, trang nhã hóa tương quan xã hội, làm cái đệm tránh những va chạm, tranh chấp kèn cựa, giải quyết được những xung khắc đối kháng trong cuộc sống hằng ngày, khỏi tổn thương hòa khí và trật tự. Sự khiêm tốn có thể tiến lên bậc khiêm cung, thành thật tôn kính những giá trị chân chính vượt hơn mình, như đối với bậc tôn trưởng, tài đức …nhưng không phải đã tới chỗ khiêm hạ trong lòng thật sự, tự xem mình là hư hèn tội lỗi trước sự Chí Thiện Chí Thánh của ĐẤNG TốI CAO (như trường hợp của Phanxicô thành Át-si-di…)
Vì vậy riêng tôi, cũng như các anh chị em tôi, đều có phần nào cảm thấy vinh dự được thuộc về một gia đình nề nếp, vừa có địa vị về danh lợi (con quan, con địa chủ), vừa có học, vừa có tư cách. Có phẩm giá, có ít nhiều đạo đức (thanh liêm, trung trực, nghiêm túc, không xa hoa lăng loàn, biết trên kính dưới nhường, đi đứng ăn nói lễ độ, từ tốn theo khuôn khổ Thánh hiền đã vạch ra), lòng tự hào này phần nào cũng là một sư nâng đỡ trong cuộc sống, giúp chúng tôi khỏi sa ngã vào những điều xấu xa, ít nhất là về mặt thanh danh đối với mọi người. Vì thế, gia đình tôi thường được kính nể và ít nhiều được thiện cảm của mọi giới đồng bào. Măc dù sau này thân phụ tôi làm quan khá cao, nhưng người vẫn giữ được dáng dấp một nhà nho dung dị, đơn sơ, thuần phác, nghiêm ngặt, hiền hậu và vẫn được một số nhân sĩ gọi bằng ‘Thầy’. Xét cho cùng, thân phụ tôi bản chất là một nhà nho lẽ ra làm thày dạy học thì đúng hơn là làm Quan. Mà quả vậy sau khi đỗ đạt xong, thân phụ tôi làm nghề dạy học, tư nghiệp (gần như là phó Viện Trưởng Quốc Tử Giám); mãi đến khi Nho học bãi, thân phụ tôi chuyển sang ngành hành chánh làm Tri phủ Anh Sơn, rồi từ đo dần đến hàm Thượng Thư, rồi về hưu năm 1943. Thân phụ tôi vẫn thường tâm sự rằng khi Nho học bãi, phải chuyển qua ngành hành chánh là điều trái với ý nguyện của người - là chỉ muốn ở trong ngành dạy học. Vì vậy, anh em tôi, tuy làm con Quan, nhưng không ai có ý muốn làm Quan cả! Chỉ có ý muốn nối nghiệp học giỏi, đậu cao, làm các ngành văn hóa, nhất là dạy học.

Hồi tưởng lại tôi thấy thân phụ tôi là một nhà Nho thời mạt vận! 19 tuổi đậu đại khoa thì kể ra là khá thông minh, hiểu được chỗ uyên thâm của Nho giáo, nhưng có lẽ sau khi Nho học bãi phải miễn cưỡng chuyển sang ngành hành chính, ngưòi cảm thấy hết niềm tin vào Nho học về mặt xã hội, mà chỉ còn rút lui vào làm quan để nuôi sống gia đình, và ít nhiều ngụy tín là dầu sao thì vẫn là làm Quan với triều Nguyễn là chính thống, Pháp chỉ là bảo hộ mà thôi! Cố gắng đừng làm điều ác, cố gắng sống thanh liêm, công chính trong nhiệm vụ một ông Quan tốt theo nghĩa trung bình và chăm lo giáo dục con cái nên người có học và lương thiện, chứ không tưởng gì đến vấn đề độc lập dân tộc hay thay đổi xã hội lớn lao! Có lẽ người thấy bất lực trước sự tấn công của nền văn hóa Tây phương và thế lực của nước Pháp, nên gác hẳn ra mọi việc quốc gia đại sự! Vì vậy tôi nhớ lại người có một cái gì không được hoàn toàn triển nở (épanoui): Hình ảnh người bắt chân chữ ngũ, tay phe phẩy chiếc quạt nằm dài trên tấm phản ngựa kê trước thềm nhà dinh Tham Tri Bộ Hình ở Huế, tay gác lên trán ngâm thơ với giọng hơi trầm dưới ánh hoàng hôn, có một cái gì buồn nản, tuy nhẹ nhàng không bi đát lắm nhưng thật thấm thía. Vì vậy có thể nói: thân phụ tôi không có lập trường chính trị nào, chỉ xem việc làm quan như một nghề sinh sống nên không vinh vang gì về cái quan chức hẩm hàm ấy, mà chỉ tự hào về học vấn và tư cách của con người mình trong đời sống riêng tư.Nhờ vậy, nói chung anh em tôi đều không ham phú quí vinh hoa, cái bả danh lợi trên chúng tôi! Tôi chỉ biết mỗi lần nhắc nhở đến tên tuổi các cụ Phan Bội Châu, Võ Bá Hạp, Huỳnh Thúc Kháng, than phụ tôi đều có thái độ cung kính. Thỉnh thoảng, cụ Huỳnh, cụ Võ cũng có lui tới nhà tôi đàm dạo chuyện trò, nhưng chắc rằng chỉ trên bính diện văn chương thi phú giữa các nhà khoa bảng. Dầu sao than phụ tôi cũng được cụ huỳnh , cụ Võ dành cho một phần thiện cảm và thong cảm một phần nào đó về việc làm quan, vì thấy rằng tuy làm quan nhưng than phụ tôi cũng không đến nỗi náo cho nên mấy cụ mới lui tới!
Trong đời làm quan, than phụ tôi đi dâu cũng được dân chúng có cảm tình; lại có tiếng thanh liêm cương trực, nên đường hoạn lộ cũng chậm. Một số đông quan lại triều đình Huế là học trò của người ở Quốc Tử Giám sau này đều vượt nhanh trên việc thăng quan tiến chức hơn người. Tôi nghĩ rằng về mặt chính trị thì thân phụ tôi ít quan tâm, và có lẽ do ảnh hưởng của ông câu là cụ Tham Lê ở Xuân Trì nên người chấp nhận triều nguyễn là chính thống. Làm quan là làm quan với triều Nguyễn, nên với ít nhiều ngụy tín, người cảm thấy tạm ổn lương tâm, nhưng cũng c1 ít nhiều chỗ uẩn khúc: vì dầu sao, người cũng bết rõ tư cách của Khải Định, Bảo Đại, ting trạng của triều đình Huế, quan lãi và bảo hộ Pháp thời đó.
Quả vậy mãi đến năm 1945, người mới tâm sự với tôi rằng: ‘Là người có ăn học, lúc thiếu thời thày cũng không phải không biết đền cái đau nhục ‘mất nước’; và các cụ Cách Mạng chí sĩ có ý khuyến dụ thày, nhưng một mặt thì thày thấy không thể thàng công, mặt khác thì biết mình là người thiếu đảm lược gan dạ, sợ không dám dây mình vào ‘đại sự’, chằng những không ích lợi gì mà còn có thể hại đến đại sự của các cụ, nên thày định từ chối. Còn ra làm quan có chăng cũng là cái nghề sinh nhai, miễn là đừng gây nên tội ác gì chỉ mong sống bình an lương thiện, nuôi vợ con. Dạy dỗ con cái cho nên người tốt là đủ’ Sau này có một người học trò cũ của thân phụ tôi cho tôi biết rằng cụ Lê Văn Huân là bạn đồng khoa hương với thân phụ tôi, và tình bạn giữa hai người khá sâu đậm, trong câu đối mừng cụ Lê đễ giải nguyên, tôi cũng không nhớ nguyên văn, nhưng dịch ra có đoạn rằng: “Biết tài anh, biết đức anh, nhưng chí anh vượt quá tầm của tôi”
Tôi nghĩ rằng qua mấy chữ ấy, thân phụ tôi đã tự nhận mình khiêm tốn không đủ can trường để đáp lại lời mời gọi của cụ Lê, và gửi lời cáo tạ, với tất cả sự kính trọng đối với một người mà mình tôn kính là hơn mình về mọi măt. Không rõ khi cụ Lê tuẫn tiết trong lao Hà Tĩnh, thân phụ tôi đã cảm nghĩ như thế nào, nhưng chắc là không khỏi đau lòng và không khỏi có vấn đề! Vì vậy năm 45, đôi khi trong các câu chuyện với những bạn hữu của người, người tự ví với Thúy Kiều. Có lẽ người đã không nhận chức gì trong chính phủ Trần Trọng Kim cũng như năm 54, người cũng không nhận lời mời tham gia ban chấp hành Liên Việt Trung Ương, vì cảm thấy mình, như chính lời người nói với một ông cụ bạn: ‘Nghĩ mình chẳng hổ mình sao, dám đem trần cấu dự vào bố kinh”.
Thật ra khi biết rõ thân phận ông quan Nam triều thời Bảo Đại, tôi cũng như các anh chị em tôi tuy có tự hào về mặt mình thuộc về một gia đình khoa bảng nho phong, nhưng không mấy ưa thích việc thân phụ tôi ra làm quan dưới thời Pháp thuộc. Mãi sau năm 1945, qua lời thân phụ tôi, tôi mới thấy rằng, chính thân phụ tôi cũng ít nhiều khổ tâm về việc ấy. Đến những năm về hưu, người có nghiêng về Phật giáo, nhưng chỉ nghiêng về mặt luân lý khuyến thiện tránh ác, trai giới, bớt sát sinh, hơn là về mặt siêu hình của Phật giáo. Nhưng cũng nhờ ảnh hưởng của Phật giáo mà người đã chấp nhận những gì thiệt thòi cho người và cho gia đình vào cuối đời. Người có tâm sự với tôi rằng: “Tuy suốt đời làm quan đã gắng liêm khiết, nhưng làm sao tránh được những sai lầm oan trái, nhất là trong vai trò làm quan xử án.” Cho nên người chấp nhận những gì là đau khổ xảy đến như là một đền tạ oan khiên mà mấy chục năm làm quan không thể nào tránh nổi. Trong thâm tâm, tôi vẫn tin rằng, tuy không có được phúc trực tiếp biết Đấng Cứu Thế, nhưng cũng trong mầu nhiệm Cứu Độ phổ quát của Thiên Chúa đầy lòng thương xót, thì tâm tình nửa Nho nửa Phật ấy của thân phụ tôi (lẽ tất nhiên ông tin là có Trời rồi) cũng là con đường Thiên Chúa dung để cho linh hồn người không đến nỗi phải hư mất đời đời. Và nếu người có tâm tình sám hối ấy trong những ngày cuối đời vô cùng đau khổ của người tại trại học tập năm 1953, chính là Hồng Ân Thiên Chúa ban cho, để thân phụ của tôi được những Hồng Ân Cứu Độ của Ngài.
Tóm lại, hình ảnh thân phụ tôi có nhiều nét khả ái, nhưng cũng gợi lên một cái gì đó bất túc, không hoàn hảo. Có lẽ chính cái giới hạn đó đã khiến tôi lớn lên, có hướng tìm một cái gì khác và hơn cái lý tưởng Nho giáo thời mạt vận, mang ít nét phong kiến cộng với nếp sống quan lại, địa chủ vùng quê trước Cách Mạng năm 1945. Có lẽ tôi có hoài vọng một thời Nho giáo Nghiêu Thuấn đã qua đi và không bao giờ có được nữa ở trần gian này! Có lẽ cũng vì vậy, không bao giờ tôi tin rằng cái vương đạo có thể thực hiện được trong lãnh vực chính trị trần thế. Cũng vì vậy mà sau khi đã chịu ảnh hưởng của cụ Phan Bội Châu về mặt độc lập dân tộc, ảnh hưởng thơ Tố Hữu về mặt công bằng xã hội và mãi sau này tư tưởng của Emmanuel Mounier, tư tưởng của các thông điệp về Giáo Hội của các vị Giáo Hoàng, tuy tôi có ít nhiều khao khát về độc lập, vế măt công bằng xã hội, nhưng tôi không bao giờ có nhiệt tình cách mạng, vì không bao giờ có lòng tin vào bất cứ một thuyết nào cả! Phải nhìn nhận rằng về mặt này tôi rất bi quan! Tôi chỉ có lòng kính mến những kẻ thất bại vì đấu tranh: Nhạc Phi, Nguyễn Trãi … và tôi cứ tự mình hỏi nếu họ thành công và có quyền lực thì họ có còn giữ được sự cao đẹp của lý tưởng ban đầu không? Và hình như tôi có xu hướng cho rằng mọi quyền bính đều làm hư con người. Kẻ cầm quyền khó mà tốt được! Tôi hoàn toàn đồng ý với câu: ‘Le pouvoir corrompt par essence’ (bản chất của quyền lực là làm hư con người). Như cụ Nguyễn Du có nói: Lạ gì cái thói quan nha! Quan bao giờ cũng vẫn là quan! Sau này tôi rất khâm phục và tán thành, và hiểu vì sao, Chúa Giêsu đã nhiều lần từ chối lời yêu cầu của dân chúng và môn đệ muốn Ngài lên làm vua! Sử sách có được mấy anh quân lương thần? Vì thế, từ thuở bé, tôi đã hướng về mặt văn hóa giáo dục hơn là về mặt sinh hoạt chính trị. Tôi tin và kính mến các nhà chính trị khi họ chưa thành công. Còn khi đã thành công rồi thì?… cho nên trong cái vốn liếng Nho học nơi tâm hồn tôi có lẽ hình ảnh Nhan Hồi là hấp dẫn đối với tôi, vả chăng chính cụ Khổng cũng chỉ là một ông thầy chứ đâu có phải là một ông quan! Như thế, nền tảng đầu tiên trong tâm hồn tôi là một khao khát đạo đức luân lý được gieo vào qua trung gian một vị danh nho thời mạt vận của Nho giáo, của một triều đại, một chính thể quân chủ, của một nền văn hoá cổ truyền, dưới sự thống trị của thực dân Pháp hùng cường nên còn lấp lửng với một nền văn hóa ngoại lai, cũng vừa là nền văn hóa hiện đại. Nền giáo dục ấy không phải là không có nhiều giá trị cao đẹp, nhưng nó vừa có những bất túc do bản chất, vừa có những khiếm khuyết suy thoái của thời mạt vận. Nếu ví tâm hồn con người như gồm nhiều lớp địa chất, thì lớp đầu tiên trong tâm hồn tôi là cái tàn tích của một nền văn hóa và một chính thể suy đồi. Vì vậy trong tôi vẫn có một cái u hoài, hoài cổ, ít hướng về tương lai của thời gian trần thế! Các học thuyết về sự tiến bộ ít hấp dẫn đối với tôi; Có lẽ vì từ tấm bé tôi đã sống trong bầu khí của một thế giới đang trên chặng cuối của sự diệt vong: Nho giáo, Triều Nguyễn, và chế độ quân chủ.
Còn mẹ tôi? Người là vợ kế của thân phụ tôi, sau khi bà đích mẫu qua đời. Bà đích mẫu có sáu người con: 3 trai, 3 gái. Bà cũng thuộc dòng dõi Nho giáo, thân phụ người cũng đậu cử nhân, làm học quan, anh ruột người cũng đậu tiến sĩ, và một người em trai của người cũng đậu cử nhân. Nghe kể lại thì người hiền lành, nhưng cũng có lẽ vì sức khỏe kém, nên công việc tề gia, người phần nào không phải là tay đảm đang, người mất sớm, lúc người chị cả tôi 16 tuổi và chị con út của người lên 4 tuổi. Mẹ tôi cũng thuộc một gia đình Nho học, khá giả về kinh tế ở làng Đức Nhuận huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An. Ông ngoại ruột của tôi đậu cử nhân, nhưng có lẽ nhờ gia đình khá giả nên không ra làm quan. Người mất sớm, lúc mẹ tôi lên 4 tuổi. Mẹ tôi có một người anh trai đậu tú tài Hán học, cũng không làm quan, quê mẹ tôi là vùng quê xanh tươi trên bờ sông Giang, một phụ lưu của sông Lam, đặc biệt là sản xuất trầu. Những vườn trầu trồng với kỹ thuật cao. Trồng từng luống, cây trầu leo lên những giàn nứa lớp lang, rất gọn gàng đẹp mắt. Bà ngoại tôi góa chồng lúc mới 30 tuổi, ở vậy nuôi con, là một người đàn bà rất dịu dàng, ăn nói nhỏ nhẹ, đi đứng khoan thai, đúng hình dạng một bà ngoại trong các tiểu thuyết viết về quê mẹ. Thường vào dịp nghỉ hè tôi về chơi quê ngoại vài tuần, một tháng, được bà ngoại, các cậu, các dì chiều chuộng, vui đùa với các anh chị em bên ngoại trong cảnh vườn êm ả bên giòng sông Giang trong mát, kỷ niệm toàn là êm đềm.
Mẹ tôi đương nhiên là một người đàn bà được giáo dục theo đúng mẫu mực Nho giáo thời xưa: Khuôn phép, cần kiệm, đoan trang, hết lòng vì chồng vì con, giúp chồng gầy dựng tài sản, dạy con rất khuôn phép để chúng tối nên người theo lý tưởng: họ giỏi, lương thiện và có địa vị trong làng ngoài xã hội. Mẹ tôi rất đảm đang, rất cần kiệm, làm gì cũng tính toán chu đáo về mọi mặt. Tuy không phải là kinh doanh to lớn nhưng cũng nhờ vào cần kiệm, dần dần người đã giúp thân phụ tôi gây dựng một tài sản tương đối khá so với vùng quê Nghệ Tĩnh. Ba ngôi nhà ngói tương đối lớn, vài sào vườn, khoảng 40 mẫu ta ruộng. Mẹ thuộc về một hình dạng đàn bà đoan trang mẫu mực cái gì cũng chín chắn, ít để tình cảm chế ngự, khá thông minh, và rất quân bình, ít khi tôi thấy người nóng giận, bi lụy ồn ào, ít khi la mắng, cũng ít khi khóc lóc kể lể! Người hy sinh vì con vì chồng, song ít biểu lộ tình cảm. Không nuông chiều con, nhưng cũng ít khi la mắng con lớn tiếng, hiền hoà nhưng chừng mực, hơi thiếu phần dịu dàng mà nặng phần đoan trang. Mẹ tôi là con người của bổn phận làm vợ, làm mẹ, có lẽ theo đúng hình ảnh Mạnh mẫu hơn là của người bình dân Việt Nam. Muốn mô tả mẹ tôi thì có lẽ hai tiếng Mẫu nghi đúng hơn Hiền mẫu. Vì thế, tương quan với con cái cũng như với bà con làng xóm rất ôn hòa nghiêm túc (có lẽ khó mà chê trách mẹ điều gì). Nhưng thiếu phần nào sự ấm áp dịu dàng, nặng bổn phận hơn là thân tình. Tôi cũng không hiểu vì đâu lại vậy, chứ các cậu các dì tôi thì có vẻ hào hoa phóng túng hơn, nhất là ông cậu cả của tôi, đúng là một tay hào hoa, thường nhắm rượu, hát ả đào, ít khi tưởng đến việc nhà. Tôi có phần nào giống các cậu và các dì hơn là giống mẹ, nhiều tình cảm, ít tính toán, hơi thiếu ý chí, phóng khoáng nếu không nói là phóng túng! Cuối cùng tôi nghĩ danh hiệu xứng với mẹ tôi nhất, có lẽ là “người đàn bà của bổn phận” đúng lý tưởng Nho giáo xưa.
Thế là đứng về mặt gia đình, bề ngoài mà xét tôi thuộc về một “danh gia, vọng tộc” trong cái xã hội nửa phong kiến, nửa thực dân tư sản, ở vùng quê xứ Nghệ trước cách mạng 45. Có thể nơi tương đối là tôi có phúc theo quan niệm Nho giáo trung bình: địa vị cao, danh tiếng tốt, có gia giáo, được kính nể, phần nào được sự yêu vì của mọi tầng lớp xã hội. Đời sống gia đình rất nề nếp trật tự, thuận hòa phép tắc. Dư luận hồi đó cho như vậy là có phúc! Và chúng tôi cũng được dạy dỗ rằng sở dĩ như vậy là nhờ ông bà ăn ở có phúc đức, và nếu chúng tôi cũng muốn cho con cháu mai sau cũng được như mình, thì chúng tôi cũng phải vun quén “cội phúc” bằng một cuộc đời “ăn ở cho có đức”. Suy cho cùng, căn bản đạo đức quy vào gia đình: thừa hưởng phúc ông bà, gia phong nề nếp, có địa vị có học thức có đức độ, thì phải cố gắng duy trì cho con cháu đời đời. Vì thế việc thờ phụng ông bà và lo nối dõi để hương khói mai sau, là việc tối quan trọng. Hàng năm, các kỳ lễ giỗ là dịp để bà con đoàn tụ, để một mặt tưởng nhớ công đức tổ tiên, một mặt giáo dục cho thấm nhuần đạo hiếu.
Lẽ dĩ nhiên trên phúc tổ có dạy đến ơn trời: nhưng ơn trời được biểu hiện qua trung gian phúc tổ. Ngoài xã hội thì qua trung gian ơn vua và trung gian các vị linh thần, hiển thánh mà vị gần gũi nhất là vị Thần Hoàng thờ tại đình làng. Tại nguyên quán tôi cũng như tại cư quán, vị Thành Hoàng đều là công thần của triều Lê được nhà vua phong thần. Ngay cả vị tổ của chi họ NGUYỄN KHẮC của chúng tôi ở đất Nghệ cũng được phong thần, vì là một hiền thần của triều đình nhà Lê.

Về tâm tình tôn giáo, thì chung chung có ý niệm về một ông trời giàu đức hiếu sinh, nhưng được hình dung như một Thượng Đế uy quyền ban bố ơn lành cho muôn loài, đền ơn trả oán tùy theo đời sống đạo đức theo khuôn mẫu Nho giáo, tâm tình đó được tài bồi và thể hiện qua việc để đức cho con cháu sau khi đã được thừa hưởng đức ông bà. Theo lý tưởng Nho giáo thì có hai mặt: Hiếu và Trung, nhưng có lẽ vì ở vào thời Triều Nguyễn, triều đình chỉ là hư vị bù nhìn, nên việc giáo dục gia đình tôi hình như chỉ rút gọn vào “đạo hiếu”, và một thứ phúc đức “ăn ở tốt lành” qua trung gian việc thừa kế gia phong, lưu truyền ơn đức hơn là một đức bác ái thuần túy vô cầu. Nền đạo đức ấy không có gì là cao siêu, nhưng khá vững chắc để giúp chúng tôi biết cách xử thế theo một sự lương thiện: Phúc đức vừa phải, đôn hậu quân bình, không có những hy sinh tuyệt vời nhưng để giữ vững lương tâm tránh xa điều bạc ác; và cũng biết mở rộng chút ít cõi lòng đối với những kẻ thua thiệt hơn mình, làm ơn làm phúc một cách vừa phải!
Tuy làm quan, trên nguyên tắc là phải hết lòng thờ vua, dạy con cháu đạo trung quân; nhưng thân phụ tôi không bao giờ dạy chúng tôi về mặt ấy, và cũng không bao giờ nói đến chữ “ái quốc”. Có lẽ hai chữ “hiếu trung”, người đành để chữ “trung” vào vòng ngoặc mà chỉ chăm chú vào chữ “hiếu”. Người làm việc quan với tinh thần một công chức có lương tâm, chứ không phải với tâm hồn kẻ trung thần. Cũng chính vì thế mà lúc anh cả tôi đậu tú tài xong, mẹ tôi có ý cho anh học luật để nối nghiệp làm quan, nhưng chính thân phụ tôi lại không có ý kiến khi anh xin học vào nghành y khoa. Cũng chính vì vậy mà năm 45, người đã nhẹ nhàng thanh thản và chân thành tham gia tích cực mọi hoạt động của Liên Việt, như người có nói: “Chính Đức Hoàng Thượng xuống chiếu thoái vị trao quyền cho chính phủ cách mạng, chứ không xuống chiếu cần Vương”.

Nói chung, thuở thiếu thời của tôi sung sướng. Tôi lại được may mắn có ít nhiều thông minh, tính tình được xem là ngoan ngoãn hiền lành, ở nhà được cha mẹ, anh chị, chú bác, cô dì, cậu mợ thương mến, ở tại trường thì học giỏi được thầy mến bạn yêu, xóm làng cũng dành cho một sự kính nể mến yêu nào đó. Thật vậy, gia đình tôi tuy có địa vị, nhưng được xem như là một “nhà nho” hơn là một “nhà quan”, nên không bị xem như là hách dịch, quan liêu, mà được xem là “nề nếp gia phong”. Bạn học của tôi phần lớn là con em của những gia đình bình dân, và riêng tôi hình như có xu hướng thân thiện với các bạn con nhà bình dân hơn là những con nhà quyền quý (trừ con của các bạn khoa bảng với thân phụ tôi). Tuy trong nhà có kẻ hầu người hạ khá đông; vừa lính lệ của nhà nước vừa người làm mướn làm thuê; nhưng thân phụ tôi dạy chúng tôi phải biết kính trọng họ; nếu lỡ ra chúng tôi có lời nói hay cử chỉ hỗn láo đối với họ, thì người quở mắng rất nghiêm. Riêng tôi cũng như các anh chị tôi đều chịu ảnh hưởng bài thơ của Tố Hữu về anh Phước đi ở bị đối xử tàn tệ, nên chúng tôi cư xử với kẻ giúp việc trong nhà tương đối tốt và cũng được họ yêu mến; sau này khi gặp lại nhau, ai nấy đều tay bắt mặt mừng nhắc lại kỷ niệm cũ rất vui vẻ! Thậm chí có người vẫn xem gia đình tôi như là ân nhân của họ.

2. CÂU HỎI VỀ GIẢI THOÁT

Nhìn chung gia đình tôi là gia đình có hạnh phúc. Thiếu thời của tôi như được tắm trong mùa xuân ấm áp tươi vui; nhưng trong chiều sâu, có những bóng tối không phải là không in dấu trong tâm hồn tôi.

Thứ nhất là gia đình tôi đã có bóng của “sự chết” len vào... Đích mẫu tôi mất rồi, mẹ tôi mới về với thân phụ tôi; tôi không được mục kích cái chết của người, nhưng qua ngày giỗ của người, tôi như cảm thông nỗi buồn của anh chị tôi là những người mồ côi mẹ! Nhất là khi nghe bà cô của thân phụ tôi (bà cô này là quả phụ không con nên ở với gia đình tôi) kể lại sự đau khổ của người chị, con gái của đích mẫu tôi mất mẹ lúc 4 tuổi, tôi cảm thấy buồn lắm! Khi biết suy nghĩ chút ít, nghe những chuyện cổ tích dân gian về mẹ ghẻ con chồng, tự nhiên tôi có cảm tưởng gia đình mình như vậy là không hạnh phúc vẹn toàn; và các anh chị con mẹ trước, thì mình sẽ như con Cám trong truyện cổ tích! Thành thử vì thương các anh các chị cũng có, vì sợ quả báo cũng có, tôi tự nhiên muốn đền bù trước bằng cách là dành cho các anh chị một tình thương nhiều hơn. Cũng may mẹ tôi lại được tiếng là người dì ghẻ tốt; nhưng lẽ tất nhiên tình cảm mẹ con làm sao mà có được! (sau này với thời gian nhất là năm 1945, những biến cố trong gia đình làm cho mẹ tôi và các anh chị thêm phần tình cảm gắn bó, cùng chia sẻ ngọt bùi, cùng chịu những đau khổ, nên gần như là mẹ con ruột thịt thật). Phải nói mẹ tôi là người có ý thức bổn phận, đã chu toàn đúng vai trò “kế mẫu”! Cho nên, giữa tôi và các anh chị con mẹ trước, chẳng những không có sự tranh chấp, mà lại rất thương yêu nhau. Cũng vì vậy mà tôi như có phần chung chia cái đau khổ “mồ côi” mẹ của các anh chị tôi. Mỗi lần đến ngày kỵ đích mẫu, nhìn lên di ảnh của người, tuy tôi không phải là con, mà như cũng cùng các anh chị tôi, thông cảm một nỗi niềm bùi ngùi xót xa làm sao ấy!
Thế rồi, bà chị thứ hai của tôi đính hôn với một người sinh viên du học tại Pháp, thuộc dạng ưu tú nhất trong giới tân học thời ấy, bỗng nhiên nhận được thư xin từ hôn vì lý do du học lâu dài, không dám bắt chị tôi chờ đợi...
Tôi còn nhớ hình ảnh chị tôi đau khổ phát khùng lên khi nhận được tin ấy! Rồi tiếp đến bà chị cả của tôi: Đã lập gia đình rồi lại ly dị, tôi vẫn còn nhớ bầu không khí nặng nề ngột ngạt trong lúc chị ấy trở về lại sống trong gia đình. Rồi tới người anh thứ hai của tôi, không may sau một trận ốm nặng, tính tình trở nên ương dở, chẳng chịu học hành, sinh ra chơi bời lêu lổng. Thân phụ tôi phải dùng đến những biện pháp giáo dục mạnh để giáo dục, nhưng kết quả không là bao! Thật ra có nông nỗi ấy là vì anh bị ốm, thần kinh bị lệch lạc, học hành dở dang, nên sinh ra bất đắc chí, chứ vốn không phải là người xấu! (sau này lập gia đình, và sự đột biến của cách mạng 45 như một kích thích mạnh mẽ giúp anh tìm lại được sự quân bình tâm lý, anh trở lại bình thường tham gia công việc xã hội rất tích cực. Anh mất sớm và những năm cuối đời anh, anh được mọi người thương mến).
Rồi như trên kia đã nói, chính cái thân phận làm quan thời Bảo Đại cũng không phải là cái gì vinh dự cho lắm. Trên nét mặt thân phụ tôi phảng phất một cái gì như u uất, giọng ngâm thơ trầm buồn của thành nội Huế, không phải không có ảnh hưởng trên tâm hồn tôi, và cái thân phận ấy tôi bắt đầu thấy rõ, sau cái ngày tôi được cụ Phan Bội Châu cho một bài học khai tâm về vấn đề mất nước: năm tôi học lớp 3 tiểu học, thầy mẹ gửi tôi trọ tại nhà anh T.t.T là một người anh họ con cô ruột tôi, làm Hiệu trưởng trường Tiểu học huyện Hương Trà (Bao Vinh), cách Huế độ 4 cây số. Anh T.t.T ở một mái nhà tranh cất ở một góc vườn của cụ Võ Bá Hạp, là người bạn đồng chí cách mạng của cụ Phan. Thỉnh thoảng cụ Phan đến nhà cụ Võ đàm đạo. Hồi ấy thì tôi mới 12 tuổi. Một hôm đang cùng các bạn chơi dưới bóng mát cây đào tiên (miền Nam gọi là cây mận), thì cụ Phan và cụ Võ đi dạo ngang qua. Bỗng cụ Võ gọi tôi tới. Không rõ cụ đã nói gì với cụ Phan– một cụ già có oai phong mà lại vô cùng đôn hậu, với chùm râu bạc phất phơ, với bộ áo nâu có cánh tay rộng– mà cụ đã cúi xuống xoa đầu tôi mà hỏi mấy câu tôi không còn nhớ rõ, trừ có một câu như đã in vào tâm hồn tôi không bao giờ phai nhạt; cụ ôn tồn hỏi:
– Con có biết nước ta tên là gì không?
Chẳng hiểu tại sao cụ Phan lại hỏi tôi câu hỏi ấy?! Phải chăng cụ Võ giới thiệu với cụ Phan rằng tôi là con trai của thân phụ tôi, một vị Hoàng giáp đất Nghệ Tĩnh hiện đang làm quan phủ doãn (tỉnh trưởng) Thừa Thiên – nên cụ hỏi thử xem tôi có đến nỗi mất gốc chăng! May sao tôi chưa học câu: “Nos ancêtres sont des Gaulois” mà trái lại rất ham và rất thuộc môn sử Việt Nam, nên tôi trả lời đúng: “Dạ, bẩm là Việt Nam”. Thế rồi cụ Phan và cụ Võ cho phép tôi trở lại chơi với các bạn như trước. Lẽ tất nhiên, được cụ Võ gọi riêng mình tôi đến chào cụ Phan, được cụ Phan xoa đầu, hỏi chuyện, một đứa bé như tôi lúc ấy, tôi đã biết ham học Sử Ký Việt Nam, biết nước ta bị Pháp đô hộ, cũng đã nghe chuyện kể các cuộc khởi nghĩa của cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học, Xô Viết Nghệ Tĩnh; và tôi thuộc những bài lịch sử về Trưng Vương, Triệu Ẩu, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung; đồng thời cũng đọc các truyện thời sự, các truyện Tàu như Đông Châu, Tam Quốc, Nhạc Phi, nên tôi cũng có một niềm tủi nhục nào đó về số phận của một người dân mất nước và cũng nghĩ tới vấn đề làm sao mà được cái hạnh phúc vinh dự làm người dân một nước độc lập. Nhưng chỉ sau khi được cụ Phan dạy cho bài học đầu tiên, dạy chỉ có một câu, và lại là một câu hỏi, thì lòng yêu nước mới thật sự được khơi dậy trong tôi, và vấn đề “độc lập dân tộc” mới được đặt ra cho tôi.
Vì hãy còn thơ ấu, tôi chưa bao giờ tự đặt câu hỏi rồi sẽ làm gì cho độc lập nước nhà, nhưng tôi rất mến phục các nhà Cách mạng, và hình như đã có nhiều ước muốn được xứng đáng là người của đất Nghệ Tĩnh vốn có truyền thống cách mạng. Tuy nhiên đó chỉ là một cảm tình vậy thôi chứ chưa bao giờ thúc đẩy tôi đi tìm một con đường hoạt động. Nói đúng hơn, câu hỏi của cụ Phan đã gieo vào lòng tôi ý thức về nước nhà và tình tự dân tộc, hơn là một lòng yêu nước cao độ tìm đường cứu nước. Vả lại, lúc ấy cho đến năm 45, cố gắng duy nhất của tôi là ham học, học sao cho thật giỏi kẻo hổ danh là con nhà khoa bảng, nhờ vậy kết quả học của tôi thường là cao: môn nào cũng khá, nhưng nhất là môn luận (nay gọi là văn). Tôi bắt đầu có lòng yêu văn chương, đọc tiểu thuyết, thơ cũ cũng như học thuộc lòng nhiều đoạn của Kiều, Cung Oán, Chinh Phụ, nhiều bài thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Tản Đà, Thế Lữ, Thanh Tịnh, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Chế Lan Viên. Tôi cũng rất thích và thuộc nhiều câu ca dao tục ngữ. Nhưng ảnh hưởng sâu đậm nhất trong tâm hồn tôi là Kiều. Và tâm hồn tôi thường bị xúc động mãnh liệt bởi những nhân vật bi thương: Khuất Nguyên, Kinh Kha, Nhạc Phi (nhất là Nhạc Phi), Nguyễn Trãi và tất cả những nhà Cách mạng Việt Nam đã thất bại: từ cụ Phan Đình Phùng cho đến Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thị Minh Khai! Tôi cũng rung cảm bởi những tiểu thuyết kể những mối tình dang dở. Cho nên, mặc dầu hoàn cảnh gia đình tương đối khá hạnh phúc và chưa đặt hẳn vấn đề “mất nước” một cách sâu xa, tâm hồn tôi đã sớm cảm xúc với những tình tự bi ai, sớm chịu ảnh hưởng những tư tưởng bi quan về nhân sinh. Tôi cứ nghiền ngẫm luôn luôn đoạn “Gẫm nhân sự cớ chi ra thế...!” trong Cung Oán, và mấy chữ “bạc mệnh”, “đoạn trường” như in sâu vào tận đáy tâm hồn! Đứa trẻ mới mười mấy tuổi đầu đã khóc vùi trước cái chết của Nhạc Phi, trước mối tình dang dở của Lan và Điệp trong “Tắt Lửa Lòng” và đã coi nhân vật Thúy Kiều như nhân vật tiêu biểu cho kiếp người nói chung. Thành ra, tuy gia đình tôi theo Phật giáo, tư tưởng- hay đúng hơn- cảm thức “đời là bể khổ”, là mộng ảo, đã sớm nhen nhúm trong lòng tôi. Vì thế, tuy có ý thức dân tộc, có biết cái nhục mất nước, có ước muốn được làm dân một nước độc lập, có biết cảm xúc trước cái cảnh nghèo khó của lớp người bị xã hội đè bẹp, tôi không có sự phản kháng Cách mạng, mà thiên về một sự giải thoát toàn diện triệt căn và từ thuở bé, hình như lý tưởng tu hành, một cuộc đời tịnh tu đã có rất nhiều hấp dẫn đối với tôi. Tôi chỉ có một đam mê là “ham học cho giỏi”, ham đọc tiểu thuyết, ham viết văn hay; còn ngoài ra, hình như không có các thị dục khác. Nhưng sâu thẳm nhất thì Kiều đã nêu lên châm ngôn cho tôi là: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” và “Tu là cội phúc, tình là dây oan”; và hình ảnh các vị sư đã thoát khỏi lụy trần ai vẫn hấp dẫn tôi hơn là hình ảnh các vị anh hùng cái thế, các nhà bác học văn tài.
Tôi còn nhớ một hình ảnh mà gần một nửa thế kỷ trôi qua vẫn không mờ nhạt, mà có lẽ càng ngày càng đậm nét trong ký ức qua bao thăng trầm của cuộc đời tôi : Năm ấy tôi 11 tuổi, thân phụ tôi làm tuần vũ (tỉnh trưởng) tỉnh Khánh Hoà, gia dình tôi lúc ấy có thể nói là vào lúc phát dạt nhất. Tuy gia đình tôi không theo Phật giáo, nhưng lúc ấy mẹ tôi có quen một số bà bạn có thờ Phật, nên đôi khi cũng có lên chùa. Hôm ấy là rằm tháng bảy, mẹ tôi dẫn tôi lên chùa vào chập tối : tôi không nhớ rõ là chùa nào ở Thành (?) (nơi các quan Nam triều ở). Vì lối vào cổng chính quá đông, nên mẹ con tôi dược dẫn qua một nghĩa địa để vào chùa bằng một lối tắt vào cửa bên hông chùa. Cái âm u ghê rợn của một nghĩa địa vào buổi chập tối đang làm tôi sự hãi, thì chỉ bước qua cánh cửa hẹp đi vào ngôi chánh điện, trong cảnh huy hoàng xán lạn trang nghiêm trầm tĩnh. Một vị sư trẻ đang chăm chú gõ mõ đọc kinh trước bàn thờ Phật đầy ánh sáng hương hoa - thật nào có khác gì thoát địa ngục vào nơi cực lạc! hình như từ đó, mẫu người lý tưởng đối với tôi là người tu hành, đạo sĩ, chứ không phải là quân tử, anh hùng hay vĩ nhân theo cái nhìn thường gọi là thế tục.
Tuy vẫn ăn học chơi đùa, mà nhất là ham học, nhưng hình ảnh nhà sư điềm đạm, an nhiên tụng kinh niệm Phật như đã in sâu vào hồn tôi. Và từ cái hình ảnh ít nhiều u hoài của vị đại nho thời Nho mạt phải bó mình làm quan cho một Triều đại suy vong dưới ách đô hộ Pháp - là thân phụ tôi; thân phận mồ côi mẹ của các anh chị tôi, nỗi buồn của hai người chị tôi: một phải ly dị với chồng, một lại bị người hôn phu từ hôn; rồi nỗi nhục mất nước, sự thất bại của các phong trào Cách mạng, cuộc đời khốn khổ của lớp nhân dân bị thua kém về mặt xã hội, những nhân vật có kiếp sống bi ai - có thực trong lịch sử cũng như hư cấu trong tiểu thuyết: Tất cả như đúc kết lại trong bốn chữ “đời là bể khổ” mà Đoạn Trường Tân Thanh của Thúy Kiều qua thiên tài Nguyễn Du đã thâm nhập tâm hồn tôi từ tấm bé! Mất mẹ, mất nước, thất tình, nghèo khổ, oan khiên, tủi nhục: tất cả chỉ là hình thức của “cái khổ” là bản chất của nhân sinh đã gieo mầm rất sớm vào tâm hồn tôi, qua một vài hình ảnh của những người, những nhân vật có thật cũng như hư cấu qua văn chương.
Như trên đã nói các tầng địa chất tâm lý của tôi: tầng thứ nhất là Nho giáo thời suy tàn, tầng thứ hai là một thứ tâm thức cảm tính nhuốm màu Phật giáo có tính cách văn chương, pha lẫn ít nhiều lãng mạn của văn chương Việt Nam sau năm l930 và có lẽ phảng phất ít nhiều Lão giáo theo kiểu Đào Tiềm, kiểu Từ Thức lạc động Phi Lai.
Tầng thứ ba là: sau cái mầm được cụ Phan Bội Châu gieo xuống qua câu hỏi về tên Nước, tình tự dân tộc được tiếp nối bởi ảnh hưởng của một người bạn lúc ấy - lúc tôi học lớp nhất, đó là anh Đinh Nho Liêm. Anh Liêm người làng Gôi Mỹ, nhà rất nghèo, học rất giỏi, giỏi hơn tôi nhiều. Tôi với anh Liêm rất thân nhau. Anh là người đã làm cho tình tự dân tộc càng thêm sâu đậm trong tâm hồn tôi. Đồng thời anh cũng là người gieo vào tâm hồn tôi ý thức về “công bằng xã hội”. Tuy nhiên, giữa tôi và anh Liêm có một điểm khác nhau, vì anh Liêm thiên hẳn về đường lối đấu tranh giai cấp theo chủ nghĩa Cộng Sản; còn tôi, thì có lẽ quá thấm nhuần về quan niệm từ bi, vô vi, ẩn dật, hướng về tôn giáo lại ngại ngùng trước bạo lực, trước đấu tranh (đó là một vấn đề thuộc tâm tính caractère). Vì thế tuy rất mến nhau, tôi đã không trở thành đồng chí với anh Liêm, mặc dầu có thể nói chúng tôi là hai bạn đồng tâm về vấn đề “dân tộc” cũng như vấn đề “Xã hội”. Anh Liêm là người đã giới thiệu thơ Tố Hữu cho tôi. Chủ nghĩa Cộng sản không phải không có nhiều hấp dẫn đối với tôi, là một người vốn mong ước một xã hội công bằng, và không lấy gì làm thích cho lắm cái địa vị con địa chủ (mỗi lần phải đi coi gặt tức là đi xem tá điền gặt lúa để thu tô, tôi rất khổ tâm), nhưng vì tâm tính sợ bạo động của tôi, tôi tuy không phải là có gì chống đối với lý tưởng cộng sản, nhưng về mặt cảm tính, tôi thấy mình không hợp với đường lối đâu tranh bạo lực. Cho nên có thể nói tôi không chống cũng không theo, mà có thái độ đứng ngoài với ít nhiều vừa mến vừa sợ, vừa kính phục vừa ngần ngại! Thuở ấy, tôi tách rời vấn đề độc lập dân tộc với vấn đề đấu tranh giai cấp. Tôi nghĩ rằng hãy nói chuyện độc lập đã, độc lập rồi hẵng hay! Và phần nào tôi nghĩ rằng đặt nặng vấn đề giai cấp ra sẽ gây chia rẽ, có thể không lợi cho việc đoàn kết đấu tranh giành độc lập. Tôi có cảm tưởng anh Liêm lúc đó cũng không thấy rõ ràng: muốn dành độc lập thì chỉ có con đường Cộng sản, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói trong bài người trình bày lý do vì sao người chọn gia nhập vào đệ tam quốc tế. thật ra, cả đến năm 45 và 54 tôi cũng không thấy điều đó, mãi cho đến năm 75 tôi mới được đọc bài nói trên của Hồ Chủ Tịch. Nhiều lúc tôi bâng khuâng tự hỏi: Nếu năm 38 mà anh Liêm chỉ cho tôi thấy rõ điều Hồ Chủ Tịch đã trực giác nhận thức lúc người gia nhập đệ tam quốc tế thì e có lẽ tôi đã có suy nghĩ khác, và cuộc đời của tôi đã khác rồi cũng nên? Nhưng đó là chỉ nói giả sử vậy thôi, chứ thực ra, như đã nói trên: Từ tấm bé, hình ảnh nhà sư, khung cảnh đời sống các chùa đã có sức hấp dẫn trên tâm hồn tôi, tuy chưa có dịp bộc lộ triển nở.
Dầu sao thì ba tầng lâm lý trên chỉ là các lớp phù sa đọng lại trong tâm thức, rồi nằm yên trong chiều sâu vô thức, chứ không có tác động gì . Về cuộc sống ý thức thì tôi vẫn là một em bé học giỏi, ngoan ngoãn: ở nhà thì hiếu đễ, ở trường, thì chăm chỉ hiền hòa, thế thôi. Sau năm 1938, đỗ tiểu học xong, anh Liêm vào trường Quốc học Vinh, tôi vào trường Thiên Hựu ở Huế, thỉnh thoảng thư từ trao đổi, dịp nghỉ học về quê đi lại rất thân tình, và cho đến năm 1943 anh Liêm có vào Huế học lớp cấp I tú tài trường Khải Định mấy tháng, chúng tôi vẫn thân nhau; nhưng anh Liêm không bao giờ đề cập với tôi về việc tham gia hoạt động chính trị cả! Cho nên từ năm 1938 đến năm 1945, tuy có nhiều thao thức về dân tộc, thỉnh thoảng cũng được khơi dậy như phong trào đón tiếp Godard, tin tức các vụ khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương, Phố Châu, nhưng chỉ như những âm vang từ xa, chứ không có dịp trở thành những thôi thúc đi đến chỗ tham gia một phong trào cụ thể nào cả! Tự bản thân không tìm tòi mà cũng không có ai gợi ý kết nạp. Vả lại, lúc ấy tôi chịu ảnh hưởng của một số thầy học ở Huế như các ông Đào Duy Anh, Tạ Quang Bửu. Ý hướng cũng muốn theo cách sống của các vị ấy: Cố gắng học cho xong rồi sinh hoạt nghề tự do, nhất là dạy học tư. Riêng tôi thì tâm niệm rằng cố gắng cho đỗ tú tài, ra Hà Nội học đại học sẽ gặp được các bậc đàn anh ngoài ấy mà ở Huế chúng tôi có nghe tiếng - Như các anh Nguyễn Đình Thi, Lưu Hữu Phước, Lê Khắc Thiền, Đặng Ngọc Tốt vv ... rồi sẽ hay. Ở Huế chỉ có ông Tạ Quang Bửu là bậc đàn anh mà chúng tôi có lòng ngưỡng mộ, nhưng chỉ qua sự hoạt động hướng đạo gián tiếp đề cập đến vấn đề chính trị, hình như ông Bửu lúc ấy vẫn chưa có đường lối rõ rệt hoặc còn nghi ngại, nên không thấy ông đặt vấn đề hoạt động một cách cụ thể. Đến lúc ông Bửu tham gia chính Phủ Trần Trọng Kim rồi lại tham gia cách mạng tháng tám, thì tôi không còn ở Huế nữa, nên chẳng rõ ra sao.
Nói chung từ năm 1938 đến năm 1945*, về căn bản, tôi chỉ là một học sinh trung học dốc lòng vào việc học có ít nhiều thao thức về dân tộc, ít nhiều băn khoăn về độc lập; nhưng tạm gác chờ lúc ra Hà Nội thành sinh viên, hoặc khi học xong phải ra đời mới thực sự đặt vấn đề, nhưng đảo chính Nhật đã đến đưa tôi vào một chặng đường khác của cuộc đời, tôi sẽ trình bày sau, nay xin trở lại năm 1938.

____
Phụ chú: *Thực ra năm 1942, ở Huế có phong trào Ngô Đình Diệm và Cường Để, tôi có được một người bạn gợi ý tham gia, với khả năng gởi vượt biên sang Nhật du học; nhưng tuy có cảm tình với cá nhân hai ông Cường Để và Ngô Đình Diệm, tôi không mấy ưa hình ảnh tàn bạo và cả các hiến binh Nhật, nên đã khước từ (vả lại chủ yếu là ra Hà Nội học đại học, rồi hẵng hay)

3. HẠT GIỐNG TIN MỪNG

Thời trẻ, tôi luôn luôn thay đổi trường học, tùy theo sự thuyên chuyển của thân phụ tôi về mặt công vụ; Chủ yếu đi về giữa Huế - Khánh Hòa - Huế. Năm 1936, tôi theo trọ học nhà anh T.T.T (về trường tiểu học Thịnh Xá) thuyên chuyển ra dạy học ở Vinh. Năm 1937, tôi lại theo anh TTT về ở trường học Thịnh Xá (ở đó tôi gặp anh Đinh Nho Liêm), cuối niên học 37 - 38, đỗ tiểu học xong, tôi lại trở về với gia đình tại Huế để thi vào trường Quốc học Huế.

Kỳ thi hạch vào trường quốc học Huế, tôi bị hỏng! Có lẽ tôi bị loại điểm ngay từ môn chính tả, bởi vì, tôi tuy học giỏi, nhưng về môn chính tả thì tôi rất kém: cứ lầm lẫn số ít số nhiều, giống đực giống cái ... Mà thời ấy các kỳ thi lại lấy điểm chính tả làm điểm loại, hễ môn ấy mà bị 5 lỗi là bị loại không được chấm điểm các môn khác (dù các bài ấy có khá cũng không được chấm luôn!). Thế là mẹ tôi quyết định cho tôi theo học chương trình Pháp tại trường Thiên Hựu ở Huế, chứ không vào các trường tư thục theo chương trình của Đông Dương. Với cái kém chính tả ấy, tôi mà theo chương trình trung học Dông Dương thì sẽ khó lòng qua cái ải kỳ thi trung học Pháp Việt với điểm loại do môn chính tả. Còn theo chương trình Pháp thì học từ lớp 6 đến lớp I, thi tú tài bán phần Pháp không có môn chính tả, tôi có thể hy vọng đỗ dễ dàng. Không hiểu vì có ai biết rõ nên đã khuyên mẹ tôi như vậy, hay chính mẹ tôi muốn cho con mình học tại trường trung học tư thục có giá nhất ở Huế thời ấy là trường Thiên Hựu.

Dầu sao cái quyết định của mẹ tôi cho tôi thi vào trường Thiên Hựu quả là do “Thiên Hựu” (Providence: sự quan phòng, sự an bài xếp đặt của Thiên Chúa). Vì có vậy ngày nay mới có tập hồi ký này. Có vậy tôi mới biết Chúa Giêsu, mới trở thành tín hữu của Ngài. Mà như vậy thì việc tôi thi hỏng vào trường Quốc học ở Huế là cơ hội cho tôi được cái Hồng Phúc trên mọi ơn phúc là “phúc được biết Chúa Giêsu” là điều kiện, là căn bản của sự sống đời đời! Thi hỏng là cái cơ hội được phúc muôn đời! Viết đến đây... tôi muốn qùy gối im lặng thật lâu để thờ lạy THÁNH Ý NHIỆM MẦU thăm thẳm của THIÊN CHÚA, với lòng cảm tạ vô cùng, kinh ngạc vô cùng.

Suy cho hết lẽ thì hình như đó là khởi dầu MẦU NHIỆM THẬP GIÁ đối với tôi: Một sự cố xem ra bề ngoài là “thất bại” lại là cơ may cho tôi bước vào con đường cứu rỗi muôn đời! Từ việc này, tôi muốn được phép rút ra một kết luận: “Thất bại ở đời này, chưa hẳn là vô phúc!”. Và nếu không phải tội mình gây ra thì chắc chắn là ĐẠI HỒNG PHÚC. Phải chăng vì thế mà đã có câu ca vịnh: “AVE CRUX SPES UNICA”: Chào mừng CÂY THẬP GIÁ, nguồn Cậy trông duy nhất! Cũng xin nói ngay rằng trong những ngày bi đát nhất của đời tôi sau này, chính chân lý ấy là ánh Sáng soi đường cho tôi, khuyến khích nâng đỡ tôi làm cho tôi không bao giờ tuyệt vọng.
Dù có xảy ra biến cố gì, dù cho trời long đất lở cũng vậy thôi! Có thể về tâm lý tự nhiên, tôi chung chia những nỗi lo buồn, sầu não, sợ hãi, băn khoăn, chán nản, mệt nhọc... với anh em nhân loại; nhưng tuyệt vọng thì nhất định không bao giờ! Việc tôi thi hỏng là một cái gì rất đau đớn cho tôi, vì trừ ông anh thứ hai của tôi ra (do đau ốm nên đã có hỏng thi), thì trong gia đình tôi hễ thi là đậu và đậu rất cao, không thủ khoa thì cũng vòng thứ năm là cùng. Tôi là người trong gia đình thi hỏng lần đầu vì dốt môn chính tả! lúc ấy tôi thấy khổ tâm và nhục lắm! Có phải chăng chỉ một việc ấy đã chứa đựng mầm mống cho bài học “thập giá” sau này? Thế nhưng rồi từ đó đến ngày tôi đỗ tú tài I năm 1944, tôi lại tiếp tục là một học trò giỏi, ngoan... Việc tôi học một trường Pháp trong trường tư thục do các Linh mục hội Thừa sai Paris điều khiển, là một sự cố có tính cách quyết định lên cuộc đời tôi: vì căn bản nền học vấn thực sự của tôi, chính là nền học vấn được giảng dạy trong sáu năm trời, từ năm 38 - 44 tại trường Thiên Hựu. Đó là nền học vấn nhân văn Tây Phương được giảng dạy trong một tinh thần Công giáo. Có thể gói ghém vào hai phạm trù cốt tủy: Một nền nhân bản từ văn minh Hy Lạp - La Mã, đã được nhuần nhuyễn với một nền Thiện Căn của Công Giáo, kết tinh là nền văn chương thế kỷ 17 với Bossuet, Descartes, Pascal, Racine. Hạt nhân kiến thức của tôi là văn học thế kỷ 17 mà trọng tâm là Pascal một thiên tài về khoa học văn chương, tư tưởng, một tín hữu Công Giáo có đời sống thần hiệp (mystique) khá cao thâm. Sở dĩ như vậy, vì tuy là con nhà Nho học, nhưng tôi không được học chữ Hán và không học tiếp Nho giáo, mà chỉ chịu một nền giáo dục gia đình theo khuôn khổ Nho giáo cổ truyền. Về Phật giáo, Lão giáo cũng vậy, tôi không bao giờ được thực sự học hai nền triết học ấy cả, chỉ chịu ảnh hưởng qua văn chương phong tục mà thôi. Còn học vấn thực sự của tôi là nền văn học Pháp như tôi đã nói ở trên. Tâm trí tôi đã được nhuần nhuyễn văn hoá ấy từ lúc 13 tuổi đến 20 tuổi là những năm quyết định về mặt tư tưởng của một con người. Ở đó, vị thày chính yếu là Pascal. Về sau, tôi có được biết nhiều tư tưởng gia đông tây kim cổ nhưng tôi vẫn thấy Pascal là bậc thầy tư tưởng của tôi về triết học tự nhiên cũng như về tư tưởng và cảm thức tôn giáo (tôi không dùng chữ Thần Học, vì Pascal không phải là nhà thần học chuyên môn, mà tôi cũng không được học chuyên khoa thần học).

Tôi nói rằng có hỏng thi hạch vào Quốc học Huế, tôi mới vào học Thiên Hựu, và nhờ đó mới được hồng phúc trở nên tín hữu Công giáo, nhưng buổi ấy thì chẳng ai ngờ, ngay cả chính tôi cũng không ngờ nổi! Mãi đến nay đã trên 30 năm là tín hữu Công giáo, mà nhiều lúc hồi tưởng lại tôi vẫn thấy thật không ngờ! ơn tôi được hưởng quả là ơn Thiên Chúa ban cho vượt qua mọi sự có thể ngờ được! Cho nên hiện nay gia đình, họ hàng, bạn bè cũ của tôi vẫn lấy làm ngạc nhiên rằng làm sao như tôi mà thành người tín hữu Công giáo được! Không ngờ được đến nỗi tới nay vẫn có người thắc mắc nghi vấn không biết tôi có thực tâm là tín hữu Công giáo không??! hay là tôi bị khống chế, hay là tôi bị bùa mê thuốc lú gì chăng? Các bạn chỉ quen biết tôi sau khi tôi theo đạo Công giáo thì không biết điều ấy; chứ các bạn cũ của tôi trước ngày tôi thành người Công giáo, thì vẫn cho là kỳ quặc, không sao hiểu nổi! Mà thực ra trong bản chất, việc tôi theo Chúa Giêsu là mầu nhiệm tình yêu lựa chọn của Ngài, làm sao mà hiểu nổi! (Nào ai cắt nghĩa một tình yêu ? tình yêu nhân loại đã thế, huống chi là Tình yêu lựa chọn của Thiên Chúa!). Chính tôi lắm lúc vẫn thưa với Chúa rằng: “ Trong vòng gia đình con, bạn bè con, dân tộc con, bao nhiêu người xứng đáng hơn con, nếu họ được Chúa chọn như con thì chắc họ sẽ làm đẹp lòng Chúa hơn con, phụng sự Chúa đắc lực hơn con nhiều”. Nhưng quả đúng như lời Ngài dậy: “Ta chọn lựa không phải kẻ xứng đáng, nhưng là kẻ Ta xót thương”. Ôi lạy Chúa, tình xót thương nhưng-không của Chúa, con cũng như bất kỳ ai, lành sao mà hiểu được! Một chỉ biết cúi đầu thờ lạy mà thôi.
Vâng quả thế, khi tôi được trúng tuyển vào học ở trường Thiên Hựu, bà Chị kế tôi có nói với mẹ tôi rằng:

– Mợ không sợ thằng Dương nó theo đạo sao? 

– KHÔNG BAO GIỜ!
Đó là câu trả lời của tôi lúc ấy. Tôi vốn là đứa bé hay cả thẹn, hơi nhút nhát, ít bộc lộ suy nghĩ tình cảm trước mặt người lớn, mà dám trả lời tức khắc một cách dứt khoát, gọn ghẽ như thế, thì đủ rõ: trước khi bước chân vào trường Thiên Hựu, đối với đạo Công giáo, tôi như thế nào rồi.
Mà đương nhiên là vậy. Tôi là người Nghệ Tĩnh, là nơi có truyền khống Văn Thân, lại là con nhà Nho cỡ lớn thì đối với Công giáo, có rất nhiều thành kiến chẳng mấy tốt đẹp. Trước hết tôi cũng như phần lớn dư luận cho rằng Công giáo có phần trách nhiệm trong việc dẫn đường cho Pháp cướp Nước ta. Sau nữa, Công giáo là “tà đạo”, dạy mê tín dị đoan, có những lễ nghi kỳ quặc, gây ấn tượng rờn rợn! Chẳng những nó là ngoại lai (do Pháp truyền sang) mà lại như là một thứ người khác hẳn mọi người (vì ngay đối với một số người Pháp “cấp tiến” thuộc phái tự do tư tưởng - libre penseur - thì Công giáo cũng là kỳ quặc, hủ lậu, lạc hậu, mê tín dị đoan, mù quáng); người Công giáo lại cứ quây quần trong mấy xứ đạo như tách rời khỏi cộng đồng dân tộc, do mấy cố đạo chỉ huy, gây ấn tượng làm sao ấy! Thấy người Công giáo ra vào lui lủi nơi các toà giải tội, lên “lè lưỡi” rước lễ, rồi trở về mắt nhắm tay chắp gối quỳ - thật là không tài nào chịu nổi! Và nhìn người Công giáo nào cũng có vẻ như bị “bùa mê”, như “mê” một cái gì đó, bị một ma lực nào quyến rũ, ám ảnh, mê hoặc (possédé, envouté)! Cho nên, chúng tôi - con nhà khoa bảng, học thức - hơi có vẻ khinh đạo Công giáo, cho như là một hình thức quyến rũ, mua chuộc, mê lú, mà các cố đạo đã đánh bả cho một lớp người hạ lưu trong xã hội! Trong họ vừa có cái gì dễ ghét, vừa có cái gì đáng tội nghiệp như là những người bị mê hoặc. Vì vậy, “cậu ấm” lên 13 lúc ấy đã dứt khoát ngay để mà trả lời “Không bao giờ” là lẽ dĩ nhiên! Những thành kiến của tôi đối với đạo Công giáo, mãi đến năm 1945, tuy có giảm đi nhiều về mặt trí thức, nhưng về mặt cảm tính, thì đã thành quán tính ăn sâu vào hệ quản, huyết thống, nên vẫn còn khá mạnh. Chính cuối năm 44 sang đầu năm 45, có hai bạn cùng lớp ngỏ ý muốn theo đạo Công giáo, thì tôi và một số bạn bè khác hết sức tìm cách ngăn trở và nhất là chế diễu nhạo cười.
Thế nhưng, vào học trường Thiên Hựu, tôi được dấn bước vào thế giới Công giáo, mà dần dần khám phá ra những giá trị của nó. Trước hết là các vị linh mục giáo sư. Điều làm tôi lưu ý là sự tận tâm chức nghiệp của các vị ấy. Ai đã có học trường tư thục Công giáo chắc đều nhận chân điều đó. Điều thứ hai là “tình yêu người” được bộc lộ ra qua cách đối xử. Tôi xin phân biệt “yêu” người với “thương” người. Đạo Khổng cũng dạy: thương người như thể thương thân; đạo Phật, cao hơn, còn dạy thương người, thương cả vạn vật chúng sinh; giúp người hoạn nạn, cứu người cùng khổ ... Thì chủ nghĩa nào, tôn giáo nào cũng dạy thế cả; nhưng “yêu” người thì hình như chỉ có đạo Kitô mới dạy và mới giúp người ta thực hiện được.
Yêu người đây là thái độ tương tự như thái độ với người tình duy nhất: có cái gì trìu mến, yêu thương, đằm thắm, thiết tha, làm cho người ta có cảm tưởng mình được xem như là một giá trị duy nhất vô nhị và không thể thay thế của một người yêu. Như thánh Âu Tinh đã định nghĩa : “tình yêu là niềm vui của tôi vì sự hiện hữu của Anh”, chứ không vì một lý do nào khác. Vì vậy, người được yêu cảm thấy mình là một giá trị độc nhất vô nhị đối với người yêu mình; và như thế là mình được nhìn nhận đúng phẩm giá làm người của mình, như là một ngã vị, một chủ thể duy nhất, như là được lên ngôi! Sở dĩ người ta có lúc quỳ gối trước mặt và hôn chân người yêu là vì thế!
Lẽ dĩ nhiên, chỉ có Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ, chịu chết vì môn đệ, và một vài vị thánh như Phan-xi-cô Át-xi-di, Vinh Sơn Phao-lô, mới yêu bất cứ người nào cũng như một người tình duy nhất; nhưng tôi thấy rằng chính cách thức cư xử của các linh mục đều có ít nhiều cái gì tương tự! Sau này, khi sống với các bạn Công giáo, tôi cũng đều có cái cảm giác như vậy. Thái độ này không phải là một đức hạnh hiểu theo nghĩa luân lý đạo đức (vertu), mà là một động thái (comportement) bắt nguồn từ một cảm thức dựa trên căn bản một nhận thức nào đó về giá trị con người. Tôi xin lấy một ví dụ cho rõ: tôi được hân hạnh quen biết một vị sư mà tôi hết sức kính mến, đó là Thượng toạ Thích Mật Thể. Đứng về phương diện đạo đức luân lý, ngài là một bậc chân tu, đạo hạnh rất cao, có lẽ ít linh mục tu sĩ Công giáo nào sánh kịp. Thế nhưng mỗi lần tiếp xúc với ngài, tôi tuy biết rằng ngài có thể liều chết cứu tôi, nhưng động thái (comportement) của ngài có cái gì lạnh nhạt. Tôi có cảm tưởng dù thương tôi hết sức, nhưng ngài thương tôi trong cái đại từ bi vô ngã đối với một chúng sinh vô ngã như bất cứ chúng sinh nào! Và tôi xin vô lễ (vì tôi rất kính mến ngài) mà cả gan suy diễn rằng có lẽ ngài xót thương cho cái chấp ngã hiện hữu của tôi, thay vì vui mừng vì hiện hữu của tôi như một “ngã vị”. Và xin thú thật rằng: tôi rất tôn kính Đức Thích Ca, nhưng mỗi lần chiêm ngưỡng tượng Ngài điềm nhiên trên toà sen, tôi vẫn có cảm tưởng như vậy. Tôi được chiếu rọi bởi ánh từ bi của Ngài, nhưng không có cảm tưởng được sưởi ấm cõi lòng bởi lửa yêu mên của Ngài.
Hình như nhà văn Nguyễn Tuân có viết ở đâu đó rằng: “Nụ cười của nhà sư chỉ có vẻ hiền lành mà thôi”. Câu ấy tả đúng tâm trạng của tôi mỗi lần được hân hạnh tiếp xúc với các vị sư và chiêm bái tượng Phật. (Xin các bạn Phật giáo hiểu cho rằng tôi không muốn nói hơn thua, mà chỉ mô tả để phân biệt thôi. Và tôi nghĩ rằng theo cái nhìn Phật giáo, thì chính cái “lửa yêu mến” ấy là một thứ dục mà thôi. Và cái nhân sinh Kitô giáo đề cao ngã vị, đặt nhân vị lên trên các loài chúng sinh vẫn là chấp ngã, chấp trước).
Trái lại, một linh mục, một tu sĩ, một giáo dân Công giáo, dầu về mặt đạo hạnh theo nghĩa luân lý đạo đức, so với Thượng Toạ Mật Thể dù còn thua xa, nhưng trong động thái thì có cái gì ấm áp hơn, có lẽ bắt nguồn từ Ngọn Lửa Yêu Mến mà Chúa Giêsu đã tỏ ra qua Thánh Tâm Ngài đã bị lưỡi đòng đâm thủng. Mà cũng có lẽ vì vậy mà - theo một số bạn bè của tôi nhận xét thì - hình như phái nữ Công giáo “đa tình” hơn. Có phải chăng là do từ tấm bé, chữ “Yêu” đã được nhập tâm và in sâu hình ảnh hai trái tim bị đau đớn vì YÊU: Trái tim Chúa Giêsu và Trái tim Đức Mẹ Maria?

Sau này tôi mới hiểu rằng cái ấn tượng người Công giáo như bị “bùa mê thuốc lú”, bị “thần ám” (possédé), bị “huyễn hoặc” (envouté) không phải là không có lý do! Bởi vì trong căn bản, người Công giáo là kẻ có cảm thức được yêu bởi Thiên Chúa, được yêu một cách khủng khiếp (được yêu mà cũng có thể nói là bị yêu, vì tình yêu nào cũng có tính cách ràng buộc: nợ tình) và được mời gọi đáp lại tình yêu như vậy. Có cái gì như kẻ si tình, chứ không phải bậc Đại Giác, Đại Ngộ như Phật dạy. Si ở đây bắt nguồn từ sự điên rồ của màu nhiệm Khổ giá (la folie de la croix); và như chữ Thương khó, khổ nạn (passion) không phải không có âm hưởng của cái gì như là đam mê (cũng là passion). Sự so sánh các thánh Kitô giáo với các thiền sư, đạo gia, thì một bên có cái gì da diết, đầy đam mê (passion), một bên thì thanh thản, đầy minh triết (sagesse)

Vậy đi vào thế giới Kitô giáo, tôi được nếm mùi vị của tình yêu người, với cái gì ấp ủ, trìu mến, đằm thắm, da diết mà tôi không thấy ở nơi khác. Tôi cũng nhấn mạnh rằng là “tình yêu người”, chứ không phải là “đức thương người”. Mãi về sau, tôi mới biết nguồn gốc của những điều ấy được ghi chép trong các chương từ 13 đến 17 trong Tin Mừng theo thánh Gio-an. Tình yêu ấy là một động thái bộc phát từ tâm lý đã nhuần nhuyễn bởi một cái gì đối với mỗi một tha nhân. Còn đức thương người có thể nói như là kết quả dày công tu tập về luân lý đạo đức và cái nhìn về loài người nói chung.

Rồi và đến lúc tôi phải học môn giáo lý, vì trong chương trình, môn ấy là bắt buộc. Vốn chăm học, nên tôi tuy không là Công giáo hình như bao giờ tôi cũng được điểm cao về giáo lý, nếu không nói là điểm nhất, vì mỗi bài giáo lý tôi đều thuộc làu như bất cứ môn học nào phải học. Qua đó tôi được biết đời sống của Chúa Giêsu. Cuộc đời của Đức Giêsu trước hết gợi lên lòng thương của tôi đối với một người vô tội bị oan khiên, sau là sự hấp dẫn của một người dịu dàng, đơn sơ, bình dị. Có thể nói tình cảm đầu tiên đối với Ngài là lòng thương mến (có pha trộn một chút tội nghiệp nào đó) hơn là lòng tôn kính đối với một bậc tôn sư: có một cái gì như tình bạn ít nhiều bình đẳng giữa hai người cùng hội cùng thuyền. Ấn tượng đầu tiên đối với Ngài có cái gì tương tự như sự an ủi của mẹ hiền, bạn quí, hàn gắn thương đau, khuyết điểm, khuyến khích về mặt cảm tính khi chán nản; sưởi ấm cõi lòng khi cô đơn - nhiều hơn là một vị tôn sư dạy một giáo thuyết.
Tóm lại, sự hấp dẫn của chúa Giêsu hình như do chính con người và cuộc đời của Ngài từ việc sinh ra trong máng cỏ, qua 30 năm âm thầm lặng lẽ, ba năm nay đây mai đó, trà trộn với dân chúng, rồi bị giết oan, nhiều hơn là do đạo lý Ngài truyền dạy. Bởi vì, xét về mặt tâm lý đạo đức thì các bài dạy của Ngài cũng chẳng có gì là cao siêu tuyệt vời, nhưng điều làm cho tôi cảm mến Ngài chính là “con người” và “cuộc sống” (gồm cả cái chết của Ngài): “sa personne” et “sa vie”. Đã có cảm tình với Ngài rồi thì khó quên, khó phai và hình như càng lâu càng thắm thiết hơn. Có nhiều lúc thấy Ngài gần gũi đến nỗi như người cùng hội cùng thuyền; thậm chí, thấy Ngài thậl đáng thương, thật tội nghiệp: Đứa bé sơ sinh nằm trong máng cỏ, phải chạy trốn lúc còn măng sữa, xin môn đệ cầu nguyện an ủi, nài nẵng xin Thiên Chúa Cha cho khỏi uống chén đắng; trước lúc chết còn xin Cha tha cho kẻ giết mình, rồi phàn nàn như oán trách trời đất, trối trăn Mẹ mình cho môn đệ. Chúa Giêsu thật là người, “người” quá đỗi! Có giận, có nóng, có thương và hình như có ghét (chỉ không thù ai mà thôi). Đối với các bậc thánh hiền khác, thì có thể nhớ bài dạy của Ngài mà quên đi con người và cuộc đời của các ngài. Đối với Đức Giêsu thì khác hẳn: đôi khi quên lời Người dạy, nhưng chính Ngài thì không quên được. Và có lẽ càng hay sống trái lời Ngài dạy, thì hình ảnh Ngài lại càng thêm xoáy vào tâm khảm - như người con càng biết mình làm mẹ buồn khổ thì càng tưởng nhớ đến mẹ mình, nhớ quay nhớ quắt, nhớ quằn quại đến độ không chịu được! Phê-rô đã khóc sau khi chối bỏ Ngài là như vậy; mà có lẽ Giu-đa tự tử sau khi bán Ngài là vì vậy. Thông minh, tài trí, dũng cảm... Có lẽ nhiều người hơn Giêsu, nhưng đáng yêu nhất thì có thể chỉ có duy nhất một mình Ngài mà thôi!!
Hình ảnh đầu tiên của Ngài in vào tâm trí tôi là một bức ảnh nho nhỏ tôi được lãnh thưởng về môn giáo lý: hình dung Thánh Gio-an dựa đầu vào ngực Ngài, còn Ngài thì một ngón tay chỉ vào trái tim bừng tia lửa. Lúc ấy, tôi 14-15 tuổi gì đó. Tự nhiên tôi muốn được như Thánh Gio-an vậy! Tuy lúc đó tôi chưa tin vào Ngài là con Thiên Chúa cứu thế chuộc tội cả và loài người, nhưng tôi thấy mến Ngài một cách kỳ lạ. Rồi từ tâm tình ấy tôi mới để ý đến giáo lý của Ngài và tìm được những điều có ích, có giá trị trong lời Ngài dạy; nhưng như tôi đã ghi trên, về nội dung luân lý và triết học hiểu theo nghĩa tư tưởng loài người, thì chẳng có gì đặc biệt lắm! Cho nên rốt cuộc tôi vẫn xem Ngài như một con người đáng thương, đáng yêu trong lịch sử đã 2000 năm về quá khứ, bùi ngùi thương tiếc, thế thôi!
Thế rồi, mãi cho đến năm học lớp đệ nhị, tôi đã gặp Pascal. Pascal đã gieo vào tâm trí tôi một quan niệm về con người mà tôi cho là hiện thực bậc nhất. Nếu triết học là một nỗ lực thực hiện lời Socrate : “Hãy tìm hiểu chính mình”, thì tôi tưởng rằng, đối với tôi, Pascal là nhà triết học, một triết gia vĩ dại nhất của nhân loại. Triết lý của Pascal không cao siêu như đạo đức kinh, như Dialogue của Platon... nhưng giúp ta hiểu rõ về con người một cách gần như thấu suốt tâm can. Rồi Pascal cũng là người diễn tả đúng nhất con người trong vũ trụ và trước cái Tuyệt đối. Tôi nghĩ rằng về vấn đề nhân sinh, Pascal là nhà tư tưởng khó ai vượt qua nổi. Cả về mặt khoa học văn chương, Pascal cũng vào hàng vĩ nhân. Một thiên tài vĩ đại như thế cuối cùng đã vất bỏ tất cả để sống một cuộc đời cống hiến cho Chúa Giêsu! Vì sao? Vì Pascal đã cảm nghiệm được rằng Giêsu đã yêu Pascal đến chết, Giêsu đã nhỏ những giọt máu cho Pascal. Và Pascal đã nhìn nhận Giêsu là Thiên Chúa. Đọc bài của Pascal viết về giờ hấp hối của Giêsu Na-za-rét trong vườn Giêt-sê-ma-ni, tôi như được chứng kiến một cảnh thực diễn ra trước mắt, và hình như tôi được cùng Pascal thấy rõ là giọt máu nào Giêsu dành cho tôi vậy. Và câu “Giêsu hấp hối đến ngày tận thế” làm cho tôi tan nát cõi lòng! Câu này cũng là câu “Đời là bể khổ”, nhưng cụ thể hơn, và có cái gì gần gũi, thiết tha, gắn bó, ràng buộc mời gọi thông dự hơn là thúc dục tìm lối thoát.
Có thể nói năm ấy (1943) tôi chưa tin vào Giêsu là Thiên Chúa; nhưng một cách nào đó Giêsu đã dùng đoạn văn của Pascal là trung gian cho tôi được gặp Ngài trong giây phút bi thảm nhất của đời Ngài: Khi Ngài vất vả, u sầu, quằn quại đến độ đổ mồ hôi máu ra. Và phần nào tôi cũng cùng Pascal cảm nghiệm rằng máu Ngài đã thấm vào hồn tôi và trực cảm rằng tôi được Ngài yêu mến quá bội! Như vậy, cách nào đó tôi đã tìm được một cách cụ thể và hiện thực, vô cùng sâu xa, sống động, tận đáy lòng của tâm hồn cái ý nghĩa đau thương của cuộc đời. Cái nhìn về cuộc sống mà Kiều và Cung oán ... vẫn chi phối tâm hồn tôi, được hướng về Giêsu quằn quại trong vườn Giêtsêmani, và trút hơi thở trên khổ Giá vì một bản án tử hình oan khiên. Cái chết của Nhạc Phi, của Socrate, của Nguyễn Trãi, của bao nhiêu người khác chết vì đại nghĩa cũng như vì lòng nhân ái đối với kẻ hoạn nạn khốn cùng, đều như quy về cái chết của Giêsu trên khổ Giá. Nếu tâm hồn tôi từ tấm bé đã bị câu: “Đời là bể khổ” ám ảnh đè nặng, thì hình ảnh Giêsu quằn quại trong vườn Giêt-si-ma-ni và chết trên khổ Giá đã đem lại liều thuốc (hay nói đúng hơn: Một tiếng trả lời vọng lại, rền vang, in sâu vào tâm khảm) chữa lành trong hiện thực chứ không phải bằng tư duy trừu tượng.

Nhưng năm ấy, tất cả những điều đó chỉ có ở bình diện cảm tính nhân loại; tôi chỉ thấy Giêsu là con người thâu gồm cả kiếp người vốn là đau khổ. “ECCE HOMO”: NÀY LÀ NGƯỜI! Quả đúng vậy, nếu Diogène đã thắp đuốc tìm một con người, thì Pascal chính là người giới thiệu cho tôi con người: GIÊSU LÀ CON NGƯỜI ! và một cách nào đó Pascal đã cho tôi thấy con người của tôi, của mọi người, của mỗi một người đã được thể hiện trọn vẹn nơi CON NGƯỜI GIÊSU. Hình như bắt đầu đã có sự đồng hóa nào đó giữa tôi và mọi người với Giêsu và giữa Giêsu với mỗi người. Có lẽ lúc ấy tôi chưa tin rằng Giêsu là con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế, nhưng về mặt thuần túy nhân loại thì tôi đã là người thuộc về Giêsu rồi, Giêsu là cả kiếp người, ai là người thì đã ở trong Giêsu rồi, và Giêsu ở nơi bất cứ người nào. “ECCE HOMO” “NÀY LÀ NGƯỜI”! Thuở ấy, về mặt nhân sinh, tôi đã cảm nghiệm được điều ấy qua trung gian sự giới thiệu của Pascal. Tuy vậy, cũng như những cảm tình đối với những sự cố trong gia đình, những nhân vật lịch sử hay nhân vật hư cấu trong văn chương mà có tính cách thống thiết bi ai, những tình cảm của tôi đối với Đức Giêsu thời đó có thêm, làm cho tôi dễ có một nhân sinh quan “đời là bể khổ”, là giấc mộng: những cảm tình ấy chỉ là những lớp phù sa cho từng trận lụt đọng lại thành từng lớp, tùy theo thời điểm, rồi lại chìm sâu vào tiềm thức, và bị khỏa lấp bởi sinh hoạt chính, đó là học hành cho thành đạt. Đó là lẽ thường của một cậu học sinh thuộc một gia đình quan lại, khá giả, đời sống nề nếp, khuôn phép hòa thuận, được bà con bằng hữu ít nhiều kính nể và thầy bạn yêu mến, ít nhiều tự mãn về gia đình bề thế (gia thế) của mình cũng như về khả năng học hành và tính hạnh của mình.

4. TU VÀ YÊU
Còn từ 14, 15 đến 20 tuổi, đời sống tính dục của tôi ra sao? Hình như nhu cầu tình dục đã khơi dậy khá sớm nơi tôi. Nhưng giáo dục gia đình không đề cập đến vấn đề này, chỉ có dạy bảo đừng ăn nói tục tĩu, và cho nghe các bài gia huấn dạy con cái đừng dâm đãng, đàng điếm. Cái luân lý tính dục ấy nặng về trật tự gia đình xã hội chứ không chủ yếu nhằm một lý tưởng khiết tịnh cá nhân. Vì thế, những thói xấu về tính dục, có tính cách cá nhân, không hề bị xem là tội lỗi gì, và không bao giờ thấy đề cập đến; cho nên, tôi đã qua tuổi dậy thì với những thói tật thông thường của tuổi ấy mà không có ý thức là lội lỗi xấu xa gì cả! Vả lại, vì quan niệm hôn nhân quá thiên về nối dõi tông đường của Nho giáo nên tôi có một quan niệm về tính dục không được đúng đắn lắm. Hình như địa hạt này được chia thành ba thành tố gần như tách biệt nhau:

1. Việc lập gia đình: do cha mẹ, họ hàng, xã hội chi phối lo liệu nhằm mục đích nối dòng. Vì vậy, kết hôn mà không cần biết nhau, chẳng qua là thi hành bổn phận gia đình và xã hội mà thôi.

2. Nhu cầu sinh lý: xem như hạ cấp, có quyền thoả mãn cá nhân, miễn đừng di hại sức khỏe và quy luật xã hội chỉ vì chuyện vệ sinh cá nhân, và trật tự xã hội mà phải biết tiết độ có kỷ cương chứ không phải là vấn đề đức hạnh cá nhân.

3. Tình yêu: gần như hoặc dành riêng cho những tâm hồn nghệ sĩ đặc biệt, có tính cách mơ mộng, trữ tình “platonique”. Tôi không nhớ rõ trong một cuộc phỏng vấn nào đó, có nhà nho đã trả lời: “Theo tôi ái tình là zéro!”.

Cho nên về đời sống tình dục của tôi cũng chia ra làm ba mặt:

1. Việc lập gia đình hình như chỉ chờ đến lúc của nó là sẽ thực hiện theo lối cổ truyền.

2. Nhu cầu sinh lý thì buông theo những thói tật không thường của tuổi thanh niên, không có một ý thức tội lỗi nào.

3. Tình yêu thì theo lối mơ mộng văn chương theo kiểu Hồn bướm mơ tiên: yêu trong tâm hồn, trong lý tưởng: như Đạm Thủy, Tố Tâm.

Có lẽ vì vậy mà tôi khi nghĩ tới “tình yêu” là chỉ hình dung qua những mối tình không đi đến hôn nhân (hôn nhân bị tách rời với tình yêu! Hôn nhân là bổn phận của gia đình, xã hội! Giao hợp là nhu cầu thể lý! Tình yêu là một nhu cầu tình cảm thuần túy!) -Như Thúy Kiều và Kim Trọng, Lan và Điệp, Ngọc và Lan, Loan và Dũng! Tình yêu được xem hoặc như là một sinh hoạt tình cảm tinh thần: nặng nghệ sĩ tính, chỉ có thể ở những tâm hồn phong phú tế nhị mới có, như là một khát vọng có tính cách ít nhiều huyền bí (mystique) với những đặc tính là cao thượng, phi vật chất, vĩnh cửu và tuyệt đối (noble, immatériel, éternel et absolu). Quan niệm tình yêu ấy vừa do ảnh hưởng văn chương lãng mạn, vừa do ảnh hưởng một quan niệm do các hiệp sĩ Tây Phương thời Trung cổ (quan niệm trước chịu ảnh hưởng Platon, quan niệm sau chịu ảnh hưởng Kitô Giáo), chứ không phải từ văn hóa Đông phương. Chung kết lại, quan niệm và cảm thức của tôi về tình yêu là cho tôi thấy có một khát vọng mà kinh nghiệm ái tình của tôi không được thỏa mãn: Vì tôi thấy tình yêu nhân thế (Amour humain) nào cũng hữu hạn, tương đối, mong manh, - Trong lúc tôi khao khát một tình yêu vĩnh cửu, tuyệt đối. Vô hình chung, tôi đã gián tiếp chịu ảnh hưởng của một tình yêu bắt nguồn từ tình yêu thần hiệp (mystique) với ít nhiều lệch lạc, tuy có một phần nào là cao thượng.
Tóm lại, quan niệm tình yêu của tôi cũng nằm trong một nhân sinh quan coi mọi sự chỉ là tương đối, chóng qua, hữu hạn trong lúc khát vọng của con người là vĩnh cửu, tuyệt đối, vô biên. Nhất là sau khi chịu ảnh hưởng của Pascal, điều ấy lại càng in sâu vào tâm trí tôi. Có thể nói rằng mặc dầu cũng cố gắng học giỏi, mong thành đạt, có yêu đương vớ vẩn ít nhiều, có buông theo những đòi hỏi tình dục, nhưng tận đáy tâm hồn tôi vẫn có một khát vọng sâu xa nào đó, mà không có gì làm tôi thỏa mãn hoàn toàn. Về toàn bộ nhân sinh - tổng kết lại, tôi như ước mơ một cái gì khác, một cái gì không rõ, mông lung như là một cõi khác: vừa như Nghiêu Thuấn của Nho giáo, vừa như Non Bồng Nước Nhược của Lão giáo, vừa như Cực Lạc của Phật giáo, vừa như Thiên Đường của Kitô giáo. Nhưng khát vọng ấy có tính cách ít nhiều nghệ sĩ, nhẹ nhàng, thoang thoảng, làm cho tôi thích những đêm trăng, những chiều tà, những trời rộng sông dài mà tâm hồn được lâng lâng như thoát tục.
Tôi rất thích những bức tranh thủy mạc của Tàu vẽ những túp lều bên suối, khóm trúc, chóp núi, làn mây theo thú ẩn dật tiêu dao của Lão giáo. Tôi ham học cũng như các bạn khác ham thể dục, ham văn nghệ, chứ không phải là theo đuổi một mục đích nào có tính cách danh vọng địa vị! Có lẽ cả sự hiếu tri bác học cũng không nhắm luôn, bởi vì từ khi chịu ảnh hưởng của Pascal, học cũng chỉ là cách tìm lẽ sống hơn là hiếu tri bác học. Chính Pascal cũng đã bỏ sự nghiệp văn chương, khoa học để hướng về Tuyệt Đối là Thiên Chúa, cho đó là lẽ sống đời người. Tôi tuy chưa tin vào Thiên Chúa, nhưng cái tâm hướng về Tuyệt Đối đã chớm nở từ thuở đó. Thế nhưng, đó cũng chỉ là một hạt giống gieo vào tâm tư, rồi cũng lại bị vùi sâu vào những thúc bách của những năm cố dùi mài chuẩn bị cho kỳ thi Tú tài.
Có lẽ vì kinh nghiệm cái nhục hỏng thi vào Quốc học Huế năm 38, nên trong hai năm 43 và 44, tôi mải miết học hành quyết tâm thế nào cũng thi đỗ cho được tú tài I. Động lực sâu xa nhất là ý thức về dòng dõi khoa bảng; con một ông Hoàng giáp đậu đại khoa lúc 19 tuổi, thì thế nào cũng phải là người tốt nghiệp đại học. Rồi sau đó làm gì hẵng hay! Tất cả những năng lực của tôi đều dồn vào mục đích ấy. Hơn nữa, trong số bạn học cùng lớp có anh Phan Ngọc, cũng học rất giỏi, cũng con nhà Khoa bảng (cụ thân sinh anh Ngọc đỗ phó bảng), nên giữa tôi và anh Ngọc có sự thi đua rất hào hùng trong tình thân thiện. Bằng tú tài được coi như cái mốc nhất định phải tới, rồi mới tính chuyện cao xa hơn, không phải là “phi cao đẳng bất thành phu phụ”, nhưng là “phi đại học bất thành sự nghiệp”. Muốn làm gì thì cũng phải là con người trí thức đã. Và hình như lúc đó tôi có ước mơ thành văn sĩ hay một giáo sư dạy khoa văn. Lý tưởng ấy bắt nguồn từ hình ảnh vị “vạn thế sư biểu” là Khổng Tử qua cái truyền thống làm chức tư nghiệp (phó giám hiệu Quốc tử giám) và gương của các bậc đàn anh mà tôi có lòng khâm phục như các ông Đặng Thái Mai, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Tạ Quang Bửu, họ vừa là thầy dạy giỏi, vừa mô phạm về đức hạnh, vừa có sinh hoạt văn hóa và có thái độ chính trị tuy không phải là kiêu hùng như các nhà cách mạng thực sự nhưng cũng giữ được cái sĩ khí, không luồn lụy bon chen, không xu nịnh ai. Nếu không có những biến cố dồn dập xảy đến năm 45, có lẽ tôi đã theo chân các bậc đàn anh ấy sẽ không làm quan cho Nam triều, làm công chức cho Pháp, mà sau khi tốt nghiệp đại học sẽ làm nghề viết văn, viết báo, dạy học tư, đào tạo thanh niên. Chuẩn bị có một cái gì đó chưa rõ ràng, nhưng hướng về mục đích làm sao cho nước nhà được độc lập. Có lẽ vì bản tính nhút nhát, sợ bạo động, nên tôi có xu hướng đấu tranh ôn hòa, để từ từ nước nhà tiến lên tự trị, liên hiệp, độc lập... Những năm Nhật chiếm đóng Đông Dương, tuy biết rằng có phong trào Ngô Đình Diệm: chủ trương dựa vào Nhật để thực hiện Việt Nam độc lập trong khối Đại Đông Á nhưng có lẽ vì được mục kích sự tàn bạo của quân đội Nhật nên tôi không mấy tin tưởng. Nhưng dầu sao thì tôi vẫn tự bảo: đậu tú tài xong ra học Đại học Hà Nội rồi hãy hay.
Thế rồi, mấy tháng cuối niên học 43, 44, tôi bị đau kiết lị nặng cộng thêm chứng đau dạ dày, phải nghỉ học thường xuyên. Kết quả kỳ thi tú tài I tôi chỉ đậu hạng bình thứ. Trường Thiên Hựu chỉ có các lớp ban tú tài I. Cuối năm 44, tôi sang học triết học tại trường Khải Định. Sang trường Khải Định tôi thấy vô cùng lạc lõng. Đã quen sống bầu không khí đại gia đình của trường Thiên Hựu, tôi thấy trường Khải Định có cái gì lạnh nhạt, máy móc của một guồng máy từ nhân viên hành chính đến các giám thị, các giáo sư cho đến bạn bè, đều thiếu không khí ấm cúng của trường Thiên Hựu.
Hình như ngoài không khí của gia đình mình, ra ngoài xã hội tôi đã quá thấm nhập môi trường thấm nhuần tinh thần Kitô Giáo là môi trường trường Thiên Hựu. Cho nên, về mặt cảm tính, tôi không thấy thích ứng được với một xã hội nào mà thiếu cái tinh thần căn bản xây trên tình yêu người như một ngã vị, một chủ thể độc nhất vô nhị như tôi nói trên kia, thì ra trong sáu năm trời tôi đã thấm nhuần một nhân sinh quan nhân vị mà sau này tôi mới biết đã thành tư tưởng hệ thống trong triết học của: E. Mounier, G. Marcel, Nédoncelle, Jean La Croix,... Hình như tôi chỉ thoải mái khi sinh hoạt trong một môi trường đượm nhuần tinh thần Kitô Giáo, bởi vì có lẽ về mặt tâm lý, tôi đã thấm nhuần cái tinh thần ấy: cảm tính, tư duy, động thái của tôi đã được nhuần nhuyễn một nền văn hóa Kitô -giáo và nhân bản Tây phương theo mô hình văn minh Hy lạp - La tinh.
Thế nhưng, đồng thời tôi cũng giữ được bản sắc Đông phương và Việt Nam. Trong chương trình nhà trường không dạy văn hóa Đông phương cũng như văn chương, lịch sử và địa lý Việt Nam, nhưng tôi đã tự tìm nghiên cứu qua các bộ Nho giáo, Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim; tự học Kiều, Cung oán, Chinh phụ; rất mê thơ Tản Đà, Lưu Trọng Lư, Thanh Tịnh, Nguyễn Bính, Thế Lữ, Huy Cận, và chịu ảnh hưởng của Tự Lực Văn Đoàn một cách khá sâu, các tiểu thuyết như Đôi bạn, Hồn bướm mơ tiên, cũng như các tạp chí Ngày Nay, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, tôi đều rất ham đọc. Riêng cuốn “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân thì tôi đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần. Các truyện cổ như Đông Chu Liệt Quốc, Tam Quốc, Thủy Hử, Tây Du Tiền Hán Diễn Nghĩa, Chinh Đông, Ngũ Hổ Bình Tây và các loại kiếm hiệp tôi đều đọc cả và rất thích. Cuốn “Cổ học tinh hoa”, các bài Hịch Tướng Sĩ, Bình Ngô Đại Cáo, một số thơ văn của Cụ Phan Bội Châu tôi đều có đọc, tôi cũng thích và thuộc rất nhiều ca dao tục ngữ qua giọng hát dặm Nghệ Tĩnh, qua các điệu hò ru con ở Huế. Sau này khi giảng dạy triết học tôi vẫn mượn tỉ dụ những hình ảnh và cả những khởi hứng từ trong văn chương Đông phương và văn hóa Việt Nam, hàn lâm cũng như bình dân - để giải thích những tư tưởng triết học của Tây phương. Tuy là giáo trình của triết học Tây phương, nhưng những nội dung của Quy Khứ Lai Từ, của Phong Kiều Dạ Lạc của Tỳ Bà Hành, của Xích Bích Phú, của Kim Vân Kiều, của ca dao, đều được lồng vào một cách khá hài hòa, hòa hợp.
Sau này, khi đã thành người Công giáo, một ước mơ của tôi là sao có được một dòng văn học Việt Nam thấm nhuần Kitô giáo và một dòng văn hóa Kitô giáo thuần túy Việt Nam và nhất là một truyền thống thiêng liêng (spiritualité) phù hợp với tinh thần Á Đông mà vẫn chính thống Kitô giáo, và xin quý vị lãnh đạo trường Đại Học Đà Lạt thời trước thứ lỗi cho tôi, nếu tôi có ý nghĩ hối tiếc là giả sử vốn liếng và nỗ lực dồn cho trường Chính trị Kinh doanh được dành để nghiên cứu và xuất bản một số tác phẩm như của các vị J. De Monchanin, John Wu, F. Hoang, Dom Lou, Thomas Merton thì có lẽ hay hơn. Và bản thân tôi, tôi cũng không khỏi tự trách mình đã chần chừ chưa chịu bắt tay vào việc ấy một cách tích cực hơn. Đến nay tôi vẫn chưa rõ các bậc đàn anh như linh mục Nguyễn Văn Thích, linh mục Bửu Dưỡng đã có những công trình gì về mặt này rồi. Nhiều lúc tôi vẫn âm thầm tự hỏi, nếu ngay lúc này đây mà có một người Công giáo Việt Nam nào thực hiện được những công trình nghiên cứu suy tư như công trình của cha Yves Raguin thì biết đâu trong một tương lai nào đó lại chẳng có nhiều công dụng cho văn hóa Đông Phương như tác phẩm của các Thánh Âu Tinh, Grê-gô-ri-ô thành Nysse... Ở phương Tây, tôi tin chắc rằng vẫn có những khao khát về một đời sống tâm linh không gì làm tắt ngúm hay khô cạn đi được, và còn gì thích hợp cho bằng một tổng hợp giữa Kitô giáo với nền cổ học Đông Phương. Thế nhưng, cũng có thể là chủ nghĩa Mác-xít sẽ quét sạch tất cả và một nền văn hoá hoàn toàn mới sẽ phổ biến khắp toàn cầu và Kitô giáo sẽ phải thực hiện một cuộc tổng hợp hoàn toàn mới, mà hiện nay chưa có ai ngờ được? Tương lai thuộc về Thiên Chúa. Đây chỉ là những suy nghĩ lung tung vậy thôi, tôi chưa dám kết luận như thế nào cả... Dầu sao, chỉ có mầu nhiệm Tử Nạn Phục Sinh của Đức Kitô mới là ánh đuốc cho nhân loại. Mọi nền văn hóa rồi cũng sẽ qua đi, như Paul Valéry đã nói: “Nous, cilivisations, nous sommes mortelles” “các nền văn hoá chúng tôi, chúng tôi đâu có bất tử!” và như Chúa Giêsu đã phán “Hình bóng thế gian này sẽ qua đi, Lời Ta Hằng Sống”. Hình như từ năm 1943, tôi đã bị hấp dẫn bởi một bầu khí sinh hoạt nhuần Kitô giáo, và hẳn đã có những biểu lộ nào đó nên tôi mới được linh mục Lefas, giáo sư văn chương Pháp tại trường Thiên Hựu để ý, cả linh mục Cotté dòng Chúa Cứu Thế, giám đốc kí túc xá Nguyễn Trường Tộ cũng vậy. Hình như cả hai vị đều đôi khi có gợi vấn đề tôn giáo ra với tôi một cách rất kín đáo, tế nhị, nhưng tôi đã hết sức lánh xa các vấn đề ấy, mặc dù tôi rất kính mến các vị và cũng được các vị dành cho rất nhiều thiện cảm, ưu ái. Đồng thời tôi lại cũng rất quen thân với một số bạn học người Công Giáo nhất là một số chủng sinh dòng Đa Minh ở Bắc và dòng Chúa Cứu Thế ở Huế gởi học tại Thiên Hựu đặc biệt trong đó có anh Long Đình Lương, em ruột linh mục Vương Đình Ái (gia đình Vương Đình còn có các linh mục: Vương Đình Tài, Vương Đình Khởi, Vương Đình Bích, Vương Đình Lâm). Tôi xin mượn một số hình ảnh để mô tả cảm tưởng do các bạn ấy gây ra cho tôi: đó là một làn hương dịu dàng của những tâm hồn đơn sơ và nhất là khiết tịnh, nhưng lại có cái gì đằm thắm, da diết, nồng nàn của những tâm hồn đa tình, đa tình mà khiết tịnh! Sau nữa, các bạn ấy học giỏi mà lại có cái gì khiêm tốn, chứ không có vẻ tự hào như anh Phan Ngọc và tôi. Thứ ba nữa là: các bạn ấy có cái gì rất khác người học sinh thường, nhưng đồng thời cũng rất nhân bản. Những mẫu người Công Giáo ấy phá vỡ cái quan niệm, cái ấn tượng Công giáo là mê tín dị đoan, mù quáng. Qua các bạn ấy tôi thấy lờ mờ rằng: đó là những tâm hồn đã thả neo vào một lý tưởng rất cao quý, không phải là một lý thuyết trừu tượng hay một sự nghiệp nào đó, nhưng là tình yêu đối với một người có vẻ rất cụ thể, rất gần gũi, rất “người”: Giêsu. Tôi trực cảm được rằng những chàng trai sáng sủa, khỏe mạnh ấy (lắm anh rất giỏi thể thao, văn nghệ, lắm anh học rất giỏi có tài tháo vát), tóm lại những thanh niên ưu tú ấy, rất bình thường, rất lành mạnh ấy, là một mẫu người vừa khác hẳn, vừa hoàn toàn giống như mọi người, thấm nhuần một tình yêu rất kì lạ! Đôi khi tôi có thắc mắc: họ yêu Giêsu ra sao? như cha con? như thầy trò? như vua tôi? như anh em? như bạn bè? như nam nữ? Thật là kì lạ vô cùng? Nhưng kết quả thì đầy hấp dẫn làm cho tôi vừa mến, vừa kinh ngạc, vừa thích gần gũi vừa ngần ngại, vừa muốn bắt chước, vừa sợ bị lây!?
Sự tiếp xúc với các chủng sinh ấy đã cho tôi gặp được một quan niệm rất lạ đối với tôi: hình ảnh vị sư trẻ tôi thấy đêm rằm tháng bảy thuở còn bé ở Khánh Hòa là biểu tượng của một cuộc đời thoát tục, diệt dục; Lan trong Hồn Bướm Mơ Tiên cũng vậy; Lan trong Tắt Lửa Lòng cũng vậy; quan niệm thoát tục trong Cung Oán cũng vậy! Nói tóm lại, đối với tôi, tu hành là tu theo quan niệm nhà Phật: “Tu là cội phúc, tình là giây oan”. Còn quan niệm của tôi lúc ấy về “tình yêu”, tuy đượm màu sắc vĩnh cửu, nhưng là cái gì vị kỷ, cá nhân, ngược với bổn phận gia đình, xã hội. Tình yêu chỉ là một thứ khoái lạc vị kỷ như Conreille đặt vào miệng Don Rodrigue: “L'amour n’est que plaisir” (Tình yêu chỉ là lạc thú). Nhưng các chủng sinh này là những chàng thanh niên như bất cứ thanh niên ưu tú nào, nhất là thầy Q. (nay là một vị linh mục ở Bắc) thì quả là đầy nhiệt huyết, hăng say, ăn mặc diêm dúa (xem ra có vẻ còn trau chuốt hình dong là đàng khác): bề ngoài hào hoa bặt thiệp, không có vẻ gì là thoát tục cả, mà lại là “tu”! Tu mà miệng lại luôn nói tới “yêu mến” với những từ ngữ có vẻ đắm đuối, say sưa. Lần đầu tiên tôi gặp một nhân sinh quan rất lạ: một thứ tu chẳng những không diệt dục mà còn đắm đuối chữ “tình”. Tình mà lại bao hàm hy sinh. Ái tình lại là điểm cao của một thứ bổn phận cao nhất. Tôi thoáng thấy một sự tổng hợp kỳ lạ: cái tình cảm mãnh liệt nhất, sâu xa nhất, đem lại hạnh phúc sâu xa nhất của con người là “tình yêu” (mà nói chung các nhà hiền triết thường lên án như là một đam mê si dại cuồng loạn), lại đồng thời là cái bổn phận cao thượng nhất, lý tưởng tuyệt vời nhất, đòi phải hy sinh, tiết dục, khiết tịnh nhất! Một thứ tình yêu mang nhiều nét giống tình yêu nhân thế (amour humain) mà lại thúc đẩy người thanh niên đầy nhiệt huyết, đầy tài năng, đầy nhựa sống ấy ẵm nhận đời sống tu hành; song tu mà lại rất vui, rất nhộn, rất “đời”: thật chẳng có gì là bi quan yếm thế cả! Các chủng sinh này cho tôi thấy trong Kitô giáo có một quan niệm tu và một nhân sinh quan, một quan niệm (một thứ, một loại) tình yêu vô cùng đặc biệt, vô cùng kỳ lạ, khác hẳn mọi tình yêu trên đời, đưa đến một kiểu tu khác: tu vì yêu, yêu nên mới tu. Họ nói họ hiến thân cho Chúa Giêsu vì tình yêu: vì Chúa Giêsu yêu họ, vì họ yêu Chúa Giêsu. Tình yêu kỳ quặc! Thế nhưng kết quả lại là những tâm hồn thật đẹp, thật phong phú; vừa rất người, rất đời, vừa có cái gì như ít nhiều cách biệt, khác hẳn con người thế tục. Mỗi chủ nhật thầy Q. chải chuốt ăn mặc tươm tất đi chơi với các anh em lưu học sinh trường Thiên Hựu (phần đông đều thuộc loại “đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi”) thì thầy Q. ăn đứt. Hình như đôi khi thầy ấy còn xức nước hoa, chải tóc láng mượt, hay ít ra cũng dùng một thứ xà phòng thơm khá sang. Sau này, khi đọc Tin Mừng tôi mới biết Chúa Giêsu có dạy các môn đệ xức dầu thơm trong khi ăn chay!!! Chứ lúc ấy, nhiều lúc thấy thầy Q. có vẻ quá phong lưu công tử, tôi cứ bảo thầm: “anh này mà tu được thì tôi đi đầu xuống đất!”. Nay thì thầy Q. đã là một linh mục có cuộc đời rất đáng kính phục. Đúng là tu với yêu đã kết hợp nhuần nhuyễn.
Nhưng còn Giêsu? tôi cũng kính mến Ngài lắm, nhưng Ngài chết gần 2000 năm rồi còn gì! Làm sao mà có thể yêu Ngài đắm đuối du dương da diết như đôi tình nhân đương thời vậy được? Mà yêu làm sao cả trăm, cả ngàn, cả vạn, cả triệu linh mục và nam nữ tu sĩ như vậy. Dần dần tôi còn biết, qua gần 20 thế kỉ, những người tu sĩ vì yêu như vậy rất nhiều và nhiều người đã đạt đỉnh cao của những thực hiện nhân loại (réalisations humaines) về mọi mặt: khoa học, triết học, nghệ thuật, từ thiện bác ái và cả chính trị xã hội nữa. Sau này đọc tác phẩm của Bergson, tôi mới hiểu cái thần hiệp của Kitô giáo (mystique chrétienne)! Chứ lúc ấy, tôi vô cùng ngạc nhiên và thấy thích thú, vừa thấy ngan ngán làm sao ấy! Tôi vừa như thấy bị thu hút, hấp dẫn vừa thấy sợ như sợ đụng vào phải dây điện cao thế! Những lúc vào các nguyện đường Công giáo nhất là khi nhìn lên tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh, tôi đều thấy có sức thu hút mãnh liệt, nhưng đồng thời có cái gì rờn rợn, khiến cho mình phải ở vào thế đề phòng như sợ bị điện giật. Trái hẳn với không khí êm ả, thanh thản, điềm nhiên lắng đọng của tượng Phật trong cảnh u tịnh, tịch mịch của một ngôi chùa. Sau này đọc Thánh Gio-an và Phao-lô, đọc tiểu sử Thánh Phan-xi-cô At-xi-di, Thánh Tê-rê-sa A-vi-la, đọc các tác phẩm Thánh Gio-an thánh giá, của Ma-ga-ri-ta Ma-ri-a A-la-cốc .... Thì tôi mới hiểu, chứ lúc ấy thì thật vô cùng thắc mắc và lấy làm vô cùng kì lạ. Như vậy, điều đã khiến tôi đổi quan niệm đầy thành kiến đối với Kitô giáo chính là khía cạnh thần hiệp của tôn giáo ấy, một thứ thần hiệp kì lạ chứa đầy những điều làm cho tôi phải suy nghĩ và tìm tòi.
Sau hết là Đức Mẹ Maria. Ngoài những hang đá trong nhà nguyện, nhà thờ, mà tôi đã tò mò đi xem trong dịp lễ Noel, có ba tác phẩm văn nghệ đã làm cho tôi vô cùng xúc động mỗi khi hình ảnh Đức Mẹ hiện đến trong tâm trí tôi: Một là bức tranh của họa sĩ Lê Văn Đệ được chụp lại và in thành ảnh nhỏ, đáng lưu ý nhất là bàn tay bé nhỏ của Chúa Giêsu luồn vào làn tóc như một dòng suối ngọc huyền của đức Mẹ buông xuống. Hai là bài thơ Ave Maria của Hàn Mạc Tử. Mỗi lần ngâm bài thơ ấy, tôi cứ muốn qùy xuống với tấm lòng “trìu mến”. Và cuối cùng là bài Salve Regina mà các lưu học sinh trường Thiên Hựu hát trước khi đi ngủ. Cứ mỗi buổi tối, bài ca ấy lại vang lên trong đêm dầy bao phủ cánh đồng An Cựu, như một làn hương, như một luồng hơi ấm xoa dịu tâm hồn. So với lời niệm Đức Quan Thế Âm và tiếng chuông thu không của nhà chùa có lẽ cũng có phần nào tương tự, nhưng ở đây có cái gì ấm áp hơn, dịu dàng hơn, tình người hơn, vui vẻ hơn.
Có lẽ tôi cũng nên ghi lại một hình ảnh ăn sâu vào ký ức: Năm ấy, vào khoảng năm ‘40, '41, tôi có người anh rể bị đau ho lao, điều trị tại viện bài lao Huế. Một hôm vào thăm anh, tôi gặp bà phước rất trẻ đẹp phục vụ bệnh nhân. Thật ra hình bóng các bà phước tại các bệnh viện, tôi đã gặp nhiều lần; nhưng bệnh ho lao là bệnh hay lây. Hình ảnh một thiếu phụ trẻ đẹp, trọn đời phục vụ loại bệnh nhân ấy nhất là biết rằng thiếu phụ ấy tự cõi trời Tây văn minh giàu mạnh đến phục vụ tại xứ nghèo kém, vào thời mà một phụ nữ Pháp như thế đáng ra là ở vị trí các “bà đầm” rất oai, rất hách, rất xa cách người Việt: hình ảnh ấy khiến tôi như đứng trước một cái gì vô cùng cao đẹp. Sự tương phùng giữa những bệnh nhân nan y với một hình ảnh tươi trẻ đẹp đẽ dịu dàng và có phần vui tươi, êm ả vừa tạo nên một cái gì vừa bi đát vừa hài hòa, tự nhiên đưa hồn người vào một thế giới khác, vượt mọi biên cương, mọi tầng lớp, mọi phân cách đối kháng, tranh chấp. Rồi một sự việc xảy ra làm cho tôi sửng sốt: Lúc ấy ở Huế có một người điên nhưng không phá phách hung tợn vẫn được để cho tự đo đi lại. Hôm ấy anh ta lạc vào bệnh viện, chạy lại gần bà phước nắm lấy tay bà và nói: “Sơ trẻ đẹp như vậy mà đi tu uổng quá!”
Câu nói ấy giúp tôi ý thức được cái cao quý trong sự hy sinh của các bà phước Công giáo. Nếu các chủng sinh bạn học hé mở cho tôi thấy khía cạnh “yêu Chúa”, thì bà phước ấy và câu nói của người điên này cho tôi thấy khía cạnh “yêu người” của những tâm hồn Công giáo ưu tư. Không thiếu gì những ni cô cũng có một cuộc đời cao quý như vậy, nhưng có chỗ khác nhau: là vị ni cô tuy đầy từ bi dịu hiền, lại có cái gì như điềm đạm tĩnh mặc; còn nơi bà phước lại có cái gì tươi đẹp ấm áp, gần như trìu mến âu yếm. Vị ni cô có thể cao xa hơn, còn bà phước gần gũi hơn! Đối với vị ni cô tôi có thể kính mến; với bà phước, tôi có thể mến yêu, tôi có cảm tưởng mình dễ làm nũng, vòi vĩnh hơn! Vị ni cô chỉ có phần xoa dịu, còn bà phước có cái gì gần như ấp ủ. Cụ thể hơn: khó hình dung vị ni cô cúi xuống hôn trán bệnh nhân, còn nếu bà phước có cử chỉ ấy, bà có cúi xuống hôn lên má bệnh nhân thì mình cũng thấy là tự nhiên! và nếu gặp một vị ni cô thì chắc rằng anh khùng kia không dám cầm tay mà nói lời gần như hỗn xược trên. Cũng tương tự như thế, khi so sánh Đức Bà Ma-ri-a, với Đức Quan Thế Âm, so sánh Đức Thích Ca với Chúa Giêsu; cũng như khó mà hình dung được Nhan Hồi dựa đầu vào ngực Đức Khổng Tử hay Ca Diếp dựa đầu vào ngực Đức Thích Ca, như tông đồ Gio-an đã dựa đầu vào ngực Chúa Giêsu trong bữa tiệc ly.
Xin nhắc lại, tôi chỉ đối chiếu để vạch rõ khác nhau như thế nào, chứ không có ý so sánh hơn thua. Bởi vì, nếu như so sánh hơn thua, thì cũng có thể chê Giêsu Na-da-rét là xuề xoà, thiếu “lễ” làm cho môn sinh có thể đi đến chỗ “lờn”! Có thể chê Giêsu là không được “mô phạm” lắm. Thầy trò chứ có phải bồ bịch đâu mà dựa đầu kề vai! Cái cảnh Giêsu Na-da-rét để cho Maria Bê-ta-ni-a ngồi dưới chân nói chuyện, rồi cái cảnh để cho ả giang hồ xõa tóc lau chân, ôm hôn cũng thật thiếu lễ! Giêsu mới hơn 30 tuổi đầu chứ đâu đã già như Liễu Hạ Huệ! Vả lại, có già đi nữa cũng phải giữ lễ chứ! Đọc Tin Mừng thường thấy Giêsu bị chê trách như vậy chứ không phải được suy tôn như một vị thầy khả kính đâu. Ngài có nhiều hành động bị coi là “đáng chê”, tương tự như hành động của một gã si tình, gây xì-căng-đan nhiều lắm! Ngài bị đóng đinh phần lớn cũng chỉ vì vậy, chứ Ngài có làm gì nên tội nên tình đâu! Thật ra Giêsu không có dáng dấp tiên phong đạo cốt chân tu tí nào cả! Vì Ngài nói Ngài làm nhiều cái chướng tai gai mắt người lớn lắm, chỉ có trẻ con là khoái chí thôi kể cả đứa trẻ con về mặt tâm hồn; là bọn hành khất đui què mẻ sứt phong cùi, trộm cướp giang hồ ở ngoài rìa xã hội! Lẽ dĩ nhiên là bọn làm đĩ ăn cướp công khai, chứ không phải ăn cướp ngụy trang hay mệnh phụ đánh đĩ kiểu Cai- Pha hay Hê-rô-đi-a đâu, có lẽ vì thế một nhà trí thức vô thần cỡ lớn đã nói với tôi rằng là “Nếu giả sử tôi theo một tôn giáo thì tôi sẽ chọn Phật giáo, vì cao siêu hơn, còn Kitô giáo sao mà có vẻ ‘bình dân’ quá!

5. BỨC TƯỜNG HỘI THÁNH
Mà đúng thế! trước khi nhìn nhận ra Giêsu Na-da-rét là “con” Thiên Chúa, đối với tín đồ Công giáo, tôi cũng có một thái độ tự tôn như vậy; và xem các tín đồ Công giáo như một lớp người thuộc hạ lưu, không có gì là cao siêu cả! Tôi cho rằng họ có một chút gì dễ thương (đúng hơn là đáng thương hại) của những kẻ thuộc lớp nghèo về nhiều mặt, bị một số giáo sĩ mê hoặc (nếu không muốn nói là lừa bịp) khác nào như một đàn cừu của Panurge! Từ ngữ “con chiên bổn đạo” càng làm ấn tượng ấy thêm nặng nề. Rồi cách các giáo dân xưng hô với linh mục là “lạy cha” quá khúm núm, quá khép nép, như luôn cúi đầu quì gối trước một ông Trời làm chúa tể qua trung gian mấy cha cố; quá nhẫn nhục, quá “chịu lụy”, “chịu khó bằng lòng”, luôn phục tùng “lời các cha dạy”, có vẻ “đập đi hô đứng”, ít nhiều như nô lệ! Từ đó dần dần trong trí tôi nổi lên ý nghĩ: Có lẽ giữa Giêsu Na-da-rét với giáo hội Công giáo có một sự khác biệt, một sự lệch lạc nào đó. Tin vui cứu chuộc của Giêsu đã bị Giáo hội biến thành một thứ bùa mê để thao túng, cầm buộc con người trong một xiềng xích tinh thần, làm cho con người trở nên ngoan ngoãn, hiền lành, dễ bảo, dễ trị; nhưng thiếu khí phách, thiếu tự do phóng khoáng - cởi mở - tiến bộ: một dạng “ngu dân” nào đó! Tôi gần như đồng ý với những kẻ đã cho rằng Giáo hội đã (vô tình hoặc hữu ý) biến lớp người thấp hèn trong xã hội thành một quần chúng luôn cam phận thấp hèn, có lợi cho lớp thống trị, và như vậy Giáo Hội có thể không trung thành với Giêsu Na-da-rét là người đã có ý muốn nâng cấp cứu vớt con người, nhất là lớp người thấp hèn, khốn khổ. Tôi hình như mang máng có ý nghĩ là giáo quyền đã phản ngược lại lý tưởng của Giêsu Na-da-rét, và cái thành kiến cho rằng có một sự đồng loã nào đó giữa đám thực dân và Giáo quyền thời đó và phần lớn hầu hết nằm trong tay các cố Tây dần dần hình thành và ăn sâu vào đầu óc tôi. Các “quan tây thuộc địa” và các “cố Tây” thành một cặp bài trùng. Sự dè dặt của tôi đối với hai linh mục Lefas và Cotté cũng như đối với Giáo quyền Công giáo nói chung (mặc dầu tôi có thiện cảm về mặt cá nhân đối với hai vị ấy và rất khâm phục Giêsu Na-da-rét) bắt nguồn từ cái nhìn như vậy về Giáo quyền. Những từ ngữ như “Giáo Hoàng”, “Đức Cha”, “các Cha”, “các Mẹ”, “các Thầy”... Chỉ gợi lên một hình ảnh quyền lực khống chế, bảo ban dạy dỗ sai khiến - làm cho khuất hẳn cái hình ảnh phục vụ của bà phước trong bệnh viện bài lao trên kia, và nhất là hình ảnh quỳ gối rửa chân cho môn đệ của Giêsu Na-da-rét.
Từ quãng năm '42 đến 45, mặc dù tâm tư tôi đã nhấm nhuần khá sâu đậm một nền văn hoá Kitô giáo, thái độ của tôi là yêu mến Giêsu và đề phòng cảnh giác với Giáo hội Công giáo (có phần nào ghét và sợ). Cái hình ảnh không mấy tốt đẹp về Giáo hội (qua các cố Tây) dưới cặp mắt của tôi lúc ấy, là do tôi nhận xét thực tế mà kết luận như vậy hay do thành kiến được tô đậm qua dư luận của một vùng ảnh hưởng Văn Thân khá sâu sắc? Tôi nghĩ có lẽ là do cả hai! Mà hình như hiện nay và chưa biết đến bao giờ, đối với không ít anh em ngoại giáo, tâm trạng phân biệt giữa Giêsu Na-da-rét mà họ mến phục với Giáo quyền Công giáo mà họ đề phòng, lánh xa (nếu không nói ghét và sợ) và bị phần nào phê bình là đi ngược lại với tinh thần chân chính của Giêsu, vẫn còn là tâm trạng khá phổ biến. Mới cách đây không lâu, một người bạn thân của tôi tâm sự, sau khi trải qua một thời gian lao lung thử thách:
– Anh ạ, trong những ngày gian khổ của tôi, hình ảnh Đức Giêsu là một nguồn an ủi lớn đối với tôi. Thế nhưng lạ thật, mỗi khi vào nhà thờ, tôi chỉ thấy được an ủi khi tôi có một mình, chứ hễ có sự xuất hiện của ông Cha là tôi muốn rút lui!
Tâm trạng ấy sai hay đúng, và lý do tại đâu, ta chưa nói tới, nhưng thật đáng để làm đề tài cho những Kitô hữu có lòng nhiệt thành tông đồ suy nghĩ.
Do đó, tôi cũng như phần đông các anh em ngoại giáo khác, thường có cảnh tình với các dòng tu hơn là với các linh mục triều, vì đó là những cộng đoàn có tính không “Giáo quyền” mà nét khiêm tốn, phục vụ, không nhuốm bụi trần lộ rõ hơn. Tiếc rằng các tu sĩ (trừ những bà phước tại các bệnh viện, cô nhi viện) thường ít lộ diện, còn các Đức Cha Tây đi xe hơi ra vào tòa công sứ, tòa khâm sứ, và các cố làm cha sở có vẻ ít nhiều phách lối, la hét quát tháo ầm ĩ, lại thường phổ biến hơn! Sau tà áo đen của các vị giáo quyền như thấy có lập lòe ngọn lửa của các giàn hỏa thiêu của các tòa “trừng giáo” (inquisition) mà tôi được học qua lịch sử Âu Tây thời Trung cổ, mà điển hình nhất là hình ảnh vị nữ anh hùng cứu quốc Jeanne d’are bị chính một vị Giám Mục kết án hỏa thiêu.
Xin thú nhận rằng: Đã gần 40 năm là tín đồ Công Giáo tuyên xưng xác tín rằng Hội thánh Công giáo Rôma là chính thống tông truyền, nhưng trong tiềm thức tôi, những thành kiến, những hình ảnh, những cảm xúc ấy vẫn còn tiềm tàng trong tôi! Lắm khi chúng vẫn vùng chỗi dậy khiến tôi phải phấn đấu cầu nguyện nhiều mới lướt thắng nổi cái cám dỗ rơi vào bước đi của anh em Tin lành, mà tôi nghĩ rằng dù quá trớn cũng không phải không có những nguyên do mà chúng ta cần suy xét kĩ, rất kĩ để tìm phương xóa bỏ cho tận gốc! Phải tận gốc, vì nếu không thì chỉ trong một hoàn cảnh lịch sử nào đó những cành lá sâu ấy không có dịp lộ ra, chứ nếu hoàn cảnh lịch sử lại đặt vào Hội Thánh những quyền bính giống như thời Trung cổ, thì chúng lại có cơ xuất hiện. Một ví dụ cụ thể: Ngay ở thế kỉ 20 này dưới chế độ Franco tại Tây Ban Nha, các thánh lễ của quân đội đều buộc mọi binh sĩ phải tham dự và lúc dâng Mình Thánh ai không bái quì (dù không phải là tín hữu) thì bị kỉ luật. Ôi thánh lễ tạ ơn, tiệc cưới Con Chiên mà như vậy thì còn gì nữa! Quyền bính nào tự bản chất cũng là sa đọa! (Le pouvoir corrompt par essence). Và ta có thể rút ra hệ luận này: Thời đại nào mà Hội Thánh không có quyền bính nữa gì cả, có lẽ sẽ là thời đại thực sự huy hoàng nhất, đáng vui mừng nhất! Bởi vì lúc ấy khuôn mặt của chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhượng được tỏ rạng nhất! 2000 năm lịch sử Hội Thánh đã chứng minh rằng đẹp đẽ nhất là những thời đại mà Hội Thánh được hưởng mối phúc thứ nhất và mối phúc thứ tám: “Phúc cho người nghèo khó” và “phúc cho các con khi các con bị bách hại vì danh Thầy” còn những lúc “nhân danh Thầy” mà hỏa thiêu người khác thì thôi!!
Tôi vẫn luôn tự hỏi: giả sử thực dân Pháp cứ tồn tại trên đất nước Việt Nam, thì có bao giờ tôi được thanh tẩy trong Hội Thánh Công giáo không? Hoặc giả nếu tôi là người không có đức tin mà sống dưới chế độ của Franco tại Tây Ban Nha thì cũng vậy! Và những tín hữu tân tòng lừng danh ở Pháp như Claudel, Péguy, Maritain, A. Carrel ... Nếu họ sống dưới triều đại của Louis 14 thì họ có theo đạo không? Và ngay cả Thánh Phaolô, nếu không chứng kiến cái chết của Thánh Tê-pha-nô, thì chưa chắc đã trở nên vị tông đồ số một của Hội Thánh! Nhiệm mầu thay mối phúc thứ nhất và mối phúc thứ tám. Ngược lại hai mối phúc ấy thì chỉ là họa, đại nhục cho Hội Thánh. Nói quá lời một chút cho dễ hiểu: Thay vì căm hờn oán ghét những bàn tay bách hại, có lẽ ta nên quì gối hôn lên những bàn tay ấy mà tạ ơn Chúa, vì chúa đã dùng bàn tay ấy để giúp môn đệ của Ngài thực nên giống hình ảnh của Ngài, làm chứng về Ngài giữa các anh chị em chưa biết rõ chân tướng của Ngài, chân tướng đôi khi bị hoen ố vì những bàn tay lem luốc của ta!... Lẽ dĩ nhiên, ta cũng phải cầu nguyện cho họ, cầu nguyện trong thương yêu chứ không phải a tòng xu nịnh để cho họ nương tay.
Trên đây là những suy diễn có tính cách chủ quan, chứ không tham vọng nêu lên những nguyên lý phổ quát, không dám tự cho rằng nó là đúng, mà chỉ là những cảm nghĩ thành thực về phía bản thân, một trường hợp cụ thể của một con người đã gặp phải những gì vướng mắc trên đường trở về với Chúa mà thôi. Nhưng dầu sao, đối với bản thân cá nhân tôi thì trên thực tế lịch sử: năm 1945 là một khúc quanh vô cùng có ý nghĩa, vô cùng trọng đại: cái hình ảnh Hội Thánh gắn liền với quyền bính được quét sạch, khởi từ cuộc đảo chính Nhật rồi tiếp đến là Cách mạng mùa thu. Cái vỏ “cố Tây” được bóc vất đi để lộ nguyên hình là các vị “thừa sai” của Chúa Kitô, mà đã có thời tỏ rạng qua dáng dấp của chân phước Théophane Vénard chẳng hạn. Tôi thấy rõ như vậy qua hình ảnh một linh mục Pháp trước thuộc Ban Giám hiệu trường Thiên Hựu sau thuyên chuyển ra làm cha xứ ở Quảng Bình, đến năm 1945 được về tập trung tại thà thờ Cầu Rầm ở Vinh. Nếu trên kia, tôi có nói rằng: hình ảnh ông thầy đã phần nào cứu vớt hình ảnh ông quan nơi thân phụ tôi, thì ở đây có cái gì tương tự: hình ảnh vị “thừa sai ngoại quốc” rời bỏ quê nhà sang Việt Nam, đem Tin vui của Chúa Kitô và bị tập trung tại cầu Rầm đã cứu vớt hình ảnh vị “cố Tây” đã khá in sâu trong tâm trí người ngoại giáo trước 1945. Cũng như hình ảnh vị Giám Mục Việt Nam tiên khởi địa phận Vinh lúc ra Thanh Hóa thụ phong Giám Mục, được gánh đi lủi thủi không tiền hô hậu ủng, không kèn, không trống âm thầm lặng lẽ phục xuống trước bàn thờ, như bị đè bẹp dưới cuốn Kinh Thánh đặt trên mình, đã xóa nhòa hình ảnh các vị Giám Mục áo Vàng áo Tím, oai vệ ngồi trên khán đài danh dự cạnh quan Khâm quan sứ trong các buổi duyệt binh vào dịp lễ Quốc khánh của nước Bảo Hộ Đại Pháp trước 1945.
Năm 1945 quả thật là Năm Đại Hồng Phúc đối với riêng tôi.
Đây là một câu hỏi luôn luôn trở lại trong tâm trí tôi: nếu không có năm '45 thì tương quan của tôi với Hội Thánh sẽ như thế nào? cũng như có anh bạn tôi ở miền Nam, tòng giáo năm 1963, khi trao đổi thường đặt câu hỏi: nếu không có năm 1963 thì không biết tương quan giữa anh ấy với Hội thánh sẽ ra sao? Vì trước đó anh thấy các Giám Mục quá gần gũi với Tổng thống, bộ trưởng, tỉnh trưởng và quận trưởng. Còn đối với một số anh chị em khác thì năm 1975 cũng đem lại cái gì tương tự như năm 1945 đối với tôi!

6. TƯƠNG GIAO LIÊN NGÃ VỊ
Sau những năm “sôi kinh nấu sử” từ năm 1938 - 1944 tại trường Thiên Hựu tôi đậu tú tài bán phần thuộc chương trình Pháp. Năm 1945, tôi chuyển sang lớp triết tại trường trung học Khải Định, vì hồi đó trường Thiên Hựu chỉ có đến lớp Đệ nhất là hết. Sang trường Khải Định tôi cảm thấy như bị “thôi nôi” khỏi cái nôi đã nuôi dưỡng tôi từ năm 38 đến năm 44. Đối với tôi, danh từ “Alma Mater” (mẹ cưu mang nuôi nấng): đúng là để mô tả trường Thiên Hựu của tôi, là nơi tôi đã sống 6 năm có lẽ là đẹp đẽ nhất của cuộc đời, trong tình thầy trò bạn hữu êm đềm, để trau dồi trí thức dưới sự hướng dẫn của một ban giáo sư có phẩm chất, gồm phần lớn là linh mục Hội Thừa Sai Ba lê. Cũng có một số thầy Việt Nam như ông Tạ Quang Bửu, Nguyễn Thúc Hào, Phạm Đình Ái, Huỳnh Ngọc Cang, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy... đều là những vị đáng bậc mô phạm. Hầu hết các vị này sau năm 1945 đều đứng vào hàng ngũ kháng chiến và còn sống mãi đến năm 1975 tại miền Bắc (đó cũng là điều mà anh chị em sau năm 1954 sinh sống tại miền Nam cần phải suy nghĩ).
Niên học '44-45 tuy ghi danh học lớp triết lý tại trường Khải Định, nhưng sau vài tháng tới trường khá chuyên cần tôi gần như bỏ học và không tới trường mấy khi: phần thì bệnh đau dạ dày tái phát, phần vì không thấy được thoải mái. Bầu không khí của ngôi trường Khải Định làm tôi thấy quá lạnh lẽo, thờ ơ, so với bầu không khí luôn luôn có vẻ gia đình tại trường Thiên Hựu vào mấy năm trước (hầu như thể những ai đã học tại các trường tư thục Công giáo đều đồng ý là ở đó có bầu không khí gia đình, kể cả các sinh viên trường Đại học công giáo tại Đà Lạt).
Điều đó giúp ta thấy rõ rằng, dù sao trong một môi trường chịu ảnh hưởng của Chúa Giêsu Na-da-rét, tương quan liên-ngã-vị (relation intersubjective, interpersonnelle) cũng đậm đà hơn. Một gia đình, một họ đạo, một cơ sở Kitô giáo nào cũng mang màu sắc ấy (dù trình độ văn hóa và kể cả trình độ đạo đức cá nhân có thể là thấp). Nhiều nhà nghiên cứu về các tôn giáo đã nhận xét rằng: so một thiền viện với một cộng đoàn tu hành Công giáo, dù trình độ đạo đức bên thiền viện có cao thâm hơn bên cộng đoàn Công giáo đi nữa, bầu không khí của cộng đoàn Công giáo vẫn có cái gì thân hữu, đầm ấm, (dù có thể lắm lúc xảy ra cãi cọ tranh chấp) mà thiền viện không có (dù ở đấy luôn luôn là hòa thuận, không hề có tranh chấp, cãi cọ). Nói cho quá lời một tý cho dễ hiểu: có thể nói giữa các Kitô hữu có khi thì “thương nhau lắm” nếu là tốt, có khi thì “cắn nhau đau” nếu là xấu, nhưng vẫn là có nhau - nghĩa là dù tốt hay xấu đều có nhau, đều có tương quan liên- ngã-vị, hữu ngã và hữu tha trong cái với nhau. Còn trong những cộng đoàn tu sĩ Ấn Độ giáo hoặc Phật giáo thì vô sự hơn, vì cuối cùng là vô ngã và vô tha bởi lẽ trong căn bản, tha và ngã đều hòa tan trong cái Vô ngã hoặc cái Đại ngã Tuyệt đối, duy nhất đơn độc. Sở dĩ trong Kitô giáo cái tương quan liên-ngã-vị quan trọng như vậy là vì từ trong nguồn gốc của mỗi hữu thể, tức là trong Mầu Nhiệm THIÊN CHÚA tương quan lập hữu giữa Ba Ngôi (Cha, Con và Thần Khí) không phải là một tùy thể thêm vào một hữu thể nòng cốt; nhưng chính là “bản tính” của hữu thể. Nơi con người cái tương quan là cha, là con, là thầy, là trò chỉ là một chuyện phụ thuộc, có vất bỏ đi vẫn còn có con người. Còn nơi Thiên Chúa: Chúa Cha chỉ là Cha thôi, nếu không là Cha thì không còn gì nữa, cho nên chính cái tương quan ấy (Cha, Con, Thần Khí...) là bản tính của Hữu thể. Nói cách khác, nếu hỏi “Hữu thể là gì?” thì phải thưa: Hữu thể là cái tương quan lập hữu (relation subsistante) giữa ba ngã vị trong tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi, mà mỗi ngã vị khác, với tính cách trường tồn kể cả thân xác được mời gọi thông dự vào trong một tương quan liên-ngã-vị tồn tại vĩnh cửu
Đối với tôi, bao giờ bị rơi vào một môi trường thiếu cái khí quyển tương giao liên-ngã-vị ấy, tôi có cảm tưởng như cá bị lên cạn; vì vậy cuối cùng tôi tìm đến những môi trường thấm nhuần tinh thần liên-ngã-vị Kitô giáo. Tôi sợ nhất là cái hờ hững lãnh đạm quay cuồng của những cơ chế quay như guồng máy một cách phi nhân tính (anhumain). Thậm chí tôi còn cho rằng thà còn có tương quan vô nhân đạo (inhumain) còn hơn là phi nhân tính một cách hoàn toàn, hoặc còn hơn là phi ngã vị một cách có thể nói là trừu tượng mông lung. Từ ngữ “cận nhân” người bên cạnh (le prochain) trong câu: (hãy yêu thương người bên cạnh như chính mình) là chỉ cậu X, cô Y, ông N, bà H, anh A, chị Z có xương thịt có vui buồn cụ thể, hic et nunc (nơi đây và lúc này - nơi đây: cạnh ghế ngồi, đứng trước cửa, dưới gốc cây, lúc mấy giờ mấy phút ngày ấy, trên giường bệnh, trong rạp hát ...: lúc này: mấy giờ, mấy phút, ngày ấy, tháng ấy, năm ấy ...) sự gặp gỡ ở đây và lúc này chỉ xẩy đến có một lần duy nhất như thế, với những yếu tố cụ thể: lúc ấy trời nắng hay mưa, êm ả hay oi bức, dưới trận oanh kích hay trong buổi tiệc liên hoan, đang có thai, hay sắp sinh con hoặc mới lập gia đình, vừa được tin con tử nạn hay mới thi đậu vv và vv... tôi rất ngại những người yêu Nhân Loại (N viết hoa) trong lúc vẫn ngồi yên trong ghế xe công cộng, mặc kệ một cụ già hay một phụ nữ mang thai đứng tha hồ cho xe lắc lư người chen chật. Tôi rất ngại những người lo lắng việc kinh bang tế thế, mà không hề lưu ý xem, em bé nhà bên cạnh trưa nay bố mẹ đi vắng, có cơm ăn không? Vì lịch sử đã cho thấy bao con người bằng xương máu cụ thể bị hiến tế trên bàn thờ của những danh từ trừu tượng. Bà Roland trước khi lên đoạn đầu đài đã hét lớn tiếng: “Ôi Tự do! Tự do!" (cố nhiên là T viết hoa). Người ta đã phạm bao nhiêu tội ác nhân danh người!” Hình như Albert Camus có viết: “tôi yêu nhân loại lắm, nhưng tôi yêu Mẹ tôi hơn”. Tôi hoàn toàn đồng ý, chỉ xin thêm vào ... anh X, chị Y, ông Z, bà J, cháu T ... là những người cụ thể có thật, ở gần tôi, ở bên cạnh tôi, chờ đợi nơi tôi một cái gì cụ thể tức khắc, “hic et nunc”, đôi khi chỉ là một nụ cười, một cái nhìn thông cảm, yêu người bên cạnh, yêu tức khắc, vì chắc gì một tích tắc sau tôi còn sống để mà yêu Nhân Loại (viết hoa)! cũng xin nhắc lại ở đây tôi chỉ tâm sự chứ không nói chuyện sai đúng hơn thua.
Chính vì thế, vào năm 1945, sau khi rời ký túc xá trường Nguyễn Trường Tộ do các Linh mục dòng Chúa Cứu Thế quản lý tôi lại xin vào ở ký lúc xá trường Thiên Hựu, được Linh mục hiệu trưởng cho ở một phòng riêng, cùng với các anh Nguyễn Tu Khan (hy sinh tại mặt trận Lào năm l946) và anh Vương Đình Lương, hiện nay cùng với con cháu di cư vào lập nghiệp lại xã Xuân Sơn, Bình Giả, Đồng Nai, từ Nghệ Tĩnh vào Nam năm 1983. Được chung sống gần gũi với anh Vương Đình Lương là một sự cố rất quan trọng trong đời tôi, tôi sẽ nói sau. Có một điều rất đáng ghi nhớ là lúc ấy, anh Nguyễn Tu Khan và một anh khác cùng lớp có ý muốn gia nhập Hội Thánh Công Giáo, thì rất nhiều anh em bạn, trong đó tôi là một người hăng hái nhất, tìm mọi cách ngăn trở, tranh luận, châm biếm... tôi nghĩ rằng một người ngoài Công giáo muốn trở thành tín hữu thường gặp rất nhiều trở ngại, thuộc bình diện khách quan cũng như chủ quan, cần phải được ơn Chúa rất nhiều chứ không phải do tài hùng biện, lý luận hoặc đạo đức, gương sáng của người tông đồ mà đủ! Sau này tôi mới biết rằng trong Hội Thánh còn có những dòng tu chuyên việc cầu nguyện xin Chúa ban ơn cho kẻ khác, quả là một việc rất đúng! Do đó, về sau tôi càng xác tín rằng ơn được trở lại của tôi, chủ yếu là do ơn Chúa ban nhờ lời cầu nguyện của những tâm hồn thánh thiện, trong đó tôi có cảm tưởng Thánh nữ Tê-rê- sa Hài Đồng là vai chính. Khi qua Pháp được diễm phúc hành hương tại Li-di-ơ tôi đã đi với lòng tạ ơn sâu thẳm đối với một vị Thánh vừa là bà chị vừa như là một người Mẹ, nếu không nữa thì một người nữ hộ sinh, một nhũ mẫu của linh hồn tôi. Một điều lòng tôi vẫn ước ao trong đời sau này, ngoài việc chiêm ngưỡng tôn nhan Thiên Chúa và Đức Mẹ ra. Tôi còn có được niềm vui cùng “Bà chị” ấy hàn huyên, kể lể chuyện trần gian. Nghĩ đến giây phút ấy, tôi có cảm tưởng như một đứa em còn xa nhà hướng về ngày đoàn tụ: bởi vì ngoài Thánh nữ ra, còn có song thân của Thánh nữ là các anh chị em ruột thịt. Li-di-ơ! Li-di-ơ! Li-di-ơ! Khác nào như một quê hương thân yêu của tôi! Phúc cho ngươi: được là mảnh đất nở lên một đóa hồng đẹp tuyệt vời! 

7. THIÊN CHÚA TƯỚC ĐOẠT
Tưởng cũng nên nhắc đến một mối tình nhân thế của tôi vào những năm 43 - 45, một cuộc tình vô cùng ngang trái, tuy không thảm khốc nhưng khá nhiều bi kịch tính vì là một mối tình bất khả (impossible) mà tôi - một mặt là kẻ phụ tình làm đau khổ kẻ khác, một mặt lại là kẻ bị đau khổ vì không được đáp lại! Đó cũng là một việc tô đậm thêm cho ý thức của tôi về trần gian này là nơi đầy khổ lụy, và làm cho tôi không còn chờ đợi gì ở một mối tình nào trên trần gian này nữa, khi mà tôi được biết là Chúa yêu tôi. Vả lại, những biến cố dồn dập xảy đến trên đất nước cũng như trên gia đình và cá nhân tôi làm cho vấn đề “tình yêu” nhân thế hầu như không có tác dụng gì đối với tôi nữa! Trước những vấn đề của thời cuộc đối với cá nhân, đất nước, Hội Thánh, Nhân loại, tâm tư tôi không còn chỗ cho tình yêu cá nhân nữa. Suốt cuộc đời độc thân, nhiều lúc nỗi cô đơn tràn ngập tâm hồn, nhất là những năm xa gia đình, xa đất nước; nhưng tôi vẫn không nghĩ rằng một mối tình nhân thế nào có thể lấp đầy chỗ trống của lòng mình, ngoại trừ Tình yêu của Đấng đã chịu chết trên Thập giá vì tôi, không phải là không có những mời mọc hoặc tôi không có những lúc chao đảo ngả nghiêng. Thế nhưng cuối cùng, càng lớn tuổi tôi càng thể nghiệm lời của thánh Âu Tinh: “Chúa đã tạo nên con cho Chúa, nên lòng con luôn khắc khoải mãi cho tới lúc nào con được gặp Chúa mới thôi! ”. Dĩ nhiên đây chỉ là trường hợp riêng tôi, không có tính cách phổ quát. Tôi biết có rất nhiều tâm hồn có kinh nghiệm ngược lại. Chính là nếm được một tình yêu nhân thế mà họ đã nhận ra được Tình yêu Thiên Chúa, đúng như lời thánh Phaolô nói: Hôn nhân là dấu chỉ của mầu nhiệm phối hợp cao vời giữa Chúa Kitô và Giáo Hội Ngài. Trường hợp của tôi không phải là phổ quát nhưng khá phổ biến, nhất là những tâm hồn ngoài Kitô giáo. Như tôi đã nói trên, việc trở thành người Công giáo thường khá khó khăn, nên Thiên Chúa phải dùng nhiều cách để gợi ý, mời mọc, thúc bách, phá vỡ những ràng buộc và ngăn cản thuộc mọi bình diện, trong những cách ấy, việc nếm qua kinh nghiệm cay đắng của tình đời là một cách khá hiệu nghiệm (tình đời ở đây không phải chỉ có tình yêu nam nữ mà là mọi mối tình khác nữa!). Chính Chúa Giêsu cũng mời gọi: “Ai mệt nhọc lao lung, hãy đến cùng Ta”. Một tâm hồn như Tê-rê-sa Hài đồng, mà cũng phải qua những kinh nghiệm bẽ bàng như vậy về tình đời mới đi sâu vào mầu nhiệm của Tình Yêu Thiên Chúa, phương chi tôi là một tâm hồn ứ đầy bao nhiêu là những điều thuộc về thế gian chất nặng, cầm buộc, cần phải dày công thanh luyện.
Quả vậy, nếu khi đậu tú tài, tôi được tiếp tục vào Đại học ngay, tốt nghiệp và thành đạt ngay với vợ đẹp con khôn, nhà cao cửa rộng, danh vọng quyền uy, rồi năm nay lên 60 tuổi, là một vị thượng quan hồi hưu có bổng lộc cao con cháu đùm đề, thì lòng tôi đã đầy ắp, hỏi có còn chỗ cho Chúa ngự vào nữa không? Khôn ngoan như vua Salomon mà cũng lìa bỏ Chúa vì bả vinh hoa, phú quí, tình ái! Thế mới hay khốn cho kẻ giàu, phúc cho kẻ nghèo! Tình yêu Chúa chẳng khác nào rượu quí muốn đổ rượu vào bình, phải trút hết những thứ đang làm cho bình đầy ứ; chính những sự cố xảy ra năm 1945 làm cho cái bình đời của tôi được đổ vơi đi những thứ nó đang đầy ắp: trước hết là sự sụp đổ về vị trí xã hội trước Cách mạng mùa thu. Dù không lấy làm vinh dự lắm về địa vị “con quan”, tôi vẫn thuộc về tầng lớp thượng lưu: một cậu tú con một vị danh Nho làm quan đến nhất phẩm, có tiếng thanh liêm và được vị nể, bản thân lại học giỏi, được thày yêu bạn mến, hướng tương lai tiến thân mở rộng về nhiều mặt: học vấn, tình duyên, địa vị, tài sản kể cả danh thơm tiếng tốt ít nhiều!... Cách mạng mùa thu đến như một cơn tỉnh mộng! Nhưng sâu xa hơn, Cách mạng mùa thu không phải chỉ là một cuộc cách mạng xã hội làm cho địa vị xã hội của gia đình tôi đổi thay, mà còn bắt tôi phải đặt lại vấn đề nấc thang giá trị về nhân sinh: thuyết Mác xít đặt cho tôi nhiều câu hỏi về mọi mặt. Và chính bình diện này mới là quan trọng: vấn đề nhân sinh quan trong căn bản của nó. Quả vậy, tuy từ 45 đến 55, gia đình tôi có quá nhiều bước chìm nổi đắng cay, nhưng cuối cùng chỉ có cá nhân thân phụ tôi là chịu thiệt thòi, mà cũng mãi đến cải cách ruộng đất vì một số sai lầm tả khuynh trong việc thực hiện của địa phương nên mới thế. Vả lại, nếu sức khoẻ của thân phụ tôi khá hơn, chịu đựng được một năm tại trại cải tạo, thì sau khi sửa sai, sẽ lại được phục hồi chức vụ một ủy viên của Mặt trận Liên Việt khu 4, và còn có khả năng là ủy viên trung ương. Không may, người quá yếu nên đã sớm từ trần sau mấy ngày vào trại. Đó là ý Chúa nhiệm màu, tôi đã đề cập trên đây. Chứ cuối cùng anh chị em tôi sau này trong xã hội mới, đều có địa vị tương đối khá: anh cả tôi về hưu với tiêu chuẩn ngang hàng thứ trưởng (cũng tương đương với thân phụ tôi lúc hồi hưu); em gái tôi hiện nay là ủy viên ban chấp hành trung ương Liên Hiệp Phụ nữ, các em trai tôi một là giáo sư đại học, một là phó tổng biên tập một tạp chí văn nghệ vào bậc thứ hai trong nước; em rể, anh rể tôi là kỹ sư, bác sĩ... Nói chung, trong chế độ mới gia đình tôi cuối cùng đều giữ được địa vị tương tự như trước. Mà phần lớn con cháu những gia đình, tương tự như gia đình tôi, cũng đều vậy cả cho nên, sự sụp đổ đây là sự sụp đổ của một nhân sinh quan: nửa phong kiến Nho giáo, nửa Tây học theo chủ nghĩa tự do tư sản chứ không phải sự sụp đổ về kinh tế xã hội dồn tôi vào thế kẹt nên sinh ra bất mãn. Bởi vì nếu tôi muốn thì ngay từ năm '46 cũng như sau này tôi vẫn có nhiều dịp có thể rất tiến thân trên đường danh lợi. Tuy trong căn bản không phải là “chán đời đi tu”, nhưng nhờ kinh nghiệm của một sự “đổi đời” mà ý thức được bản chất “đổi đời” của nhân thế
Cũng nên biết rằng trong nhân sinh quan của Kitô giáo cũng rất nhiều điểm trái với chủ nghĩa Tự do Tư Sản như: Chống cá

nhân chủ nghĩa, chống tự do quá trớn, chống lạm quyền tư hữu, chống tinh thần tài phiệt (phúc cho kẻ nghèo), chống một quan niệm học phiệt thượng lưu quá tôn trọng trí óc khinh dể lao động chân tay: Chúa Giêsu và thánh Giuse đều là công nhân. Thánh Phêrô làm nghề chài lưới, thánh phaolô tuy là người trí thức nhưng sinh sống bằng nghề dệt lều, các dòng tu là những trung tâm sản xuất tập thể tuyệt vời. Không phải cái nhân sinh quan ấy tự nó không phải không có những giá trị chân chính; nhưng quả là đã hết thời! Nó không giải quyết được vấn đề chính trị xã hội của nước Việt Nam, và nó cũng không giải quyết được vấn đề nhân sinh muôn thuở.
Vốn đã được bài học của cụ Phan Bội Châu, vốn đã thích thơ Tố Hữu, kính mến nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc (mà tôi biết là cộng sản), cũng như các vị: Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, vốn biết tiếng các bậc thày như Đặng Thái Mai, Võ Nguyên Giáp; là bạn thân với anh Đinh Nho Liêm, khá quen biết chị Nguyệt Tuế (Nay là Nguyệt tú phu nhân của tướng Lê Quang Đạo); và thấy các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Võ Liêm Sơn, các anh Tạ Quang Bửu, rồi sau này Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, các vị Giám mục, Thượng tọa, đều đứng vào mặt trận chung chống Pháp, tôi không bao giờ có tư tưởng chống đối cách mạng cả . Và mãi về sau cho đến nay, tôi không bao giờ có tư tưởng chống cộng sản cả! Điều đó rất dễ hiểu: vì lúc ấy tôi tuy chưa phân biệt được sự khác biệt giữa những người mà tôi cho là đều có lòng yêu nước: Nguyễn Ái Quốc, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Ngô Đình Diệm (riêng đối với ông Ngô Đình Diệm thì chính Hồ Chủ Tịch cũng xác nhận: “ông ta là người yêu nước, nhưng yêu theo lối của ông ta”), nhưng sau khi cụ Phan Bội Châu từ trần, người mà tôi nghĩ là nhà cách mạng số một chính là cụ Nguyễn Ái Quốc, và tôi vui vẻ hăng hái tham gia vào đoàn thể Thanh niên cứu quốc do sự giới thiệu của anh Đinh Nho Liêm, tại làng Gôi Mỹ và sau đó là xã Mỹ Hoà (gồm Bình Hoà hợp lại). Lúc ấy tôi đang ở Gôi Mỹ- là vì sau ngày đảo chính Nhật, thân phụ gởi tôi về quê là nơi người về hưu trí từ năm 1942.
Từ tháng 4-1945 cho đến tháng 8-1945, tôi có giúp việc tại Hội đồng Hương chính làng Thịnh Xá, chủ yếu là giúp cứu trợ nạn đói đang hoành hành tại miền Bắc, từ Huế trở ra. Chúng ta chẳng nhắc đến kỷ niệm đau buồn ấy làm gì, nhưng đến nay hình ảnh những chiếc xe bò chất đầy xác người chết đói lượm nhặt từ các vỉa hè thành phố Vinh, đem đi chôn tập thể, vẫn còn làm cho tôi cảm thấy ớn lạnh. Trong những tháng ấy công việc chính của tôi là cùng với một số anh em thanh niên Làng Thịnh Xá, hàng ngày chăm sóc một số chừng 50 em bé được tập họp tại đình làng, ngày hai bữa quyên gạo nấu cháo rồi phát cháo cho các em ăn đỡ tạm qua ngày. Suy nghĩ lại, về các nhà địa chủ khác thì tôi không có ý kiến, nhưng riêng đối với gia đình tôi tuy rằng sự quyên góp gạo cứu đói kể là nhiều; nhưng riêng tôi xét hết sức khách quan, thì vẫn chưa thật là đúng với lòng “nhân” của đạo Khổng, vì tôi còn nhớ số lúa giữ lại cho gia đình, so với nhu cầu cần kíp cho tới vụ hè thu tiếp đó, vẫn còn là quá nhiều. Đáng lẽ ra là phải tung ra cứu đói nhiều hơn nữa mới khỏi lỗi đạo Trời.
Sau thời gian sinh hoạt trong hàng ngũ Thanh niên Cứu quốc tại làng Gôi Mỹ (sau Cách mạng, gia đình tôi thuộc về dân cư chính thức của Gôi Mỹ, không thuộc Thịnh Xá nữa), khi hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính xã Mỹ Hoà được thành lập, tôi giữ chức vụ thư ký ủy ban hành chính xã Mỹ Hoà. Anh Đinh Nho Liêm được cử lên tỉnh hoạt động trong đoàn thanh niên Cứu quốc tỉnh, nhưng giữ chức vụ gì thì tôi không được rõ cho lắm. Như vậy là sau Cách mạng mùa thu, tôi được Cách nạng dung nạp và điều dụng tương đối tốt, nên không có gì đáng tiếc xảy ra. Thân phụ tôi sau một thời gian bị giam giữ tại nhà lao Vinh do yêu cầu của ủy ban kháng chiến tỉnh Nghệ An (nơi người là An sát năm l930), được đưa ra toà và được trắng án, trở về tham gia Phụ lão Cứu quốc, rồi Liên Việt xã và được bầu vào Hội đồng nhân dân xã. Cứ vậy mà tiến lên ủy viên ban chấp hành Ủy ban Mặt trận Liên Việt khu 4 cho đến năm l953 mới chịu các đau đớn do những quá khích sai lầm của cải cách ruộng đất. Bản thân tôi cũng được Cách mạng mở đường để tiến thân. Làm việc tại ủy ban hành chính xã được mấy tháng thì cấp ủy Việt Minh tỉnh Hà Tĩnh do anh Đinh Nho Liêm giới thiệu điều động tôi và người em gái kế tôi (hiện là ủy viên trong ban chấp hành trung ương Hội phụ nữ như đã nói ở trên) lên tỉnh xung vào đội Tuyên Truyền Xung Phong. Như vậy Cách mạng đối với gia đình tôi và bản thân tôi rất là tốt, không có gì là kỳ thị cả. Do đó đứng về mặt việc đời, tôi không có gì để gọi là oán hận, chống đối Cách Mạng cả. Và xét về mặt đời mà nói thì tôi lại là con người đã phụ lòng Cách Mạng (phụ lòng chứ không là phản bội - vì tôi không bao giờ tự mình đi vào con đường chống lại hay phá hoại Cách Mạng cả, nói là phụ lòng vì tôi đã tự mình rút lui để đi vào một con đường khác. “Khác” chứ không phải là đối nghịch hay phản động. Con đường ấy chính là con đường Tôn giáo.
Tôi đã đi sang con đường ấy như thế nào? Tôi dùng chữ “như thế nào (Comment) chứ không dùng chữ “tại sao” (pourquoi) vì nếu nói một cách tuyệt đối thì câu trả lời cho câu hỏi “tại sao” là do “ơn Thiên Chúa”, vì nó là nguyên nhân đệ nhất (cause première), nguyên nhân căn bản (cause fondamentale). Những điều tôi ghi lại sau đây chỉ là mô tả (décrire) những sự kiện bên ngoài (ngoài đây là hiểu theo nghĩa hiện tượng: hiện tượng khả giác như các sự cố và cả những sự kiện khả thức thuộc thế giới tâm linh) mà Thiên Chúa dùng như những nguyên nhân đệ nhị (causes secondes) theo qui luật tự nhiên (mà qui luật này do chính Ngài sáng tạo và thiết lập) để kéo tôi ra khỏi những đồn lũy khá kiên cố đã cầm buộc tôi, để tôi có thể đi đến với Ngài, khác nào như xưa Ngài đã phải dùng trăm phương nghìn kế để kéo dân Ngài ra khỏi Ai Cập và đưa vào đất hứa (cũng xin nói ngay là sau khi ra khỏi Ai Cập: dân Chúa vẫn còn phải lang thang 40 năm trong sa mạc; sau này sẽ kể lại cuộc đời lang thang của tôi gần 20 năm trong sa mạc trần gian này, sau khi đã gọi là thuộc về Ngài. Có lẽ mãi sau này mới gọi là đứng trên bờ sông Gio-đan mà thôi). Sở dĩ phải phân biệt “tại sao” và “như thế nào”là để giải quyết vấn nạn mà người ta vẫn nêu ra cho các người trở lại theo đạo. Như việc trở lại của Pascal chẳng hạn. Có một số biến cố đầu tiên, đó là vụ tai nạn giao thông làm cho ông suýt chết. Dĩ nhiên chắc hẳn Pascal phải trải qua một cơn sợ khủng khiếp. Do đó có nhiều người cho rằng Pascal trở lại chỉ vì bị kích động quá mạnh. Đúng trăm phần trăm! Rồi Pascal, vốn sức khoẻ yếu kém, bệnh tật liên miên, nên có người cho rằng ông trở lại chỉ vì không đủ cường lực thể lý chống chọi, phải tìm nơi ẩn náu, cũng đúng phần nào, vì Pascal cũng có nhấn mạnh đến những nỗi “khốn khổ” của con người (misères humaines). Cuối cùng có người còn nói Pascal thuộc dòng dõi phong kiến, hoang mang trước sự trỗi dậy của giai cấp công thương đang được nền quân chủ chuyên chế nâng đỡ nên sinh ra bi quan. Cũng có phần đúng! Vì thế, nên đặt tiền đề là: Không có Thiên Chúa, không có thế giới siêu nhiên, thì dĩ nhiên sẽ thấy, và sẽ chỉ thấy có những hiện tượng quả có thật ấy mà thôi và ắt sẽ phải kết luận rằng Pascal trở lại chỉ vì những hiện tượng ấy. Lô-gích trăm phần trăm. Chứng minh theo luận lý hình thức thì đúng thật một trăm phần trăm.
Thế nhưng, chỗ hở của lập luận ấy là phạm phải cái sai lầm “tiền đề tiền kết” kết luận đã có từ trước khi chứng minh rồi. Vì ngay từ tiền đề đã gạt hẳn Thiên Chúa và siêu nhiên! Cũng như kẻ đổ hết nước trong bình ra trước rồi mới biện luận để chứng minh rằng trong bình không có nước vậy! Việc Thiên Chúa đưa dân Ngài qua Biển đỏ cũng vậy, Ngài có sai tổ phụ Abraham hay các thiên thần hiện ra múc cạn nước đâu. Ngài chỉ can thiệp một cách gián tiếp qua trung gian những quy luật tự nhiên, chỉ có con mắt đức tin mới chọc thủng lớp nguyên nhân đệ nhị ấy để thấy được nguyên nhân đệ nhất, nguyên nhân nền tảng lồng xuyên qua chuỗi hạt nguyên nhân đệ nhị ấy. Do đó mà tôi không bao giờ chứng minh, tôi chỉ 1àm chứng về một NIỀM TIN, một NỖI YÊU. Mà nỗi niềm tâm sự thì hỏi ai bây giờ? Hỏi ai? Nhưng ai lại chẳng có nỗi niềm phải không ai? Chữ ai nhắc đến câu nói của Phaolô: “Tôi biết tôi tin vào Ai" (“qui”chứ không phải “quoi”, “ai” chứ không phải “cái gì”), cho nên đây là một thế giới của những cái “ai”: một Ai nói với một Ai về một Ai chứ không phải là việc tìm cách kiểm chứng về một cái gì, điều mà máy móc làm chính xác hơn con người! Còn Luận lý hình thức (logique formelle) chỉ là một guồng máy thực ra cũng vô tri vô giác; A = A thì thực ra có biết thêm gì đâu! Lô-gích chỉ là cái máy vận dụng cơ giới chơi không (formelle) chứ có nắm được hiện thực gì đâu (nó chỉ là cái vỏ nên mới gọi là formelle, như cối xay không có gì bỏ vào đó cả, không vẫn hoàn không). Giải thích sự trở lại của Pascal thành một đồ vật: ghi nhận trung thực kiểu chụp hình, rất rõ, rất chi ly, rồi đem vào guồng máy suy diễn luận lý hình thức, thì có khác nào đưa mía vào ép, đương nhiên nước ngọt chảy ra hết và chỉ còn xác mía. Quan âm Thị Kính bị kết án âm mưu giết chồng cũng vậy: ông chồng mở mắt ra chụp hình rất chính xác, “cô ta đang cầm dao kề cổ mình”, trong tiền đề đã gạt ra cái ý rằng đó có thể là một cử chỉ yêu thương: rồi đem suy diễn rằng dao kề cổ thì ắt là cắt cổ. Kết luận: âm mưu giết chồng thật đúng trăm phần trăm theo lô-gích hình thức! Trạng sư nào cãi nổi? Chỉ niềm “tin yêu” mới thấy được đó là một động thái yêu thương.
Quan sát kiểu chụp hình bằng máy ảnh , suy diễn kiểu thuần tuý luận lý hình thức đã gây ra bao vụ “oan Thị Kính”. Nguyễn Trãi chết cũng do vậy! Đợi đến Lê Thánh Tôn phục hồi thì muộn quá rồi! Thực ra Nguyễn Trãi bị kết án trước rồi, chuyện vua chết bên cạnh Thị Lộ chỉ là cái cớ, cái cơ hội, cái dịp để đưa ông ra xử trảm thôi. Trong lòng ông chồng Thị Kính vẫn nghi rằng vợ mình có thể giết mình, việc kê dao vào cổ chỉ là cái cớ để cho sự nghi ngờ ấy biểu lộ thôi! Thiên Chúa cũng vậy, người ta đã giết Ngài trong lòng họ rồi, thì tìm đâu ra Ngài nữa? Chứng minh chỉ là hậu biện cho một tiền đề. Tin yêu là thuộc lãnh vực tự do mà tự do thì biện luận, kiểm chứng chỉ là hậu biện hết. Đã gọi là tự do thì thoát khỏi mọi khuôn khổ, vì nó là tự khởi đầu .
Do đó, kể chuyện tâm sự của mình với ai là để “ai muốn nghe thì nghe” vậy thôi: rồi ai lại vẫn là “ai” tự do tuyệt đối, có tin ai, có yêu ai là chuyện riêng của mỗi cái “ai” muôn đời kín nhiệm.
Vả chăng suy cho cùng, một khi trí óc con người đã khép kín lại thì có A – A (luận lý hình thức) mới là chắc một trăm phần trăm, còn nếu mở ra, đi vào hiện thực, thì như một số nhà luận lý học đã nói: trong bất cứ một phán quyết nào về hiện thực (Jugement d’existence) cũng bao hàm, một chiều niềm tin. Bởi vì, ngay cả thế giới hữu hình này, xét về mặt “lý luận thuần túy” mà nói, thì lấy cái gì để bảo đảm trăm phần trăm rằng tất cả không là hư ảo như trong giấc mơ. Trang Tử có lý (thuần lý luận) khi phân vân không biết mình là Trang Tử mơ hóa bướm, hay mình là bướm mơ hóa thành Trang Tử. Và đó là luận cứ bất khả phi bác (về mặt duy lý luận) của một thuyết duy tâm (idéalisme, nên dịch là duy tưởng thì có lẽ sát nghĩa hơn), dù là sai hẳn về mặt hiện thực. Vả lại, triết gia Descartes không phải là không có lý phần nào khi nói rằng: cuối cùng sự phán quyết khẳng định về sự hiện hữu của ngoại giới phải dựa vào niềm tin ở sự hiện hữu của Thượng Đế Sáng tạo.
Tôi đã đi vào con đường tôn giáo như thế nào? Mãi đến nay vẫn cứ nhiều thân bằng hỏi tôi như vậy! Tôi xin cố gắng bình tâm trả lời trong mức độ có thể, vì đó là thuộc lãnh vực kín nhiệm cả. Trước hết, có lẽ cần khẳng định rằng tiềm tàng tôi đã có niềm tin vào một cái gì (đúng hơn là phải nói một dạng nào đó ít nhiều tính cách huyền nhiệm, siêu việt, tuyệt đối, vĩnh cửu) dẫu chỉ là lờ mờ mà thôi, là Đấng mà bình dân gọi bằng “Trời” hay “Bề trên” hoặc “Ơn trên”. Điều ấy gọi là cảm thức tôn giáo tự nhiên. Từ cái cảm thức tôn giáo tự nhiên ấy, con người lấy lý trí mình soi rọi để quan niệm hóa. Thường có hai xu hướng: – một xu hướng là đi đến kết quả khẳng định sự hiện hữu của một ĐẤNG TỐI CAO, nguồn gốc của mọi sự, ví dụ như trong Khổng giáo thì: Vạn vật ban hồ thiên. – Một xu hướng khác là đi đến kết luận phủ nhận sự hiện hữu của một Đấng như thế, mà cho rằng đó chỉ là kết quả những hiện tượng tâm lý xã hội, chính trị, kinh tế, tạo thành một ý niệm hoàn toàn chủ quan, không có hiện thực, mà ánh sáng của lý trí, nhất là của cái gọi là khoa học sẽ đánh tan như ánh sáng phá tan mây mù.
Tôi thuộc về xu hướng tin có Trời (một ông Trời chưa được quan niệm hóa rõ ràng), từ đó được củng cố thêm qua tư tưởng của Khổng giáo, nhất là qua trung gian của hệ thống luân lý: Đạo Trời, Lẽ Trời, Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân, quan niệm ấy gán cho Đấng Tối Cao ít nhiều yếu tố của một ngã vị cụ thể, nhưng đôi khi được coi như một Nguyên lý phần nào vô ngã (nói chung khá hàm hồ: nghiêng về phía hữu thể hữu ngã hoặc vô ngã, có lẽ tùy tâm trạng và hoàn cảnh mà yếu tố cảm tính hay yếu tố lý tính chiếm phần lớn). Một Tín Niệm nữa là: con người là “Linh ư vạn vật”; Từ ngữ “Linh” ở đây cũng có cái gì hàm hồ như chữ “Trời”, không hẳn rõ ràng là con người có linh hồn bất tử; nhưng là một cấp hữu thể cao hơn súc vật, có trí khôn, có lương tâm, biết phân biệt các giá trị sai đúng, xấu đẹp, thiện ác và cũng tiềm tàng một cái gì đó sẽ còn lại sau khi chết: “sinh ký tử qui”, “thác là thể phách còn là tinh anh”, “hương khói phụng thờ”. Tất cả những cái ấy là hạt nhân thừa kế từ ông cha lâu đời, từ những vi tử bản thân, tuy không thành một hệ thống minh bạch chặt chẽ nhưng đã chi phối suy nghĩ; cảm tính và hành vi của tôi. Lớp trí thức Tây Phương tư sản chỉ là lớp học vấn mỏng và cạn thuộc về lý trí. Cái khí quyển tương quan liên ngã vị của Kitô Giáo nói trên thì chỉ mới là một cái gì bàng bạc, cũng ví như một thứ hương ướp dần, một thứ hơi nước ngấm dần, chứ chưa kết tụ. Còn những gì thuộc về Lão giáo và Phật giáo thì cũng chỉ như áng mây, làn gió lãng đãng phiêu diêu tô điểm cho cảnh sắc nội tâm mà thôi. Chính cái hạt nhân cùng với lớp vỏ dầy, mỏng, nông, sâu ấy tạo nên một nhân sinh quan, mà tôi đã sống trong hiệu thực của gia đình và xã hội trước năm 1945, đem lại một sự ổn định quân bình nào đó cho chàng trai 20 tuổi, còn nuôi nhiều ước vọng và hoài bão tươi đẹp, nói chung là đáng phấn khởi. Cách mạng 45 như là luồng gió mạnh, làn sóng cuốn đi tất cả đối với một số tâm hồn ở vào tình trạng như tôi, thì cách mạng sau khi đã quét sạch ngôi nhà cũ, đã đưa họ vào một ngôi nhà mới rất nhiều giá trị, và họ đã hết mình đi theo như một con đường sống (một bài xã luận của anh Viện tôi nhan đề “từ Khổng giáo đến chủ nghĩa Mác-xít” nói lên khá rõ ràng việc này), mà tôi nghĩ như vậy cũng là phải, là dễ hiểu. Chủ nghĩa Mác-xít với tổ chức Đảng Cộng Sản, với lý tưởng độc lập và công bằng xã hội, quả đã đem lẽ sống cao đẹp cho bao thế hệ thanh niên đáng kính mến, một điều cũng đáng mừng: bao nhiêu tâm hồn đã tìm được ở đó một ý nghĩa cao đẹp cho cuộc đời và cống hiến đời mình cho sự nghiệp lớn lao. Còn tôi thì khác hẳn. Tôi đã được mở đường tiến thủ với đường lối chủ trương của Mặt trận Việt Minh dành cho những người thuộc thành phần xã hội như tôi. Bởi đó tôi không có gì phải chống đối, phản lại như các đảng viên thuộc các đảng chính trị đối lập thời đó, trái lại tôi thấy có nhiều điểm tương đồng với chủ trương của Cách Mạng, nhất là về mặt độc lập dân tộc và tôi cũng được sự thôug cảm của nhiều cán bộ mà tôi rất kính mến (và tôi vẫn giữ nguyên lòng kính mến cho đến trọn đời). Tuy nhiên, tôi vẫn thấy hình như lạc lõng bơ vơ trong những ngày giờ hoạt động trong hàng ngũ đội Tuyên truyền Xung phong. Sự sụp đổ của một chế độ cho tôi thấy tính cách thời biến của cuộc đời: thì ra ở đời không có cái gì là trường tồn, vĩnh tại. Quá khứ đã vậy, thì hiện tại tương lai cũng vậy thôi! Tôi không có gì tiếc nuối cái quá khứ ấy, vì vậy cũng không bao giờ có ý nghĩ tham gia những phong trào phản động hòng khôi phục quá khứ. Hơn nữa sau khi cụ Phan qua đời, người Cách Mạng số một đối với tôi vẫn là cụ Nguyễn Ái Quốc: do đó tôi cũng không tin vào một vị lãnh tụ nào khác, hòng tìm một con đường mới hay hơn đường lối do mặt trận Việt Minh đề ra. Và dần dần trong tâm tư càng đậm nét cái quan niệm này: ở trần gian, mọi sự đều chóng qua, đổi dời và tương đối; thế mà lòng tôi vẫn hướng về một cái gì vĩnh cửu, tuyệt đối, trường tồn. Trong khi đó thì dù thế nào đi chăng nữa, cuối cùng vẫn có người đau khổ, vẫn có người không tốt! Nói một cách khác: vấn đề tội lỗi và đau khổ của nhân sinh muôn thuở được đặt ra vượt mọi khuôn khổ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của bất cứ thời nào và nơi nào. Những vấn đề triết học mà tôi chỉ học một cách lý thuyết suông trong chương trình ban triết lý, những vấn đề nhân sinh mà tôi chỉ cảm xúc suông qua các tác phẩm văn chương, nay thực sự đặt ra cho tôi trong chính bản thân tôi. Đời là vô thường, là bể khổ, mọi sự đều là phù vân, đối với tôi lúc ấy không còn là đề tài triết lý văn chương nữa mà là hiện thực cụ thể. Sự vui mừng làm người dân độc lập, sự vui vẻ sinh hoạt với anh chị em trong đội Tuyên Truyền không đủ lấp đầy khoảng trống trong tâm hồn tôi. Tôi không hề luyến tiếc quá khứ, ngoại trừ có chút ít tiếc là không được tiếp tục con đường học vấn (tuy nhiên anh chấp ủy Việt Minh Hà Tĩnh lúc bấy giờ có xác quyết với tôi rằng thế nào rồi cũng có những chủ trương cho những thanh niên như tôi được tiếp tục trau dồi kiến thức để đào tạo nhân tài. Tôi tin vào lời ấy, và quả thực, số đông anh em trừ những anh em chọn con đường binh nghiệp hoặc chính trị và những anh em này về sau cũng được trau dồi thêm về văn hóa) hầu hết những thanh niên có trình độ thành chung, tú tài, sau này đều được tiếp tục học hành trở nên những chuyên viên thuộc mọi ngành, đều có trình độ văn hóa cao.
Cho nên, xét cho cùng, không phải vì sự bất mãn cá nhân hay gia đình mà tôi rẽ sang hướng khác, mà thực sự tôi đã được ơn thấy rõ: hình như cứu cánh cuộc đời không phải ở nơi trần gian sẽ qua đi này, mà ở một nơi nào khác: Lại có hai sự kiện làm cho tâm trạng tôi càng thêm đậm nét: 1. Sức khoẻ của tôi bị giảm sút vì chứng đau dạ dày mà tôi mắc phải năm 44, tái phát khá nặng; 2. Sự tan vỡ của chính phủ liên hiệp do sự ra đi của cụ Nguyễn Hải Thần... Như trên kia đã nói ngoại trừ lòng ao ước độc lập của dân tộc ra, tôi chưa hề có một quan niệm chính trị nào đối với vấn đề xây dựng đất nước Việt Nam sau khi độc lập cả! Lòng tôn kính với cụ Nguyễn Ai Quốc là do lòng kính mến đối với cá nhân cụ chứ không phải là do đã hiểu và theo lý tưởng Cộng sản mà cụ đã đem lại. Tôi hoàn toàn không đặt vấn đề ấy, chỉ mong sao độc lập đã, mọi chuyện tính sau - cho nên tôi khao khát thấy tất cả những ai có lòng muốn đuổi Tây ra khỏi Việt Nam đều đoàn kết lại kháng chiến đã. Sự phân rẽ, mà lúc ấy tôi cho rằng do ý thức hệ gây ra làm tôi buồn và chán ngấy, tôi lo ngại sẽ đi đến chỗ huynh đệ tương tàn, chứ tôi không hề có ý kiến gì đối với vấn đề ý thức hệ. Tình trạng chia rẽ ấy làm tôi buồn, và vì tôi không nghiêng về phía nào cả, nên tôi chỉ muốn rút lui đứng ngoài, khác nào như đứa bé thấy người lớn trong nhà xích mích, không bênh ai không lên án ai chỉ lặng lẽ rút lui đi chỗ khác để tránh nỗi buồn phiền. Và từ đó vấn đề chính trị đối với tôi, không bao giờ muốn nghĩ đến nữa. Và càng có kinh nghiệm sống, tôi càng ớn ngấy lánh xa.
Thế là phần vì bệnh dạ dày tái phát, tôi xin trở về nhà chuyên chữa và an dưỡng. Sau vài tháng thuốc thang, bệnh thuyên giảm, vì chưa có bằng tú tài phần II, tôi xin phép gia đình vào Huế chuẩn bị kỳ thi khóa hai năm 1946 do chính phủ Cách mạng tổ chức tại Huế, vì niên học 45-46 các trường trung học ở Huế vẫn tiếp tục mở, các kỳ thi vẫn được tổ chức bình thường. Thực ra, thi tú tài 2 chỉ là một dịp cho tôi được thay đổi, di chuyển cho thanh thản tâm tư, chứ lúc ấy cũng chẳng còn ham hố theo đuổi sự nghiệp nữa. Đã học hết chương trình thì đi thi một cái cho xong. Ở Huế lúc ấy bạn cũ chẳng còn mấy ai, vì phần đông đã đỗ tú tài 2 năm 45 vào khóa thi được chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức sau ngày Nhật đảo chính. Cuối niên học 45-46, tôi vào Huế thì gặp hai người bạn thân: Anh Phan Văn Đanh người cùng quê vào Huế học, sau đảo chính Nhật vẫn tiếp tục ở lại cho đến cuối niên học ấy, và anh Nguyễn Ngọc Cẩn người Bình Thuận (Cẩn sau này là em rể tôi). Sự gặp lại anh Phan Văn Đanh là một việc có ý nghĩa lớn đối với tôi. Anh Đanh là một tín đồ Phật giáo rất mộ đạo, có đời sống rất đáng kính, đáng mến. Lúc bấy giờ anh được vị sư chủ trì chùa Linh Quang ở đầu dốc Bến Ngự, là thượng toạ Thích Trí Thủ, cho tá túc tại chùa để học thi. Tôi cũng được chấp nhận ở cùng trong chùa với anh Đanh. Như trên đây có nói, từ lâu tôi vẫn mến cảnh trí tịch mịch vắng lặng của các ngôi chùa ở Huế, ít nhiều có cảm tình với đạo Phật qua trung gian các tác phẩm văn chương. Thời gian ở trọ Chùa Linh Quang, trong tâm trạng bơ vơ buồn nản nói trên, tôi trao đổi về đạo Phật với anh Đanh, với một số học tăng ở các ngôi chùa lân cận, và đôi khi cũng nghe vị sư trụ trì, là sư Trí Thủ giảng kinh. Nhưng nhất là đôi khi tôi đã vào chiêm bái tượng Phật, lần lần tôi tìm được sự an ủi do những giáo lý căn bản của đạo Phật mà tôi đã tiếp thu dược. Cuộc đời tu hành, thoát tục của các vị lăng ni, làm tôi chỉ muốn có cuộc đời như vậy: gác hẳn mọi việc thế trần, nương mình nơi cửa Phật. Thực ra, nơi đạo Phật, tôi chỉ tiếp thu phần tiêu cực, đánh giá cuộc đời thế tục dưới cái nhìn bi quan yếm thế, và muốn sống đời tu hành lánh xa bụi hồng kiểu Thúy Kiều hay Lan trong Hồn Bướm Mơ Tiên, hoặc Lan trong Tắt Lửa Lòng, chứ không thâu nhận được mặt tích cực của giáo lý nhà Phật. Thực ra, nói đạo Phật, tôi muốn sống cảnh chùa xa lánh cõi đời, chỉ nương nhờ cửa Phật chứ không tin vào Phật pháp. Nói chung cách khác, tôi chỉ bị lôi cuốn bởi đời sống cửa thiền chứ không phải tin theo Phật đạo! Nếu tôi có ý đi tu thì chỉ là mượn nhà chùa làm nơi ẩn dật, chứ không phải là thực sự trở thành tín đồ của Phật giáo. Tôi chỉ muốn tìm cái hương vị của cảnh sống ở chùa để quên đi những nỗi ưu phiền, để mình chìm vào một sự u tịch, chứ không phải đã có tinh tấn tu chứng Phật pháp. Đi tu để tránh đời là chính, còn cửa Phật chỉ là dạng thức mà bất cứ người Việt Nam nào (ngoài Kitô giáo) hễ nghĩ tới đời tu hành tất là phải liên tưởng đến. Giáo lý nhà Phật đối với tôi chỉ là cái áo tri thức khoác vào một cuộc đời “Tị thế” mà thôi. Do đó, tôi thực ra đã phóng chiếu cái tâm trạng bi quan yếm thế của mình, khoác cho cái vỏ là phần tiêu cực Phật giáo, chứ không sở đắc phần giáo lý xây dựng tích cực của Phật giáo, (mà phần này mới là cốt lõi của Phật giáo). Phân tích kỹ, tôi thấy nơi tôi chỉ có những cảm thức nhuốm một màu nhàn nhạt của Phật giáo, qua một loại văn chương ít nhiều pha trộn lãng mạn (Sơ kính tân trang, Kiều, Hồn bướm mơ tiên, Tắt lửa lòng) và một ước mong sống xa lánh việc đời theo cung cách của các nhà chùa, chứ không tiếp thu cái cốt lõi của Phật giáo. Thực ra điều tôi tìm kiếm lúc ấy là đời tu hành chứ không nhắm theo Đức Phật tìm đạo giải thoát trong giáo lý của Phật giáo.
Từ ngày vào Huế trú ngụ tại Linh Quang mùa hè năm 1946, cho đến quãng năm 1948, tôi là một tâm hồn phiền não được xoa dịu bởi lòng từ bi của anh Phan Văn Đanh và một số đạo hữu cũng như một vài vị sư trong khung cảnh tu hành an tịnh của một vài ngôi chùa, với hình ảnh tọa thiền trên tòa sen của Đức Phật và bóng dáng dịu hiền của Đức Quan Thế Âm chứ không lãnh hội gì mấy về giáo lý của đạo Phật cả. Nhưng lúc ấy tôi cứ tưởng mình là Phật tử rồi. Kỳ thi tú tài II, khoá II năm 1946 tại Huế, tôi trúng tuyển: còn nhớ đề thi triết là “Anh hãy phân biệt triết học với tôn giáo” kể ra cũng là một sự trùng hợp kỳ lạ với tâm trạng tôi lúc ấy. Vị giám khảo môn triết lý lại là Linh Mục Nguyễn Văn Hiền (lúc đó làm cha sở họ Thừa Lưu, địa phận Huế, sau này làm Giám Mục tiên khởi địa phận Đà lạt và có lúc là chủ tịch Hội đồng Quản trị Đại học Đà lạt mà tôi là trưởng ban triết lý).
Một kỷ niệm mà tôi ghi nhớ trọn đời là trong thời ở trọ học chuẩn bị thi tại chùa Linh Quang có nhiều buổi chiều lúc hoàng hôn xuống; tôi đã xin chú tiểu nhường cho việc gióng 108 tiếng chuông thu không ngân nga trầm mặc, bên dốc bến Ngự, cách nơi an nghỉ của bậc cách mạng mà tôi tôn kính vô cùng là cụ Phan Bội Châu chỉ độ hơn trăm mét thôi.

8. ĐỨC GIÊSU TRONG HỘI THÁNH

Thế là sau khi đậu tú tài II vào tháng 9 năm 1946, tôi từ giã Huế về quê, với tâm niệm mình là một phật tử có ý nguyện là mình sẽ xuất gia khi gặp dịp thuận tiện, lúc ấy, tác phẩm mà tôi say sưa đọc đi đọc lại rất nhiều là cuốn “Ánh Đạo Vàng” của ông Võ Đình Cường, một Phật tử nổi tiếng ở Huế. Vị sư mà tôi quí trọng nhất là sư Thích Mật Thể, phong cách của Ngài dịu hiền, luôn như tỏa ra một cái gì làm cho kẻ đến gần thấy được đón nhận với một lòng từ bi đôn hậu.
Trên đường về quê tôi ghé thăm anh Vương Đình Lương, lúc ấy làm hiệu trưởng trường trung học tư thục do Linh mục Vương Đình Ái làm quản hạt Nghĩa Yên quản lý, tại huyện Đức Thọ. Ngôi trường khá đồ sộ so với điều kiện của một huyện lỵ thời đó. Trước năm 45, tên trường là Saint Joseph, sau đổi là Đậu Quang Lĩnh, tên một vị Linh mục có tham gia phong trào cách mạng với cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp kết án giam tù ở Côn Đảo. Anh Vương Đình Lương mời tôi cộng tác với tư cách giáo viên phụ trách môn việt văn. Thế là tôi trở về với môi trường tư thục Công giáo, phảng phất bầu không khí như trường Thiên Hựu, nhưng với tư cách là một giáo viên. Được trở về sống trong cái khí quyển mà tôi đã hấp thụ sáu năm tại trường Thiên Hựu, tôi như một ngọn cây đang bị héo rũ, bỗng được tưới mát hồi sinh. Tôi dạy học có kết quả tốt, học sinh yêu mến, bạn đồng nghiệp cũng dành cho nhiều thiện cảm. Tôi lưu trú ngay lại trường, và thường đi lại với các gia đình Công giáo thuộc hai xứ Nghĩa Yên và Thọ Ninh là làng của anh Vương Đình Lương, tôi vẫn thỉnh thoảng gặp lại anh Phan Văn Đanh và lui tới với một vài Phật tử, nhất là gia đình ông Lê Hữu Tấn. Ông Tấn có một người em trai lấy người chị họ tôi, con một bà cô có một người chú lấy một bà cô khác của tôi, thân sinh của ông Tấn là cụ Cử Dư, hình như đậu cùng khóa thi hương với phân phụ tôi. Gia đình Lê Hữu là con cháu của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.
Trong thời gian hai niên học 46 - 47, dạy học tại trường Đậu Quang Lĩnh, tôi hình như sống trong môi trường của một thế giới thuần túy Công giáo. Ngoài các sinh hoạt chức nghiệp của trường, tôi chỉ đi lại với các Linh mục, các đại chủng sinh giúp xứ tại nhà xứ Nghĩa Yên và Thọ Ninh, nhất là với gia đình anh Vương Đình Lương. Dần dần, tôi mới khám phá ra rằng chỉ có môi trường Công giáo mới hợp với con người tôi, và có lẽ tôi chỉ sống được trong môi trường ấy mà thôi. Vì sao? Sau cách mạng 45 cái nền văn hóa của gia đình tôi và của làng xóm cứ dần dần bị quét sạch. Sinh hoạt ngoài xã hội tuy có sôi nổi đầy hoạt động nhưng lại không thấy thích hợp, vì sinh hoạt ấy quá thiên về đoàn thể bên ngoài, quá nặng nề về chính trị, hình như đời sống của bản thân bị hạn chế, không triển nở nặng nề tập thể hơn là tương giao liên-ngã-vị. Chỉ có tình đồng chí mà thiếu tình bạn, hiểu theo nghĩa chân tình riêng tư mật thiết (intimité) chìm sâu bên trong. Còn cuộc sống gia đình thì như một sự khô héo nào đó, vì những giá trị được tôn trọng theo truyền thống xưa kia như bị héo mòn dần. Sau những buổi sinh hoạt có tính cách cao trào, về gia đình như thể có một cái gì như một thời hấp hối ủ dột thê lương! Tình cha mẹ, anh chị em yêu thương thì vẫn có cái gì như cây đại thụ đến thời héo rũ chết, thương nhau mà chỉ biết im lặng nhìn nhau bùi ngùi.
Trái lại, tại các xóm đạo, trong các gia đình Công giáo thì tôi cảm thấy như sinh khí vẫn dồi dào, tương quan vẫn có cái gì đằm thắm sâu xa mật thiết, đầy sinh khí tuy có vẻ thầm lặng kín đáo nhưng vẫn vui tươi ấm áp. Nhất là những giờ kinh sáng tối trong gia đình hoặc tại nhà thờ tuy chưa có đức tin tôi vẫn cảm thấy như mình là cây được cắm vào lòng đất có nhựa sống, được bao bọc và sưởi ấm bởi tình người trong tương quan liên-ngã-vị. Có lẽ tôi đã cảm nghiệm mầu nhiệm các Thánh thông công trong sinh hoạt của Hội Thánh Công giáo trước rồi sau mới phát giác ra rằng: mối dây của sự thông công ấy là Chúa Giêsu mà ngôi thánh đường có nhà tạm, nơi Chúa ngự, có đèn thắp sáng là trung tâm và vị linh mục, Giám mục là đại diện và thừa tác viên (đại diện: vicaire, thừa tác viên: ministre, phục vụ, phục dịch viên: do chữ ministrare). Mỗi giáo xứ, mỗi Cộng đoàn Công giáo quả là một gia đình! Bếp lửa, mỗi tổ ấm (foyer) ấm cúng, có lò lửa sưởi ấm là Chúa Giêsu, mà Thánh Thể là bí tích về sự hiện diện, tuy vô hình nhưng thực sự của Ngài, vị tư tế là đại diện và thừa tác viên, các tín hữu là anh chị em, là con chung của Cha trên trời. Và trong tổ ấm ấy, đời sống cộng đoàn (communauté) chứ không phải tập thể (collectivité) vẫn không làm giảm tương quan liên-ngã-vị cá thể: vì mọi tín hữu đều có tương quan riêng duy nhất, trực tiếp với Chúa Giêsu trong một sự kín nhiệm mà không một người thứ ba nào có quyền xâm lược bằng bạo lực hay âm mưu xảo trá.
Về mặt này, tôi nghĩ rằng vấn đề căng thẳng giữa cá nhân và đoàn thể, chỉ có cộng đoàn Công giáo là giải quyết tuyệt vời. Sau này tôi mới biết rằng là nhờ phạm trù nhiệm thể và chi thể Đức Kitô mà vấn đề được giải quyết mỹ mãn đến mức độ tối đa. Đặc tính này ta thấy rất rõ khi nghiên cứu các luật dòng tu và qui chế của các dòng tu Công giáo. Ví dụ: một mặt thì tu sĩ vâng lời bề trên cộng đoàn, một mặt thì hàng năm có cuộc kinh lược của vị đại diện bề trên hoặc của bề trên tổng quyền gặp riêng từng tu sĩ, hoàn toàn bảo mật không ai có quyền xâm phạm. Các thể thức bầu Giáo Hoàng và tuyển chọn Giám Mục cũng vậy. Hầu như tổng hợp rất nhuần nhuyễn tính cách quân chủ và dân chủ. Ví dụ tôi rất thích tương quan giữa tôi với vị Giáo Hoàng, vì một mặt nó có cái gì làm thỏa mãn lòng khao khát trung quân hiếu tử của truyền thống Nho giáo trong mạch máu của tôi, một mặt thỏa mãn cái tinh thần dân chủ mà tôi hấp thụ được từ nền học vấn của Pháp. Còn mẫu mực xã hội sản xuất tập thể thì có lẽ không đâu bằng ở dòng tu. Ở đó, sau các giờ sinh hoạt tập thể với kỉ luật hết sức chặt chẽ, mọi tu sĩ lại trở về phòng riêng hoặc quì chầu Thánh Thể, chìm sâu mất hút vào đời tĩnh nguyện nội tâm dường như trên cả vũ trụ chỉ có một mình mình đối mặt với Thiên Chúa chẳng khác nào một vị ẩn sĩ độc tu.
Và ngược lại trong giờ kinh nguyện thì bất cứ vị ẩn sĩ độc tu nào cũng thấy mình như tan biến mất trong Nhiệm thể Chúa Kitô, nơi mà hàng trăm triệu người trở nên như một (kể cả sự nên một với tổ phụ Abraham, cho đến các tín hữu cuối cùng trước ngày tận thế, có thể vài chục, vài trăm triệu năm về sau).
Nhưng điều quí giá nhất mà tôi, dần dần đã khám phá được nơi những cá nhân cũng như các cộng đoàn Công giáo, không phải là những giá trị bình diện con người trong các khía cạnh khác nhau. Những giá trị ấy thực ra có những nét độc đáo, nhưng ở nơi những người và cộng đoàn Công giáo Việt Nam chỉ mới ở mức độ rất bình thường! Mà xét về một vài khía cạnh nào đó, đôi khi có thể còn kém thua những người, nn cộng đoàn khác. Ví dụ: nói về phương diện hiền hòa, phần đông các vị sư đều hơn các Linh mục; về mặt nghiêm túc mực thước, có lẽ các vị túc nho hơn các Linh mục. Đi xa hơn, có thể nói Đức Giêsu chỉ dạy “yêu người”, chứ Đức Thích Ca, với giới luật cấm sát sinh, còn dạy phải “thương yêu bất cứ sinh vật nào”. Đôi khi có thể nói người Công giáo (ít ra là người Công giáo Việt nam) nói chung hơi thiếu khí phách hiên ngang so với mẫu người Nho giáo vv… Do đó theo ý riêng tôi, điều đáng lưu ý nhất nơi những cá nhân và Cộng đoàn Công giáo nắm ở chỗ họ đang làm chứng một cách nào đó về một cái gì rất kỳ lạ, nói đúng hơn, về một con người: Đức Giêsu người Na-da-rét, còn gọi là Đức Kitô. Làm chứng bằng những lời truyền bá củng cố. Lắm khi làm chứng một cách hữu ý, nhưng trước hết làm chứng một cách vô tình chỉ bằng sự hiện diện của họ mà thôi! Thực ra từ bản chất, không phải chính họ chủ động trong sự làm chứng ấy bằng nỗ lực nêu gương sáng, nhưng chính là Đức Kitô đã dùng họ mà tỏ mình ra cho dù họ là những người rất tầm thường, và đôi khi còn tệ hơn nữa là khác! Nói theo tiếng chuyên môn thần học, người Công giáo cá nhân cũng như tập thể, đều là “bí của Đức Kitô”, là sự hiện diện và tác động của Đức Kitô trong hiện tại và ở nơi này (hic et nunc) chứ không phải họ chỉ loan truyền một tin vui xảy ra trong quá khứ cách 2000 năm về trước ở Thánh Địa xa xôi. Họ gần như là bí tích Thánh Thể vậy! Cũng như lúa mì thuộc hạng tốt hay xấu vậy, bột mì dùng làm bánh Thánh có loại thơm loại không thơm, loại thô, loại mịn, loại trắng, loại hẩm, nhưng khi đã được vị tư tế đọc lời truyền phép dưới tác động của Chúa Thánh Thần đều trở nên Thánh Thể cả, cũng đều có Chúa Kitô hiện diện thực sự. Cũng như là kim loại thì bất cứ chì, đồng, kẽm, thiếc, sắt, bạc, vàng hay bạch kim, hễ bắc vào cầu giao điện là có điện. Do đó tiếp cận với thế giới Công giáo, vừa có cái gì làm mình bị hấp dẫn, cái gì làm mình ngài ngại, đôi khi thấy rờn rợn, như thể đến gần cầu giao điện cao thế! Nói quá đi cho dễ hiểu: thế giới Phật giáo chỉ có hiền hòa mát dịu, thế giới Công giáo có cái gì gay gắt cường bạo (Chúa Giêsu có nói: phải dùng sức cường bạo (violence) để vào Nước Trời; thánh Phaolô thì dùng hình ảnh “vận động viên” chạy đua tranh giải). Hàn Mặc Tử cũng mô tả điều ấy được phần nào:
“Run như run thần tử thấy Long Nhan
Run như run hơi thở chạm tơ vàng”
Xét cho cùng, điều chính yếu đối với tôi không phải là sự phù hợp thoải mái tâm hồn tôi với môi trường Công giáo nhưng là ở chỗ qua môi trường ấy tôi tiếp cận được một cái gì khác mà môi trường ấy chỉ là chứng tích và là dấu chỉ. Đúng hơn, qua đó tôi tiếp cận được với một người đang hiện diện và tác động “hic et nunc”: Đức Giêsu Kitô. Nếu vào quãng năm l940, bức ảnh Thánh Gioan dựa đầu kề trái tim Chúa Giêsu và năm 1943 những bài suy niệm về cơn hấp hối của Chúa Giêsu trong vườn cây dầu của Pascal đã giúp tôi được biết Ngài như là một con người có thật, nhưng đã thuộc về quá khứ gần 2000 năm, và nếu các chủng sinh tu sĩ làm tôi thắc mắc về mối tình của hàng triệu người đối với một người sống dưới thời đế quốc Rô-ma, thì hai năm 1946 - 1947 và 1947 - 1948 cái Hội Thánh bé nhỏ và tầm thường đã có một ảnh hưởng quyết định. Cái Hội Thánh tại xứ đạo Nghĩa Yên thật tầm thường, tuy nhiên có nhiều nét khá hấp dẫn nhưng lại cũng có nhiều nét rất tiêu cực, và trừ vị Linh mục quản xứ ra, chẳng ai là đạo đức tài trí vượt bực! Thế nhưng, cái Hội Thánh ấy đã giúp tôi thấy sự hiện diện và tác động của Đức Kitô gần như là còn sống, sống giữa, sống trong Hội Thánh ấy! Và tôi thấy rằng những sai lầm thiếu sót của Hội Thánh, của các Giáo Hoàng, Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ, Giáo dân suốt 2000 năm lịch sử Tây Phương và gần 100 năm chủ nghĩa thực dân, những sai lầm thiếu sót mà trước đó đã làm cho tôi nghĩ rằng Hội Thánh đã phản ngược lại lý tưởng nguyên thủy của đạo Tin Mừng, thì nay tôi bỗng nhận thấy rằng: Hội Thánh Công giáo không phải là một cộng đoàn lý tưởng gồm những kẻ tài cao đức trọng, đã thể hiện được một đạo sống theo một giáo thuyết cao siêu thâm thúy gì cả! Hội thánh chỉ là một số người đủ loại, y như số người hành khất tật nguyền dơ bẩn lê lết bên vệ đường, bỗng được gọi vào dự tiệc cưới mà Chúa Giêsu có nhắc đến trong bài dụ ngôn mô tả Nước Trời. Họ được Ngài gọi, được Ngài chọn để sai đi làm chứng và mang sự hiện diện tác động của Ngài theo họ, tất cả do Ngài chứ không phải do giá trị cá nhân của họ gì cả. Borgia đã làm Giáo Hoàng, Richelieu làm Hồng Y. Cauchon làm Giám mục thì nếu có một ông Linh mục Tây nào đó, có thể đã nộp một Linh mục Việt Nam tham gia cách mạng cho mật thám Pháp, thì cũng thường tình. Ở thế kỷ thứ 19, một người Tây Âu mà không có óc thực dân thì phải là bậc Đại Trí, Đại Thánh! Người mà Đức Giêsu chọn là bọn thu thuế sài lang, có khi là đĩ điếm, trộm cướp còn đầy thành kiến, ganh tị, nhỏ nhen, ngớ ngẩn, sai lầm đủ thứ: cứ đọc kỹ Tin Mừng thì sẽ thấy nhóm môn đệ đầu tiên của Ngài, kể cả thủ lãnh các tông đồ là Phêrô, thật chẳng có gì là “ngon” cả, so với Quan Công, Trần Hưng Đạo, Nhan Hồi, Tăng Sâm, Ca Diếp, Anan, Platon, Các Mác, Lênin thì còn thua kém về nhiều mặt. Cho nên làm chứng tích về Giêsu có nhiều cách: cách của Gioan, cách của Phêrô (chối Thầy ba lần rồi ôm mặt khóc), cách của Ma-đa-lê-na, cách của Ni -cô -đê -mô, cách của người trộm lành (chỉ được một điều là biết nhìn nhận mình bị đóng đanh là đáng kiếp). Một cô danh ca đàng điếm như Eva Lavanière thì ra cái gì so với nữ triết gia Simone Weil, so với Nguyễn Thị Minh Khai? Ngay cả một vị thánh được xem như một bậc Thánh lớn là Tê-rê-sa Hài Đồng, hỏi đã làm nên trò trống gì được cái thành tích gì? Thế nhưng, tất cả chỉ làm một việc này: làm chứng về Đức Giêsu, làm cho người ta thấy Đức Giêsu hiện diện và tác động qua họ. Các môn đệ của Đức Giêsu như lời Bernadette ở Lộ Đức “đều là cái chổi cùn Chúa muốn dùng, dùng xong thì xếp xó” hay như chính Tê-rê-sa Hài Đồng nói: “tất cả đều là ngọn bút lông vô giá trị trong tay một nghệ sĩ tài tình!” Và như vậy thì nói hơi quá cho dễ hiểu: chổi càng cùn, bút lông càng xoàng lại càng chứng tỏ có sự hiện diện và tác động của Chúa. Hội thánh Công giáo không những là với tất cả những gì là nhân loại tính tầm thường (lắm lúc còn ghê rợn: như các giàn hỏa thiêu) của nó mà đôi khi xét trên một phương diện nào đó, chính nhờ sự tầm thường ấy mà nó là dấu chỉ, làm chứng cho sự hiện diện và tác động của Chúa Giêsu. Alexandre, César, Hán Cao Tổ, Thành Cát Tư Hãn, Napoléon… các thánh nhân và hiền triết dù vĩ đại đến đâu, đều là những người đã chết; còn Giêsu người Na-da-rét thì đang sống vì đang hiện diện và tác động. Hội thánh Công giáo cũng chỉ là nhóm người đủ loại như bất cứ nhóm người nào, chỉ khác ở chỗ là cho thấy được Đức Giêsu đang còn sống, hoạt động giữa trần gian mọi ngày, mọi giây, mọi phút, ở mọi nơi và sẽ như vậy cho đến tận thế. Thấy được điều ấy tôi kết luận:
“Giêsu là Thiên Chúa”
Và Ngài Đang sống sau khi đã chết thực sự, nghĩa là Ngài Đã Phục Sinh đúng như các sách Tin Mừng tường thuật.
Cũng nhờ đó tôi được giải tỏa điều vẫn thường gây khó khăn cản trở cho những ai muốn theo Giêsu mà không chấp nhận Hội thánh, tôi xin ghi rõ như sau:
Nếu Giêsu chỉ là một Thánh nhân thường, thì có thể tách rời Hội Thánh với Ngài, như tách rời bất cứ tổ chức nào với vị sáng lập nó. Ví dụ, tách rời hoàng tộc nhà Lê lúc mạt vận với Lê Lợi, tách rời một đảng chính trị nào đó với vị anh hùng vĩ đại đã lập ra đảng ấy. Thế nhưng, Đức Giêsu là Thiên Chúa, nên không thể tách rời Hội Thánh với Ngài, bởi vì dù Hội thánh là chổi cùn, là bút xơ hay thế nào đi nữa, thì Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người đã Phục sinh vẫn đang hiện diện và tác động trong Hội Thánh. Bởi lẽ Hội Thánh chỉ là lời mời gọi con người đến với Chúa Giêsu, chứ không phải là một tổ chức thế trần dành riêng cho một thiểu số ưu tú biệt phái! Hội Thánh không phải là Hội ái hữu hay câu lạc bộ dành riêng cho một lớp ưu tú tinh hoa của nhân loại. hội thánh là Đại gia đình của những kẻ biết mình là tội lỗi xấu xa cần ơn cứu độ. (Từ Đức Giáo Hoàng cho đến bất cứ tín hữu nào cũng thường đấm ngực thú nhận: “lỗi tại tôi! lỗi tại tôi! Lỗi lại tôi mọi đàng!” chứ không ai vỗ ngực tự cho mình là tài đức cả; ai cũng luôn nhớ lời Chúa nói: “không có Thầy các con chẳng làm nên trò trống gì”, nhưng “những điều sức loài người không làm được thì Thiên Chúa làm được”). Những người ấy đến lãnh nhận ơn cứu độ, và khi đã được lãnh nhận rồi, lại đi giới thiệu Vị lương y cho những ai ý thức mình là bệnh nhân cần cứu chữa. Lương y và Thánh dược thì chỉ có một mình ĐỨC KITÔ, là con Thiên Chúa làm người, đã chết và đã Phục Sinh, Ngài dùng Hội Thánh như kẻ đưa tin, như kẻ thủ kho dược phẩm thế thôi! Hội Thánh không phải là một trường phái giảng dạy đạo lý cao siêu, chân lý tuyệt vời, mà chỉ là một tổ chức do Đức Giêsu lập nên để làm công cụ đem ơn cứu độ. Hội Thánh gần như một tổ chức y tế đi cứu một nạn dịch đang hoành hành, chứ không phải đi giảng dạy y khoa tại trường Đại học dành cho các cô, các cậu có bằng tú tài. Công việc phải làm là đi khắp hang cùng ngõ hẻm, mang thuốc trừ dịch đến cho mọi hạng người, rồi lại nhờ những người ấy mang thuốc trừ dịch đến cho những ai biết mình đang mắc chứng bịnh nan y ấy. Thần dược đây cũng không phải chân lý cao siêu, đạo lý uyên thâm… mà chính là bản thân con người GIÊSU với sự sinh ra - sống với - chết đi - sống lại - và đang tác động qua các bí tích mà Ngài đã giao cho Hội Thánh giới thiệu (tức là rao giảng) và thừa hành phục vụ.
Khi đã nhận rõ sự thực cụ thể ấy (réalité concrète) thì việc gia nhập Hội Thánh qua các bí tích thanh tẩy là bước phải đi tới, chỉ còn vấn đề là thời điểm thuận lợi, với ý định dứt khoát và kịp thời. Tôi xin dùng một hình ảnh thô kệch nhưng rõ ràng và dễ hiểu: vào Hội Thánh không phải là ghi danh vào Đại học y khoa chỉ dành cho những sinh viên ưu tú, là vào bệnh viện vì biết mình mắc chứng nan y. Không phải là học hải dương học hay khoa học hàng hải, song là nhẩy vào tàu cứu nạn hồng thủy như nhảy vào tàu Noe. Càng ngộp nước càng không biết bơi, càng kiệt sức càng phải nhảy lên tàu gấp! Dĩ nhiên không biết mình đang trôi dạt giữa trùng khơi, hoặc biết vậy mà cậy tài ỷ sức, lại nghi ngờ thủy thủ là hải tặc thì hẳn tránh xa.
Tóm lại, cùng cùng với hoàn cảnh lịch sử, cuộc đời tôi từ 39 - 45 cho quãng đầu cuối năm 1948 đã diễn biến như sau:
Đảo chính Nhật và Cách mạng mùa thu như cơn gió bão quét sạch, làm sụp đổ những nền tảng căn bản cuộc sống về nhiều mặt của tôi (cũng như của bao nhiêu người Việt Nam khác).
Một con đường được mở mang, đầy hứa hẹn phấn khởi, là tham gia Cách mạng kháng chiến giành độc lập xây dựng một xã hội mới, một văn hóa mới, một con người mới theo ánh sáng chủ nghĩa Mác Lê. Một phần rất lớn nhân dân Việt Nam, trong đó gồm số đông thành phần ưu tú của giống nòi, đã chọn con đường ấy: con đường ấy đi đến thành côug rực rỡ vào ngày 1-5-1975, với chiến dịch Hồ Chí Minh lừng lẫy.
Một số đã đi các con đường khác.
Có con đường phản động, chống phá Cách mạng, tôi không đi theo con đường này. Hai năm 54 - 56, tôi có bị động viên vào quân đội Miền Nam: đó không phải là con đường tôi chọn, mà chỉ là cưỡng bức và chẳng qua là đi cho lấy có, như vạn bất đắc dĩ đi làm dịch vụ hai năm để cho rảnh rang để khỏi bị quấy rầy. Có con đường gác ra mọi ngoài lý tưởng, chỉ lo sống bằng yên vô sự, tìm dịp gây dựng cho bản thân và gia đình, tránh dính dáng vào bất cứ chuyện gì, để được an thân. Tôi cũng không đi vào con đường ấy.
Thế thì con đường nào? Qua các biến cố xảy đến cho bản thân và gia đình, dân tộc, xã hội, tôi ý thức rằng: độc lập dân tộc là quý, công bằng xã hội là quý, xã hội, chế độ cũ phải suy vong, một chế độ mới đang được xây đắp và đã là lẽ sống cao quý đáng tôn trọng cho rất nhiều người con ưu tú của dân tộc Việt, trong đó có anh em ruột thịt tôi, thầy và bạn đáng kính mến của tôi, tôi không có lý do gì để cản trở chống đối sự nghiệp đang được xây đắp với bao công lao hy sinh to lớn đó. Tuy nhiên, tôi cũng không theo chân các người ấy, bởi vì, riêng tôi qua các sự việc xảy ra trong những năm ấy, tôi ý thức rằng nhân sinh con người có một bình diện khác, căn bản hơn, sâu xa hơn, có tính cách muôn thuở, vượt mọi thời đại, mọi biên giới, mọi chế độ chính trị, xã hội, văn hoá: bình diện ý nghĩa và cứu cánh cuối cùng của thân phận làm người, với hai vấn đề chính là đau khổ và tội ác. Thời đại nào, gầm trời nào, chế độ nào cũng có nước mắt và máu chảy ra. Sinh - bệnh - lão- tử và tham - sân - si, đó mới là điều phải giải quyết trong căn bản. Đó là rễ, là mầm. Các hiện tượng tiêu cực khác chỉ là lá, cành, hoa, quả. Đó là điều các Thánh Nhân, bậc hiền triết tìm cách suy tư giải luận.
Trước năm 45, có thể nói trong thực tế, tôi sống trên một nền tảng Khổng giáo pha trộn một lớp vỏ tư tưởng dân chủ tư sản Tây Phương, Đảo chánh Nhật và Cách mạng mùa thu năm 45 giúp tôi ý thức rằng lịch sử đã sang trang, phải tìm cái mới.
Chủ nghĩa Mác Lê, tôi thấy không thích hợp với bản thân, vì chỉ đặt ra vấn đề giải quyết chế trần trong thời gian, trong khi tôi thấy nhu cầu phải tìm sâu hơn, xa hơn. Tự đáy tâm hồn, tôi khao khát một cái gì trường tồn vĩnh cửu tuyệt đối cho cái ngã vị của con người mà tôi nghĩ rằng có in dấu vết trường tồn, vĩnh cửu tuyệt đối, nỗi khao khát mà bất cứ giá trị cao quý nào của thế trần cũng không khỏa lấp được. Hình ảnh mẫu người tu sĩ hiện ra như lời giải đáp (tu sĩ nói chung chứ chưa nói về tôn giáo nào cả). Vốn là người Việt Nam ngoài Công giáo, vẫn ưa thích cảnh u tịch của các ngôi chùa từ thuở bé, vốn chịu ảnh hưởng tâm thức thiêng liêng nội tâm (consciene d’une vie spirituelle intérieure) nhuốm màu Phật giáo về khía cạnh nếp sống tu trì và cảm tình qua các tác phẩm văn chương (dù không sở đắc giáo lý của Phật giáo), cho nên trong bước đầu, tôi hướng về đời tu hành dưới hình thức đời sống nhà sư ở chùa, ẩn mình lánh xa thế tục. Thế nhưng rồi, với hai năm dạy học tại trường tư thục Công giáo Đậu Quang Lĩnh, sống giữa lòng hai xứ đạo Nghĩa Yên và Thọ Ninh, những gì tôi đón nhận qua những bài học giáo lý, qua các tác phẩm nghệ thuật Công giáo, nhất là qua các tác phẩm của bậc thiên tài khoa học, văn chương và thần hiệp là Pascal! mà tôi tích trữ trong sáu năm ở trường Thiên Hựu đã kết tinh lại, bùng khởi lên bằng câu trả lời; điều mà tôi tìm kiếm thấy là Đức Giêsu người Na-da-rét, là Đức Kitô, là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, chịu tử nạn và Phục sinh mà Hội Thánh Công giáo là tổ chức do Ngài thành lập để giới thiệu Ngài với mọi người đau thương và tội lỗi cần ơn cứu độ, là phương tiện để Ngài luôn luôn hiện diện và tác động, tuy kín nhiệm nhưng hiện thực, qua các bí tích mà trung tâm là bí tích Thánh Thể, nhằm giúp con người thực hiện được cứu cánh của mình, là qua cuộc sống ở đời này, tiến về cuộc lai sinh mà trong đó ngã vị chủ thể của họ, kể cả thân xác, được trường tồn tham dự vào cuộc sống tình yêu của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu là Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa ấy là Cha sáng tạo vạn vật từ hư vô, yêu thương loài người đến độ ban chính con Ngài cho họ để Người Con ấy đưa họ về nơi “Vĩnh cửu tình yêu”, bằng một sự nghiệp vĩ đại huy hoàng những đầy gian khổ là cái chết trên thập giá, con đường mà mỗi người được gọi chung bước với Ngài, để xuyên qua trần thế, tiến về Nước Trời muôn thuở ngõ hầu - cuối cùng tham dự vào chính sự sống, tình yêu, và phúc lạc của Thiên Chúa Ba Ngôi. Tôi cũng tìm thấy quy luật của chính cuộc sống là “tình yêu”: yêu Chúa và yêu người trong sự phục vụ đến quên mình vì Chúa và vì anh em tất cả, bất cứ ai chẳng trừ ai! Tôi thấy qua trung gian Hội Thánh, Đức Giêsu đến với tôi, mời gọi tôi, chờ đợi tôi để ban ơn cứu độ: đồng thời Ngài cũng mời gọi tôi phải cộng tác hoàn thành sự nghiệp cứu độ trong cộng đoàn Hội Thánh phổ quát, tông truyền, duy nhất là “Hội Thánh Công giáo”: đã được Ngài thành lập với nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng khắp nơi cho đến ngày tận thế, bởi vì Đức Giêsu sẽ ở cùng Hội Thánh, tức nhân loại được cứu về cùng Thiên Chúa Cha chí ái trong Chúa Thánh Thần.
Trước đó trở ngại lớn lao nhất ngăn tôi bước vào con thuyền Hội Thánh là các vị Giáo Quyền người Pháp. Trở ngại tự dưng được Chúa cất đi! Điều ấy làm tôi thấy rõ: Hội Thánh là mộl tổ chức “siêu quốc gia” lúc cần người Pháp quản lý cho thuận lợi thì đặt người Pháp, lúc thời thế thay đổi thì giao lại cho Việt Nam, chứ bản chất của Hội Thánh không dính líu gì với nước Pháp và chế độ thực dân nào cả! Chẳng qua là tùy cơ ứng biến, miễn sao Tin Mừng được loan truyền, chủ yếu là việc ban phát lời Chúa và Thánh Thể được thực hiện, còn lúc hành sự, nếu các Linh mục thừa sai có vô tình hay hữu ý phục vụ cho nước Pháp cũng là thường tình. Nếu họ có phần nào lợi dụng vị trí trong Hội Thánh mà phục vụ cho người Pháp thì có lỗi nhưng đó là lỗi cá nhân, chứ không phải chủ trương của Hội Thánh (nhất là qua sự đề nghị của dòng tên) vẫn chủ trương tiến tới thành lập hàng giáo phẩm bản quốc. Vì lý do này nọ, đã có sự trì trệ đáng tiếc trong việc thực hiện: việc này có lẽ trách nhiệm do từ nhiều phía lẫn lộn nhiều bình diện, tuy vậy cũng là quy luật lự nhiên của con người tội lỗi. Biến cố năm 45 cũng là một dịp tốt đẩy nhanh việc thực hiện kế đồ căn bản của Hội Thánh là thành lập hàng giáo phẩm bản quốc: là điều đã thực hiện trọn vẹn vào năm l960. Nhờ đó các thừa sai ngoại quốc tìm lại khuôn mặt đẹp đẽ sáng sủa của thuở ban đầu, thời của các vị như Théophane, Vénard: những tâm hồn quảng đại, lìa bỏ quê hương xứ sở xa cách gia đình dấn thân vào cuộc sống, sống đời hy sinh để phục vụ Tin Mừng: đem ơn cứu độ cho anh em khắp nơi bốn bể năm châu, không phân biệt dân tộc văn hoá, giai cấp, chỉ biết ai cũng là người đau khổ tội lỗi cần ơn cứu độ mà thôi! “Đẹp thay gót chân những sứ giả loan báo Tin Mừng”. Hội Thánh như con thuyền vượt biển, khi nhanh khi chậm, khi yên hàn khi gian nan, khi lên cao khi xuống thấp – với một cơ chế trần gian thay đổi, theo quy luật tự nhiên của tâm lý và xã hội của con người. Hội Thánh đồng hành với con người qua mọi nẻo đường, thì cũng chịu chung một nhân tình thế thái, đúng theo tinh thần nhập thế của Thiên Chúa Ngôi Hai. Hội Thánh vọc tay vào chậu bột làm bánh, lặn sâu vào bùn nhơ trần thế, như kẻ lặn sâu cứu người chết đuối, tránh làm sao khỏi tay lấm mặt vùi, áo quần tả tơi ướt mèm, có vậy Hội Thánh cũng cần ơn cứu độ. Chỉ có Chúa Giêsu mới là lương y và thần dược, còn Hội Thánh chỉ là môi giới mà chính bản cũng là tội lỗi cần được thứ tha và cứu độ như bất cứ người nào và tổ chức nào ở trần gian, các nghi thức phụng vụ bao giờ cũng bắt đầu bằng kinh “sám hối”. Có Kitô hữu nào tự xưng mình là “Thánh” đâu! Trái lại luôn xưng mình là “kẻ có tội”. Càng thêm gần Chúa lại càng thấy mình có tội lỗi, thâm chí còn thấy mình là người tội lỗi nhất trần gian, không dám đặt mình lên trên bất cứ ai, dù họ là kẻ giết người hay gian dâm. Vì thế, người Kitô hữu chỉ có ý tán đồng hay không về những việc làm cụ thể, chứ không hề lên án lương tâm con người nào cả! Ví dụ: việc giết người, việc tà dâm là tội, nhưng người Kitô hữu không dám có ý nghĩ gì buộc tội kẻ làm những điều ấy, vì đó là việc phán xét của Thiên Chúa và của lương tâm đương sự mà thôi. Có chăng thì cũng chỉ cùng với Chúa Giêsu mà dâng lời cầu nguyện: “Xin Cha tha cho họ vì họ chẳng biết việc họ làm”, cũng như Thánh Tê-pha-nô cầu xin Chúa đừng chấp tội kẻ giết hại mình. Khi thẩm lượng việc ác việc thiện, người Kitô hữu cũng chỉ lấy lời Chúa làm tiêu chuẩn chứ không dám lấy trí lự hẹp hòi u tối của mình làm thước vàng khuôn ngọc. Hội Thánh cũng chỉ làm công việc gìn giữ bảo tồn, diễn giải, áp dụng lời Chúa, chứ không phải lên mặt dạy đời nhân danh chính mình. Chỉ có Thiên Chúa mới là Thầy, là Cha duy nhất! Hội Thánh chỉ là “kẻ tôi tớ” được sai đi, có tháo hay buộc cũng là do lệnh của chủ, và trong khi thừa hành mệnh lệnh, nếu có lệch lạc sai sót cũng là chuyện thường. Chúa không làm phép lạ cho người của Hội Thánh không học việc đời mà vẫn thông thạo! Quyền vô ngộ của Đức Giáo Hoàng cũng chỉ mới sử dụng có hai lần, mà lại nhắm hai tín điều không dính dự gì đến việc trần gian cả. Mà mỗi lần đều được sử dụng trong những điều kiện thận trọng, và bảo đảm. Ngoài ra, Đức Giáo Hoàng cũng đấm ngực thú nhận như bất cứ ai khác:
Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng!
Thấy được như thế, tôi khao khát muốn được thuộc về cái đại gia đình mà thủy tổ Abraham, với cái viễn tượng mai sau trên Nước Trời muôn thuở cùng muôn dân, muôn nước, muôn ngôn ngữ, không còn biên giới ngăn cách, không còn kỳ thị chủng tộc, phân chia giai cấp, thượng lưu, hạ tiện, người thông thái, kẻ ngu dốt, quân tử, tiểu nhân chủ tớ, giàu nghèo, bậc thánh nhân, kẻ tội lỗi, quan dân, kể cả phân chia nam nữ cũng không! Tất cả chỉ còn là một trong Đức -Kitô, như Ngài và Chúa Cha là một, đầy ắp tương quan liên ngã vị trong bản nhạc tình yêu muôn đời của Thánh Thần, trong một cõi trời mới đất mới mà vật chất cũng sẽ đi vào vinh hiển. Tôi khao khát thuộc về cái đại gia đình tiềm tàng ấp ủ toàn cả nhân loại và vũ trụ sẽ được hiện tỏ mai sau, mà ở trần thế này, Hội Thánh vừa là mầm ươm, vừa là dấu tích, vừa là bảo chứng. Như thế, cuộc đời không còn là bể khổ, tình người không còn là dây oan nữa! Đau khổ chỉ là thần dược, là rèn luyện vun gốc chiết cành tỉa lá cho hoa thêm đẹp, quả thêm ngon: Còn tội lỗi thì chỉ cần biết thành tâm hối cải là được xoá sạch bởi máu con Chiên Thiên Chúa tiệc cưới đã dọn sẵn, chỉ còn biết mặc áo trắng đẹp đẽ vào dự liên hoan, mà thánh lễ là Biểu tượng, là Bảo Chứng, là gieo mầm chuẩn bị. Mọi sinh hoạt trần thế dù có tầm thường, vụn vặt, eo sèo đến đâu mà được lồng vào lòng mến Chúa yêu người cũng đều chất chứa viên ngọc quí giá vô ngần. Cả vũ trụ nhân sinh đang còn như một giọt nước đục ngầu treo mong manh đầu ngọn cỏ hầu sắp rơi tan vào cát bụi, bỗng như được tia nắng sớm rọi vào trở thành viên ngọc muôn màu muôn sắc long lanh rạng ngời, không mê đời, không chán đời, không lánh đời, mà yêu đời với tất cả nỗi niềm của nó, vì trái tim bé mọn của mình đã được kết hợp với trái tim của Người: mà lại là Thiên Chúa Ngôi Hai, trái tim đã đổ đến giọt máu cuối cùng vì yêu nhân loại, để cứu độ những ai biết đón nhận ơn thiêng.

9. CUỘC VƯỢT QUA

Thế là tôi đã quyết định bước vào ngưỡng cửa Đại Gia Đình Công giáo, tiến tới việc xin đón nhận ơn Thánh Tẩy trở thành chi thể của Nhiệm thể Đức Giêsu mà trong thâm tâm tôi, tôi đã tuyên xưng như lời kinh Tin kính; trong tâm tư thì vậy, nhưng đi đến việc thực hiện quả là còn cách núi ngăn sông; không biết bao nhiêu là khó khăn ngăn trở khá lớn lao nặng nề.
Trước hết là những khó khăn trong tâm tư của chính mình đi từ ước muốn đến quyết định là một bước dài bất cứ về việc gì - huống chi đây là một sự xoay chiều đến l80 độ góc, gần như nhảy xuống một vực thẳm không đáy! Những trở ngại về nội tâm lý trí, cảm tính, quán tính, nhiều lúc phản kích rất mãnh liệt, nhất là cảm tưởng sẽ xa lìa tất cả: xa lìa với gia đình, với bạn bè, với hàng xóm, với cả mấy ngàn năm truyền thống văn hóa. Không biết tổ phụ Abraham lúc rời Đất tổ theo tiếng Chúa gọi như thế nào, chứ tôi thì mới tưởng đến việc thỉnh chuông thu không 108 tiếng ở chùa Linh Quang, tiếng gõ mõ trầm mặc, những nếp cổng chùa tam quan rêu phủ, các hương án sơn son thếp vàng, những gốc đại trước hồ bán nguyệt, những bài vị của ông bà tổ tiên, những ngày kỵ giỗ… là cứ như đã có ai níu kéo mình lại. Rồi tưởng đến việc xưng tội là phát nản. Từ trước tôi vẫn ghét hình ảnh người tín hữu chui ra chui vào tòa cáo giải, thì thầm thì thụt với linh mục, lột trần mình ra với một người không chắc gì thấu hiểu được mình, tài đức chưa chắc gì đã hơn mình, có khi không đủ trình độ mà hiểu mình nữa. Thật là một việc ớn ngấy! Rồi đổ nước lên đầu, xoa dầu vào trán, hà hơi vào mặt, “lè lưỡi” ăn bánh thánh phải chăng là phù thủy, ma thuật? Ngay cả một số từ ngữ cũng có một cái gì xa lạ: “Thân lạy Đức cha! Trọn tốt trọn lành, sáng danh, đức cậy, lễ săng-ti, lễ di- xúp, chầu lượt, tuần đại phúc, cấm phòng… gần như ngoại ngữ, có cảm tưởng như tiếng thượng! Rồi cơ chế phẩm trật Hội Thánh, các điều răn, các điều khoản giáo luật như cả một hệ thống gông cùm trói buộc chặt. Rồi đến tên các vị thánh: Phê-rô, Phao-lô, A-ga-ta, A-nê, Per-pê-tu-a, Lê-ô, Giu-se, Mô-sê vv… đem so sánh với các vị tên tuổi Vạn Hạnh, Huệ Năng, Tuệ Tĩnh, Huyền Trang… thì quả là man rợ… thô lỗ! Các tượng ảnh cũng vậy: toàn là những người mũi cao, mắt xanh ria xồm xoàm, áo quần xa lạ. Rồi các nhà thờ, tu viện, cứ y như là bên Tây Phương xách sang ghép vào cảnh trí Việt Nam, không có cái hài hòa với phong cảnh chung quanh như các chùa chiền, đình miếu với cửa tam quan, với tháp bảy từng, với các bức hoành phi câu đối sơn son thếp vàng, chạm trổ tứ bình, tứ bửu, tứ linh… Nghĩ đến phải cảm nhận lấy tất cả những cái ấy, thật là ớn lạnh, toát mồ hôi, có cảm tưởng như bị khoác vào một cái áo lạ hoắc khác màu, khác vị. Cả việc tế tự cũng thế: tai đã quen với “khởi chỉnh cổ”, bát âm nhã nhạc, giọng văn tế cung chầu văn; nay phải đi vào thế giới của nhạc giê-gô-ri-ô, đàn orgue đàn harmonium - hay đấy nhưng thật xa lạ… lễ phục Công giáo - đẹp đấy nhưng thiếu hình ảnh con rồng, con hạc, con phượng, con quy; thiếu hình ảnh bát tiên quá hải, đã từng đưa tôi vào một cõi thần tiên đầy mộng đẹp. Tôi cảm thấy nhớ nhung đến nhức nhối những huyền thoại: Thần nông, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Lư Sơn Thánh Mẫu, Vương Thiều Lão Tổ, Liễu Hạnh Công Chúa, Thiên Mụ, Diệu Đế, Từ Đàm, Từ Hiếu, Linh Sơn, Linh Quang, những cái tên gợi lên cả một thế giới thanh cao huyền bí. Chiếc áo nâu sồng sẽ bị thay thế bằng chiếc áo đỏ, áo tím sặc sỡ của Hồng y, giám mục, chiếc gậy trúc có đính quả đào sẽ được thay thế bằng chiếc gậy vàng đầu cong của giám mục. Khi thờ phượng sẽ không có đỉnh trầm nghi ngút, mà chỉ có bình hương lủng lẳng “đưa xít” vào mặt người ta, như xông cho kẻ bị ốm! vv… Rồi các nữ tu đủ kiểu áo, kiểu lúp, kiểu mũ, trông sao quá nặng hình thức lăng nhăng, lố nhố! Cuối cùng ngay cả chính tượng Chúa chịu nạn: nhìn Chúa mình mẩy bầm nát, mặt mũi quằn quại, trần truồng căng ra trên thánh giá, đôi khi trông quá ghê rợn - tôi lại tiếc nhớ tượng Phật điềm đạm trên toà sen thanh khiết, chỉ có tượng ảnh Đức Mẹ là có cái gì gần gũi, thân thiết (nhưng lại da trắng mắt xanh!). rời bỏ truyền thống nghìn xưa của gia đình, dân tộc Đông phương để bước vào thế giới Công giáo, tôi nghĩ có thể chết điếng người đi được, tương tự Tê-rê-sa thành A-vi-la khi rời bỏ gia đình dấn thân vào tu viện… Đến nỗi, ngay cả những xuyên tạc, bôi bác về sự Đức Mẹ sinh con, cách chế biến dầu Thánh từ mắt trẻ con, cho đến cả vai trò Linh mục trong hôn phối mà tôi vẫn biết là xuyên tạc, bôi bác do ác ý bôi nhọ “tà đạo của Tây dương” nhưng đã nghe từ tấm bé, đôi lúc vẫn như ám ảnh tâm tư cộng thêm những câu chế diễu móc họng của Voltaire, của Roman de la rose, của Mystères des couvents. Rồi hình ảnh vụ án Galilée, các giàn hoả thiêu của tòa trừng giáo vv… Tất cả những cái ấy đôi khi như kết bè kết lũ réo lên ầm ỹ: hãy coi chừng đừng dại đâm đầu vào chỗ chết.
Nhân dịp này, tôi nghĩ chúng ta cần phải thẳng thắn và can đảm nhìn nhận rằng điều mà Các Mác gọi là “tha hóa” tôn giáo, không phải là không nói lên một khía cạnh nào đó của một người đi từ thế giới không có tín ngưỡng, bước vào thế giới tín ngưỡng như Kitô giáo và nhất là Công giáo, bỏ quê hương như Abraham, bỏ cha mẹ, anh em, con cái bỏ cả chính mình để vác thập giá: không tha hóa là gì! Chết đi đối với con người cũ, đánh mất sự sống… Không tha hóa là gì khi theo Chúa Giêsu là hiến thân mình cho Ngài, vào Hội Thánh là không còn lấy cá nhân mình làm rốn vũ trụ nữa, không tha hóa là gì? Từ ngoài Công giáo bước vào Công giáo, là phải trải qua một sự chết đi! Chính sự chết đi ấy đã làm nhiều người chùn bước. Chính việc “nhảy tùm” xuống như nhảy vào vực thẳm không lường được ấy (saut dans l’inconnu) làm cho việc theo đạo có cái gì khủng khiếp, vì đây cuối cùng là phó thác cho Thiên Chúa, chứ không phải là chấp nhận một lý thuyết mà lý trí nhìn nhận chân là đúng, như chấp nhận một định lý thuyết toán học hay một định luật khoa học. Ở đây có cái gì như “xử nữ” xuất giá tòng phu hiến thân cho một người khác cha, khác mẹ, khác địa phương, chỉ có thể thực hiện được khi bị lôi cuốn, thúc đẩy bởi một cái gì rất mãnh liệt, một thần lực (có nhiều dạng như ma lực). Không đi qua ngưỡng cửa của sự chết ấy thì khó lòng trở lại, (mầu nhiệm “khổ giá” kia mà).
Nói cách khác, tôi nghĩ: không có ơn Chúa thì khó mà vượt qua (và đương nhiên, kẻ thù nghịch muôn đời đã cám dỗ ông bà nguyên tổ đã lởn vởn quanh Đức Giêsu trong vườn hoang địa, đã quấy phá Thánh An-tôn tu rừng, phá phách nhà xứ họ Ars, sẽ không để người ta yên: nó sẽ dùng mọi mưu chước để ngăn chận, phá phách cho kỳ được). Do đó, một người trở lại, cả chín tầng trời reo lên vui mừng là phải! Một chàng trai lúc 13 tuổi với cái láo xược của một “cậu ấm” con quan khoa bảng đất Nghệ, lại tô thêm tư tưởng tự do tư bản, đã khẳng định “không bao giờ”, vậy mà giờ đây chịu cúi đầu để một cha xứ nhà quê dội nước lên đầu thì quả là một phép lạ. Sau gần 40 năm chịu phép Rửa mà nhiều lúc (nhất là sau lúc ngủ dậy) chính bản thân tôi cũng còn còn lấy làm kinh ngạc! Và chắc chắn là sẽ còn kinh ngạc muôn đời: chẳng khác gì phép lạ đưa dân Chúa qua biển đỏ, thoát ách khống trị của Pha-ra-ô.
Sau đây là những trở ngại khách quan:
Trước hết là gia đình: đối với một nhà Nho cỡ lớn đất Nghệ Tĩnh. Có đứa con “theo đạo” là cả một sự “sỉ nhục” trước mắt bà con xóm làng, huyện, tỉnh: và ở vị trí gia đình tôi, trước mắt cả một giai cấp thượng lưu gần như toàn quốc! gặp các cụ khoa bảng đất Nghệ, đất Thanh, đất Bắc, đất Thần Kinh, thân phụ tôi sẽ đau đớn nhục nhã khi có vị nào nhắc đến thằng con trai đã bỏ truyền thống của cha ông, của địa phương của giống nòi để đi theo “Tây Dương tà đạo”. Cách đó vài chục năm, thân phụ của linh mục Nguyễn Văn Thích, đã bắt Ngài phải chọn lựa giữa cái chết và theo đạo! Nghĩ đến sự đau đớn và nhục nhã của thân phụ tôi, sự lo buồn của mẹ tôi, của anh chị em, chú bác, cô dì tôi, thật không thể tả nổi nỗi ái ngại của tôi. Nhất là, tôi vốn là một người con, một người cháu được khen là hiếu thuận, rất được thương yêu! “Theo đạo” là kể như cắt đứt tất cả. Cái cơ sự bị “từ” hầu như là chắn chắn, không từ ra mặt, đuổi khỏi nhà, thì cũng trong lòng. Thật vậy, thân phụ tôi thì tính tình điềm đạm, ăn nói từ tốn: chỉ có một ông chú và một bà cô, chị của thân phụ tôi, sau khi tôi chịu phép rửa, mỗi lần gặp tôi là ra mặt giận thực sự và có những lời mai mỉa chua cay! Bà cô ấy đã khóc ầm lên mà hỏi tôi như gào thét: “Mày, cha ông mày có tội gì mà cúi đầu để cho chúng xối nước lên!”. Sau ngày rửa tội, mỗi lần về nhà, tôi thấy có cái gì u uất đè lên mối tương giao, thật tôi không khỏi có cái cảm giác như mình đã vô ơn, bạc nghĩa, bạc tình. Quả vậy gần 30 năm sau, khi tôi bị ít nhiều gian nan, một bà cô đã nói: đó! Trời phạt nó đấy, ai bảo nó phản bội cha ông, bỏ đi mà theo đạo! .
Năm 1948, tuy gia đình tôi chưa rơi vào tình cảnh bi đát của năm 53 – 56, nhưng cũng bắt đầu xuống dốc: nếu chần chừ, có thể tôi sẽ như Bergson, muốn tòng giáo, nhưng trong dân Do Thái bị Đức Quốc xã tàn sát, ông không nỡ làm một việc như là “chuột chạy khỏi nhà cháy” trốn lửa. Tòng giáo có thể hiểu như là đào ngũ lúc gần bại trận. Rắc rối thêm là vấn đề chính trị: lúc ấy ở Bùi Chu, Phát Diệm, phong trào chống cộng đã khá gay gắt, và hình như đã bắt đầu có tổ chức “liên tôn chống cộng” của ba tôn giáo chính: Khổng, Phật và Gia-tô! Sự tòng giáo của tôi có thể gây ra ngộ nhận, ít nhất là đối với một số cán bộ nào đó cũng như đối với quảng đại quần chúng. Quả vậy sau khi tôi rửa tội, có kẻ đã nói: “đạo nghĩa gì! Bố nó bảo nó giả vờ theo đạo để có cớ liên lạc với tụi cha cố vào tổ chức liên tôn - chống cộng đấy!” Đó lại là điều mang tác hại lớn cho thân phụ tôi vốn thuộc thành phần quan lại địa chủ. Tính đến chuyện chịu phép Rửa trong tâm trạng như vậy, giữa một hoàn cảnh như vậy thật như ôm một quả mìn nổ chậm. Chết mình đã đành còn chết lây cả người thân kế cận. Một người yếu đuối như tôi tưởng như khó lòng vượt qua được bao nhiêu là cửa ải gian nan, cho nên tôi cứ chần chừ lần lữa; cũng xin nói rõ ràng rằng ý muốn tòng giáo là do tự tôi hoàn toàn, chứ không có ai rủ rê lôi cuốn. Mà tôi cũng không thổ lộ với ai cả, ngay cả với anh Vương Đình Lương, vì đối với tôi, nói ra với anh Lương thì gần như là hứa quyết, sợ sau lại nuốt lời, xấu hổ! Chỉ có thỉnh thoảng tôi lại lén lút đi dự lễ hoặc vào nhà thờ cầu nguyện. Thật là “nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?”, đành chỉ một mình mình biết, một mình mình hay! Dĩ nhiên, nói vậy là không nói đến ơn Chúa, nhưng ơn Chúa dường như lại quá siêu nhiên kín nhiệm, vì lúc ấy về mặt tâm lý, tôi như bị bỏ rơi, không cảm nghiệm được sự an ủi khích lệ thiêng liêng nào cả, ngoại trừ bóng dáng dịu hiền của Đức Mẹ qua bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp trong nhà thờ Nghĩa Yên mà thỉnh thoảng tôi đến quì nhìn lên xin ơn phù trợ. Nhưng sự an ủi khích lệ về phía Đức Mẹ cũng chỉ là giới hạn, chứ không cảm nghiệm được về mặt tâm lý. Tôi như bị bao vây bởi đêm dày. Có lẽ cụ Abraham khi đáp tiếng Chúa gọi đem con lên núi làm lễ hy tế, Yacóp khi trở về giáp mặt Ê-Dau, phải vật lộn thâu đêm với thiên thần, cũng ở trong một đêm tối tương tự. Bà Acarie, bà Jeanne de Chantal khi rời bỏ gia đình con cái để lập dòng, chắc cũng vậy. Về mặt cảm nghiệm tâm lý, tôi thấy như là bất lực, và có cảm tưởng chắc rằng cuối cùng sẽ rút lui với tiếc nuối u hoài, chứ không thấy có đủ can đảm mà vượt qua nổi bao nhiêu khó khăn lớn lao như vậy! Nhất là mỗi lúc nghĩ đến mẹ và các em còn bé. Vì lúc ấy tôi gần như là con trai trưởng trong gia đình, anh Viện tôi dù ở Pháp không hy vọng gì có thể trở về Việt Nam. Người anh thứ hai tôi thì bị chứng ho lao sắp mất mà chỉ có cháu gái, chưa có cháu trai. Lại nghe tin anh Viện tôi ở Pháp cũng bị chứng lao trầm trọng, chưa chắc là có sống lâu được, để mong ngày về lập gia đình sinh con nối dõi tông đường. Mà đó lại là vấn đề vô cùng quan trọng đối với một gia đình Nho giáo như gia đình tôi. Rồi ông anh thứ hai của tôi biết mình sắp mất, chưa có con trai, càng hối thúc tôi lập gia đình trước khi anh ấy nhắm mắt! Nhưng tôi thì lúc ấy còn bụng dạ nào nghĩ đến chuyện vợ con, vì tôi nghĩ rằng lập gia đình là thắt chặt vào cái khuôn khổ của Khổng giáo, việc tòng giáo càng thêm khó khăn.
Thế nhưng, rồi trước sự hối thúc, van nài của gia đình, cha mẹ, họ hàng và nhất là của người anh sắp chết, tôi nhận lời đính hôn với một thiếu nữ mà tôi chỉ đi “coi mắt” có một lần: không yêu, không ghét, dửng dưng như cái máy, đập đi hò đứng, làm một việc bổn phận thiêng liêng của gia đình theo truyền thống Nho giáo. Gấp rút đến nỗi đính hôn chưa đầy một tháng, gia đình tôi xin cưới gần như để chạy tang anh tôi! Nhà gái xin hoãn lại ít lâu, vì theo lời bà mẹ vị hôn thê của tôi: “gia đình cụ thì quá lớn, mà cháu thì còn quá dại, xin cho tôi dạy dỗ thêm một thời gian”. Đối với tôi lúc ấy, việc thuận tình lập gia đình theo đòi hỏi của tinh thần Nho giáo, có ý nghĩa như là một sự đầu hàng, là để cho Truyền thống Nho giáo đánh bại ý muốn tòng giáo. Sự đầu hàng ấy đưa tôi vào một tâm trạng rất phiền muộn, tôi sống như một cái máy vô hồn, không làm chủ đời mình mà hoàn toàn theo lề lối đòi hỏi thật ra cũng phần nào chính đáng của gia đình. Nhưng riêng mình thì rất buồn nản và khổ sở. Ý định tòng giáo cứ như mờ nhạt dần mặc dầu lòng ao ước vẫn mãnh liệt. Sự mâu thẫn bên trong ấy làm cho tôi phải luôn luôn ở trong tình trạng căng thẳng như bị xâu xé giữa hai sức kéo nghịch nhau: sức khỏe tôi vì vậy cứ dần dần kém sút, bệnh mất ngủ xuất hiện, bệnh đau dạ dày tái phát ngày càng trầm trọng
Vì đã bỏ ý định tòng giáo nên tôi đã hướng về nơi cửa Phật để tìm nguồn an ủi thoa dịu. Lúc ấy sư Mật Thể vì được bầu vào Quốc hội khóa I, nên từ Huế di tản ra Nghệ Tĩnh, và ngụ tại một ngôi chùa ở Đức Thọ, tôi thường lui tới gặp ngài để tâm sự. Mỗi lần cùng Ngài đàm đạo và ra trước bàn thờ Phật, hình ảnh Đức Phật với thái độ an nhiên tự tại giúp tôi như được bằng yên thoa dịu. Nhưng tôi thấy rằng sự an ủi ấy chỉ đến khi tôi ở dưới mái chùa như tạm thời quên đi cuộc sống thực tại chứ ra khỏi chùa là tôi tại thấy cuộc đời với trăm nghìn mối tơ vò. Mượn một hình ảnh cho dễ hiểu: Đức Phật chỉ an ủi tôi khi tôi vào chùa chứ ngài không đồng hành với tôi trên đường đời cụ thể đầy những eo sèo thực tế. Nói như kiểu thời nay, Ngài hình như chỉ có diện thoát tục, chứ không nhập thế dấn thân, mà tôi thì phải lặn ngụp vào cái biển đời với bao sóng gió. Ngài chỉ là bậc thầy chỉ cho con đường lánh xa cõi trần ai trầm luân, chứ Ngài không phải là bạn đồng hành trên con đường trần lụy. Tình trạng ấy cứ kéo dài, thế rồi vào đầu năm 1948, người anh thứ hai của tôi từ trần sau khi chị dâu tôi lại sinh hạ thêm một cháu gái thứ tư. Anh Viện tôi vừa ở nơi trời Tây cách xa muôn dặm, vừa bị một chứng nan y, hầu như tuyệt vọng, mà anh thứ hai mất đi không để người nối dõi. Thế là tôi trở nên gần như người trưởng nam trong gia đình, nên việc lấy vợ sinh con là bổn phận thiêng liêng, có tính cách hầu như tuyệt đối: “bất hiếu hữu tam, vô hậu vị đại”. Trở thành Kitô hữu chỉ còn là giấc mơ, lui tới cửa chùa chỉ là liều thuốc an thần, còn thực tế guồng máy chặt chẽ của quan niệm gia đình theo Khổng giáo hoàn toàn chi phối đời tôi trong thời gian ấy.
Hết niên học 48, tôi không dạy học tại trường Đậu Quang Lĩnh. Thân phụ tôi muốn tôi phải trở về dạy học lại Hương Sơn ở tại nhà, vì tôi lúc đó là người con trai lớn nhất của gia đình. Sau này sẽ là cột trụ - của một gia đình được xem là “đại gia thế”! Tới niên học 1948 - 1949 trường trung học phổ thông dân lập được mở tại huyện nhà, tôi được mời cộng tác phụ trách môn việt văn cho hai lớp đệ nhị và đệ tam. Nhưng trước khi tới ngày khai giảng, vào quãng tháng chín tháng mười dương lịch năm 1948, còn từ tháng năm trở đi, suốt mấy tháng hè tôi ở nhà trong bầu không khí vô cùng ảm đạm: nhà anh thứ hai thì chị dâu với bốn cháu gái tang tóc thê lương, tại chính nhà tôi thì bước vào chế độ mới. Với quá khứ địa chủ quan lại theo quan niệm ít nhiều phong kiến Nho giáo, không khỏi có những bất ổn trong việc thích nghi với đời sống mới đang lên, nhất là một số biện pháp hơi tả khuynh quá khích của một số cán bộ ở địa phương, đời sống có phần ngột ngạt, tẻ nhạt. Sức khỏe tôi cứ giảm sút dần, tốn kém bao nhiêu là thuốc men bồi dưỡng cũng không thuyên giảm, đến mức độ có thể gần như nguy hại đến tính mạng. Bệnh mất ngủ và bệnh đau dạ dày cứ làm tôi kiệt sức dần. Tinh thần căng thẳng đến mức độ mà đã có nhiều hôm, sau một đêm thức trắng, tôi bị thần kinh chứng vùng lên gào thét như điên! Tâm trạng lúc ấy như một kẻ bị cầm tù, mà nhà tù là cái nhiệm vụ gần như là trưởng nam phải kế tục duy trì nề nếp gia phong và nối dõi tông đường, tức là việc lập gia đình, lấy vợ sinh con. Trong lúc tâm hồn tôi ứ đọng quan niệm cho sự hiện hữu của tôi là cái “đại họa”! Thế mà lại phải đi vào cái nghiệp là sinh ra những đứa con thừa kế cái nghiệp “khổ”. Thực tế thì phải sống theo quan niệm Khổng giáo, mà tâm hồn tôi thì hoàn toàn yếm thế bi quan. Sự mâu thuẫn căng thẳng đến mức độ tối đa, đến nỗi hơi sống của tôi đôi lúc gần đứt, khiến thầy mẹ tôi bắt đầu lo ngại sự sống còn của tôi. Tôi nhớ trong một cơn đau thiếp đi tôi mơ màng nghe thân phụ tôi nói với vị lương y bắt mạch cho tôi rằng: “Tôi sợ rằng cháu sẽ không qua khỏi!”. Cái ám ảnh lớn nhất của tôi là phải đi đến chỗ sinh con cái tạo nên nghiệp chướng oan gia. Phần nào tôi sinh ra lòng oán hờn những ai đã làm cho tôi phải có, để mang lấy kiếp người khổ lụy. Phần nào oán hận ai đã sinh thành đã đành! Mà oán hận luôn cả Thượng đế! Có lúc tôi gầm lên: “Créateur, si tu existes, je te hais!” – “Tạo hóa, nếu ngươi có, ta căm thù ngươi!”. Đôi khi ý tưởng quyên sinh lảng vảng trong đầu tôi. Và rồi cái ý định không lập gia đình đã nảy ra trong tôi, dần dần thành một quyết định có tính cách như một lôi cuốn không gì cưỡng nổi. Nhưng tôi biết thổ lộ điều ấy với cha mẹ tôi thì có khác gì đem một hung tin cho gia đình: con cả thì không hy vọng trở về, con thứ hai thì mất đi mà không có con trai, con trai thứ ba lại có ý không muốn lập gia đình mà có ý muốn xuất gia! Một nhà nho mà bị rơi vào cảnh ấy thì khổ tâm cho thân phụ tôi lắm! Cho nên dầu đã quyết, nhưng tôi cũng chưa dám hé môi.
Rồi một hôm, tôi tìm sư Mật Thể xin ý kiến, trong lúc bày tâm trạng mình, tôi cũng không dấu diếm Ngài việc lòng tôi ao ước tòng Kitô giáo, tôi phải xác nhận một điều rằng, sư Mật Thể là một vị cứu tinh trời gởi đến cho tôi qua khỏi giai đoạn khốc hại nhất đời tôi, vào mùa hè năm 1948. Đại ý ngài khuyên tôi:
– Là một nhà sư, tôi nghĩ rằng việc anh phải lập gia đình để nối dõi không phải là bổn phận nhất định anh phải gánh lấy với bất cứ giá nào. Vả trong tâm trạng hiện nay của anh, vì tình trạng sức khỏe của anh bị cái ám ảnh phải lập gia đình uy hiếp đến mức độ có thể đinh đến kết quả khó lường, thì việc cần kíp là phải tạo điều kiện tâm lý thuận lợi cho anh phục hồi sức khỏe thể chất và nhất là tinh thần. Anh cần phải được tháo gỡ khỏi mọi ràng buộc đang đè nặng, là lời đính hôn. Còn việc anh có đủ căn duyên xuất gia đầu Phật gởi mình nơi cửa thiền hay không, hay là nên tòng Kitô giáo ta chưa có đủ yếu tố bàn đến, sau khi anh bình phục hẵng hay! .
Tôi còn nhớ Ngài tủm tỉm cười:
– Biết đâu sau khi sức khỏe phục hồi, anh lại khác hẳn muốn lập gia đình cũng nên!… và nếu thế thì kết hôn với ai lúc đó sẽ tính.
Và Ngài kết luận:
– Anh hãy can đảm trình bày rõ với cụ, cụ là bậc túc nho, rộng rãi, khoáng đạt, tôi chắc cụ sẽ hiểu và sẽ tùy ý anh muốn, ít là như một sự hoãn binh. Cho nên anh cũng chỉ cần thưa với cụ vì lúc đính hôn quá cấp bách, có tính cách chạy tang, nay suy nghĩ lại sợ sự lựa chọn chưa được chín chắn, và sức khỏe chưa biết hao giờ hồi phục, xin từ hôn trả tự do cho người đã đính hôn, kẻo để lâu mới kết hôn e bất tiện!… Mà thật ra, về phần anh, anh cũng hoãn binh. Vì với tình trạng hiện nay của anh, chưa rõ tương lai ra sao, chỉ biết một điều là anh phải bình phục để mà sống (vì dù sao cả đối với Phật giáo, bảo vệ sự sống vẫn là trước tiên). Mà muốn bình phục thì hiện thời anh nên từ hôn để hoàn toàn tự do thoải mái. Thương anh, và đạt đạo như cụ, cụ sẽ hiểu, và tôi chắc cụ sẽ nhận lời anh yêu cầu. Nếu anh về trình bày với cụ mà cụ không chịu, anh cho tôi hay, tôi sẽ lên thăm cụ và nói giúp cho anh. Tôi đã nhiều lần hầu chuyện với cụ trong những dịp đi họp Liên Việt Khu 4, chắc cụ sẽ dành cho tôi một sự lắng nghe nào đó thuận lợi cho anh.
Thế là, được sự khích lệ của Mật Thể tôi tỏ bày ý muốn xin từ hôn với thân phụ tôi. Thật là vô cùng ngạc nhiên, tôi vừa nói vài câu, thân phụ tôi đã hiểu, người chỉ nhẹ thở dài mà trả lời:
– Ta cũng đoán trước là như vậy rồi! Con chưa có ý muốn lập gia đình, nhưng lúc đó nể lời khẩn khoản của anh con trước lúc sắp mất, mà bất đắc dĩ con nhận lời để anh con yên tâm nhắm mắt. Nay việc tang đã qua rồi, anh con đã an nghỉ, con lại chùn bước. Thôi ta cũng tùy con vậy!
Thế là đêm ấy, thầy mẹ tôi thì thầm trao đổi rất lâu dưới ngọn đèn dầu phụng lù mù. Còn tôi trở về giường ngủ, vừa lo vừa sợ, vừa thương cho thân phụ tôi vừa cảm phục người vô cùng về sự minh mẫn và lòng thương của người đối với tôi. Sáng hôm sau tôi còn nằm trên giường vì tôi vẫn yếu, mẹ tôi lại gần khuyên tôi nên xét lại, vài câu lấy lệ, hơi rướm nước mắt, nhưng cũng chỉ nhẹ thở dài khi tôi nói với người rằng:
– Dầu sao thì hiện nay con cần được tháo gỡ mối ràng buộc để được thanh thản tự do mới mong lành mạnh trở lại được chứ!
Người im lặng đứng dậy rút lui nhẹ nói:
– Ừ thì tùy ý con!
Chiều hôm sau mẹ tôi đi đến nhà vị hôn thê của tôi xin cho tôi được từ hôn, vì lý do sức khỏe tôi chưa biết bao giờ hồi phục, để người vị hôn thê phải chờ không tiện. Tôi nhớ chiều hôm ấy, trên đường về nhà, người bị một cơn mưa bất ngờ ướt tầm tã. Vào nhà chưa kịp buông nón, người nói với tôi có vẻ hờn dỗi, đưa cho tôi xem chiếc hộp đựng nữ trang mà gia đình tôi trao tặng người vị hôn thê ngày đính hôn:
– Người ta trả tại cho mình đấy!
Bữa cơm tối hôm ấy không có tôi, vì tôi vẫn ăn cháo riêng, nhưng chắc là buồn lắm. Thế nhưng tôi đêm hôm ấy thì ngủ được một giấc dài. Sáng hôm sau thức dậy, tiếng chim hót trên cành cây bưởi bên cửa sổ gần phòng tôi, nghe như báo hiệu một điềm lành. Và từ từ sức khỏe tôi được phục hồi. Bây giờ nghĩ lại tôi rất thương thầy mẹ tôi nhưng biết làm sao khác được! Vả chăng, nếu không có sự khuyến khích của sư Mật Thể, mà tôi e dè không dám trình bày nỗi niềm với cha mẹ tôi, cứ ôm lấy những uẩn khúc trong lòng, thì liệu sức khỏe tôi sẽ ra sao? Chắc gì tôi còn sống đến ngày nay thỉnh thoảng vấn an mẹ già! (mẹ trên 80, con trên 60), vui vẻ thuận hòa với anh em bà con nội ngoại, hay lại theo chân người anh thứ hai tôi dưới ba tấc đất từ lâu? Tháng 9 dương lịch năm 1948, trường trung học Hương Sơn khai giảng, lúc ấy sức khỏe đã tạm phục hồi, nên tôi tiếp tục nghề dạy học tại huyện nhà. Lại một sự trùng hợp đầy ý nghĩa: ngôi trường trung học dân lập vách đất lợp tranh này tọa lạc tại làng Tứ Mỹ, tiếp cận giáo xứ Đông Tràng chỉ cách một cây số, còn nhà tôi cách sông và xa quãng chừng 5 cây số. Có anh Trần Đức Đào là một giáo viên người Công giáo thuộc giáo xứ Đông Tràng. Để giảm bớt sự đi lại từ nhà trường về nhà, nhất là những ngày tôi có giờ dạy buổi chiều, những tháng mùa đông rét mướt, tôi trọ đêm tại nhà anh Đào để sáng mai ra trường cho gần. Thế là tôi lại được đặt vào môi trường Kitô giáo, dưới mái nhà của một người bạn đồng nghiệp rất tốt.

10. LỄ RỬA TỘI
Với sự từ hôn, tôi đã thoát khỏi cái khuôn khổ của một đại gia đình phong kiến Nho giáo, tự thấy mình như được tự do bay bổng thanh thản. Vả chăng, sau ba năm dưới chế độ mới, thầy mẹ tôi cũng dần dần cảm thấy thời cũ đã qua: trong một xã hội hoàn toàn mới, mà cái kiểu đại gia đình quan lại địa chủ phong kiến Nho giáo không còn chỗ đứng nữa, việc kế thừa gia nghiệp không còn là vấn đề, cho nên các con cái cũng có phần được một sự tự do nào đó. Người em gái kế tôi thoát ly tham gia hẳn phong trào cứu quốc. Con gái đã thế huống là con trai! Hầu hết các gia đình có con trai cỡ tuổi tôi cũng đều để cho con thoát ly hoạt động trong các ngành, các đoàn thể, một số lớn tòng quân ra kháng chiến mặt trận. Cái nhiệm vụ của một người con trai trong gia đình theo quan niệm cũ dần dần phai nhạt. Ý muốn tòng giáo của tôi lại bắt đầu chỗi dậy khá mãnh liệt, mà một số trở ngại về mặt gia đình nay đã giảm đi, và vì về mặt kinh tế thì sự có mặt của tôi không phải là cần thiết, còn mặt thừa kế gia phong v.v… thì không thành vấn đề nữa. Và càng ngày tôi càng thấy chỉ những ngày ở lại nhà anh Trần Đức Đào, đi lại với các gia đình Công giáo ở xứ Đông Tràng, rồi chiều tối, có lúc sáng sớm đi nhà thờ… tôi mới thật thoải mái, chứ về với gia đình mình hình như tôi bị bơ vơ lạc lõng trong cái bầu khí của một cơ chế xã hội đang tan rã, mà cơ chế mới đang thành hình thì tôi thấy không hợp, khó bề thích nghi. Trong thời gian lui tới xứ Đông Tràng những lúc vào nhà thờ cùng anh chị em giáo dân để dự lễ đọc kinh tôi như cá được thả vào nước. Nhất là mỗi lần quì gối trước tượng Đức Mẹ Maria! Rồi qua Đức Mẹ Maria, Chúa Giêsu thực sự đã trở nên người mà tôi cảm nhận như là một người bạn đồng hành trong cuộc sống hiện tại thực tế của tôi đem lại ý nghĩa cho cuộc sống mà cách đó một năm tôi thấy như chỉ là oan khiên nghiệp chướng mà Đức Phật chỉ đem lại cho tôi một vài phút an ủi, rồi lại để tôi thui thủi một mình giữa đường đời cô quạnh. Một lần chuông Truyền tin gióng lên, đọc đến câu: “Và ở cùng chúng tôi!”, tôi lại thấy như Đức Mẹ dẫn tôi đến với con của Ngài vừa âu yếm bảo “từ nay con không cô đơn nữa, con của Mẹ đến ở với con đây”: tôi tìm được Chúa Giêsu là bạn. Tôi tìm đọc sách Tin Mừng và cuốn Gương Phúc. Hình ảnh người môn đệ được Chúa Giêsu yêu riêng dựa đầu vào ngực Chúa trong tấm ảnh tôi được thưởng cách đó 8 năm, trở thành hiện thực. Tôi chỉ muốn được như vị tông đồ thanh niên ấy, mà lúc gặp Đức Giêsu Na-da-rét lần đầu chắc cũng vào trạc tuổi tôi năm 1948. Trái tim Chúa Giêsu đã mở ra đón nhận tôi qua tay Đức Mẹ, tôi chỉ muốn dâng trái tim tôi cho Ngài qua bàn tay Đức Mẹ. Tuy chưa chịu phép rửa tội, nhưng những giây phút quì gối trước cung thánh ngước mắt nhìn lên nhà tạm với ngọn đèn chầu lung linh tôi đã cảm nghiệm được sự hiện diện thực sự của Ngài sau tấm màn che thay đổi màu theo các ngày lễ kính thánh trong tuần. Tôi đã phát nguyện thầm dâng trọn cuộc đời cho Ngài, không còn san sẻ tình yêu cho bất cứ ai khác, mà chỉ yêu mến tất cả mọi người trong Ngài, như Ngài và nhờ Ngài. Từ ấy đến nay đã gần 40 năm, đứa em gái út khi tôi từ giã gia đình đi tu hãy còn đòi bế thì nay đã sắp có khả năng thành bà ngoại; trong đời tôi cũng như ở bên ngoài, đã biết bao thay đổi, nhưng mỗi lần vào nhà thờ nhìn lên nhà tạm tôi vẫn như sống lại phút ân tình của buổi đầu. Tình yêu chẳng những không già, không phai nhạt. mà càng ngày càng son trẻ thêm đậm đà thêm, nồng nhiệt thêm. So với tôi “Tình Già” của Phan Khôi thì quả là trời với đất. Càng ngày tôi càng lặn sâu vào đáy khiêm hạ mà dâng lời tán tạ Chúa Giêsu đã quá thương tôi, ban cho tôi được biết tình yêu tuyệt đối của Ngài. Đến nay đã 61 tuổi, tôi nôn nóng chờ đợi khát khao cái giây phút được như bà chị thiêng liêng của tôi nay ở trên trời, đã kết thúc bài “kinh dâng hiến cho tình yêu xót thương của Thiên Chúa” rằng: “con muốn cứ mỗi nhịp đập của trái tim con, sẽ nhắc lại muôn vàn lần lời kinh hiến dâng này, cho đến lúc mà bóng tối trần gian tan biến: con được thưa lại với Chúa tấm tình yêu của con trong sự đối mặt muôn đời” (Tê-rê-sa Hài Đồng).
Tâm hồn tôi chơi vơi ngây ngất hương vị tình yêu vĩnh cửu. Mà tôi nghĩ rằng tâm hồn nào khi nói đến “tình yêu” cũng đều khơi dậy lòng khao khát khôn nguôi. Và từ trung tâm lò lửa yêu mến ấy, mối tương quan liên ngã vị khác bỗng như cũng được phần nào thông dự vào tuyệt đối tính và vĩnh cửu tính. Và cuộc đời nói chung, dù là có nhiều vị đắng cay lẫn lộn với ngọt bùi, cũng là đối tượng của tấm tình yêu bao quát ấy. Tôi cảm nghiệm rằng nếu Thiên Chúa là Tình Yêu và con người được tạo dựng theo hình ảnh Người, thì tự con người rốt cuộc cũng chỉ là tình yêu. Con người chỉ tự thể hiện được chính yếu tính của mình trong tình yêu mà thôi. Và đó là ý nghĩa và cứu cánh của nhân sinh. Vì thế, tôi nghĩ rằng người Kitô hữu sống độc thân dâng mình cho Thiên Chúa và trao ban cho mọi người, không nên gọi là đi tu, mà nên gọi là hiến dâng, hiến sĩ. Bởi vì chữ “tu” dầu sao cũng mang theo một âm hưởng thoát trần, lánh thế, trong lúc người hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa, cho tình mến Chúa yêu người - là noi theo Đấng Ngôi Hai xuống thế làm người và ở cùng mọi người, đem tình yêu đến cho mọi người, mời gọi mọi người sống tình yêu ngay từ đời này, mọi nơi, mọi lúc, như gieo mầm xuống lòng đất mẹ để đi đến ngày triển nở trong lòng Cha trên Trời, chứ không phải thoát trần một gót tiên thiên, làm cái thân ngoại vật để phiêu diêu lãng đãng: thế mới đúng cái hình ảnh con người chân đi bén đất, vác Thánh Giá tình yêu nhỏ máu, mồ hôi và nước mắt thấm sâu vào đất, cho đất nẩy mầm sinh hoa kết quả trong mùa gặt huy hoàng: Hạt lúa thơm hương Trời được gieo vãi từ vị đất. Không yêu riêng một mình ai ngoài Chúa, vì chỉ trong Chúa mới thực hiện được cao vọng yêu mọi người, bất cứ ai, như yêu riêng một mình họ vậy… Yêu riêng mỗi một người như chỉ có một mình họ, chứ không phải chỉ thương chung tất cả mọi người, nhất là không yêu chung Nhân Loại viết hoa. Chữ hoa ấy chỉ là hoa hòe, hoa cành lá, khác với chữ hoa viết tên riêng: cô Xoài, cậu Ớt, Anh Mít, ông Bưởi, bà Chanh, em Kèo, cháu Cội mới là “hoa” thực sự là đối tượng tình yêu chân thành cụ thể, cụ thể đến mức chết vì người mình yêu như Giêsu trên khổ giá.
Nếu nói rằng chuyện đời tôi, thì đến đây, tôi đã có thể kết luận: đời tôi là GIÊSU KITÔ! Có viết trăm ngàn vạn chữ, có nói trăm ngàn vạn lời, thì chung quy chỉ có một lời, có một chữ Thánh Gioan tẩy giả, trước khi rút lui vào bóng tối, giới thiệu với các môn đệ đầu tiên của Chúa: này đây là Con Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian.
Đời tôi là GIÊSU, hay nói như Phao-lô: “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống, mà chính Đức Giêsu Kitô sống trong tôi”. Đó vừa là hiện thực, vừa là chân trời lý tưởng luôn hướng tới, và cũng như chân trời, càng tiến tới càng thấy đích đến vẫn ở mãi chân trời xa. Hiện thực là Đức giêsu sinh hoạt trong mỗi linh hồn và trong Hội Thánh là trong các bí tích. Do đó, bước đầu là phải nhận bí tích Thánh tẩy. Và bước đầu đi vào ấy, tôi đã cất bước vào…
“Ngày 9-1-1949.
Tại Thánh Đường xứ Nghĩa Yên.
Linh mục rửa tội là cha xứ Nghĩa Yên: Lm. Nguyễn Ngọc Bang.
Linh mục dâng lễ là cha xứ Yên Nhiên: Lm. Phúc.
Cha đỡ đầu: Lm. Vương Đình Ái”.
Sự việc xảy ra như sau: cái quyết định sẽ rửa tội, tôi chỉ mới tự nói với mình như thế vào những ngày đầu niên học 1948-1949, nhất là những lúc vào cầu nguyện tại nhà thờ xứ Đông Tràng, hoặc dự các buổi kinh chiều, kinh sáng tại nhà anh Trần Đức Đào (nói là dự, nhưng chỉ là bằng cách lắng nghe và hợp ý với gia đình anh Đào, chứ bên ngoài thì tôi vẫn làm như người khách ngoại giáo ở trọ vậy thôi, chứ không trực tiếp tham gia vào các buổi cầu nguyện ấy). Tuy nhiên tôi vẫn chưa nghĩ đến việc sẽ thực hiện vào lúc nào, và cũng chưa trình bày với ai cả, chỉ thỉnh thoảng, nói qua với anh Đào cái ý muốn rửa tội thế thôi.
Thế rồi lễ Giáng Sinh năm 1948 gần đến… Từ ngày rời trường Đậu Quang Lĩnh và các gia đình bạn bè người Công giáo ở hai xứ Nghĩa Yên và Thọ Ninh, trở về Hương Sơn với gia đình cho đến gần Giáng Sinh năm 1948, tôi không có dịp trở lại thăm hỏi. Nhân dịp nghỉ lễ Giáng Sinh (bấy giờ Nhà nước còn cho nghỉ học vào dịp ấy), tôi xuống Đức Thọ để thăm gia đình anh Vương Đình Lương. Đêm Noel ấy, tôi dự lễ lại nhà thờ xứ Nghĩa Yên, rồi về dự tiệc khuya và ngủ tại nhà anh Lê Văn Lộc một học sinh thân của tôi năm 47- 48, nhà ở tại họ Bùi Xá, một họ lẻ của xứ Nghĩa Yên. Ngày 25-12 -1948, bữa ăn trưa, tôi được Linh mục Vương Đình Ái mời dự bữa cơm mừng lễ với các giáo viên trường Đậu Quang Lĩnh. Sau bữa ăn, lúc chỉ còn lại Linh mục Ái, Linh mục Nguyễn Ngọc Bang là cha xứ Nghĩa Yên, và anh Vương Đình Lương, tôi thưa với cha Ái về ý muốn (chứ chưa phải là quyết định thực hiện) lãnh nhận bí tích rửa tội. Linh mục, vốn được anh Lương giới thiệu về tôi, tỏ vẻ vui mừng nhưng còn ngơ ngác bán tín bán nghi. Hỏi tôi trong nụ cười:
– Thầy nói thật đấy à?
– Thưa cha, thật đấy ạ!
Cha Vương Đình Ái nói:
– Giáo lý thì thầy đã học trong sáu năm tại trường Thiên Hựu. Chỉ có việc rửa tội mà thôi, vậy thầy muốn khi nào?
– Khi nào cũng được, thưa cha, càng sớm càng tốt!
– Nhân dịp này được không?
– Dạ thưa được ạ!
– Nhưng hai cụ ở nhà nghĩ sao?
– Thưa cha, chắc là không tán thành đấy, nhưng thầy con tôn trọng tự do con cái lắm, sẽ không phản đối đâu; chỉ có mẹ con thì chắc sẽ buồn và giận đấy, nhưng vì thương con nên rồi cũng qua. Vậy ý cha tính sao?
– Vậy ta tiến hành ngay. Vài hôm nữa, tôi sẽ rảnh rang, chúng ta sẽ xuống Vinh, thầy cấm phòng một tuần rồi về rửa tội.
Ngài nhìn cuốn lịch rồi nói tiếp:
– Vào ngày 9 -1, lễ thánh Gia Thất.
Từ ngày đó tôi ở lại nhà chung xứ Nghĩa Yên chờ ngày đi Vinh cấm phòng: sống gần như một người tín hữu, dự lễ, đọc kinh và đọc bộ “le Christ, vie de l’âme” của cha Dom Columbia Marmion do cha Vương Đình Ái đưa cho. Vài ngày sau, hình như vào ngày mùng 1 hay mùng 2 tháng giêng năm l949, tôi xuống thuyền cùng cha Ái ra Vinh cấm phòng tại nhà dòng Phan-xi-cô, trước khi xuống Vinh, tôi viết một lá thơ cho thân phụ tôi, đại ý xin phép (thực ra là báo cáo) được rửa tội tòng giáo, và xin sự thông cảm của người về việc tôi đã cả dám thực thiện ý định trước khi được người trả lời, và tôi viết: “con tin chắc rằng, vì hiểu rõ con và thương con, thầy sẽ nhận lời, và mẹ sẽ đồng ý với thầy”.
Tu viện dòng phanxicô ở Vinh. Sau gần một ngày một đêm đi thuyền xuống Vinh, cha Ái đưa tôi đến cửa nhà dòng, kéo chuông gọi cửa. Một tu sĩ tuổi chừng 60, mặc áo nâu có lúp, thắt dây lưng gai mở cửa chào đón tươi vui nhẹ nhàng. Thầy dẫn chúng tôi vào nhà khách, mời ngồi và đi mời cha bề trên xuống tiếp khách. Lúc cửa phòng mở ra, cha bề trên bước vào tươi cười bắt tay cha Ái và tôi. Thật như là một “apparition”. Có thể nói tôi có cảm tưởng lạc vào động tiên mà cha bề trên là một vị tiên ông ra chào đón tôi. Tu viện phanxicô khác nào như vườn địa đàng nhỏ ở giữa lòng thành phố Vinh hoang tàn đỗ nát.
Trong bốn bức tường thành của tu viện, một khóm nhà vẫn y nguyên, xây cất theo hình chữ khẩu: bốn dãy nhà bọc lấy một hoa viên, phía sau là một vườn rau xanh tươi. Trong các hành lang thấp thoáng một vài tu sĩ đi lại, từ tốn, im lặng, dịu hiền. Còn cha bề trên tuy là một ông cố Tây, tuổi xấp xỉ lục tuần, nhưng chòm râu bạc phất phơ, dáng vóc gầy như hình hạc, trong bộ y phục mầu nâu, nên trông có dáng dấp nâu sồng dưa muối cửa thiền môn, thêm vào một cái gì âu yếm gần gũi. Ngài như xóa hẳn cái hình ảnh những ông cố Tây đã in khá sâu vào tâm trí tôi từ hồi còn bé. Tôi không thấy nơi Ngài cái gì là Tây nữa! Ngài đã vượt qua mọi biên giới phân chia: ngài chỉ là một nhà tu, cặp mắt, nụ cười, giọng nói (mặc dầu còn lơ lớ giọng người Pháp) đầy một tình người nhuần đượm tình thương, ngay cả ấn lượng thuộc về một “tôn giáo” hình như cũng không còn nữa là chỉ còn là một “con người” của “tình thương yêu” thuần túy. Rồi ngài dẫn tôi vào một căn phòng gọn nhỏ dành cho khách cấm phòng; cách trang trí căn phòng, cách xếp đặt bàn ghế, ngọn đèn, bình nước, ấm trà, thau rửa mặt, cuộn giấy vệ sinh: tất cả được sắp xếp như để đón chào, tạo điều kiện cho con người có cảm tưởng được săn sóc với sự lưu ý đến những chi tiết nhỏ nhặt trong các nhu cầu của con người. Ngay cả đôi guốc xếp gọn dưới gầm giường cũng như in dấu bàn tay săn sóc của mẹ hiền. Và đương nhiên trên bàn, ngoài cây thánh giá, có lọ hoa cắm rất Mỹ thuật. Những bữa ăn thanh đạm nhưng rất chu đáo. Tất cả đều có sự chắt chiu âu yếm làm ấm hẳn lòng người.
Như đã nói trên kia, giáo lý tôi đã học, gọi là tạm đủ, mọi vấn đề đã được giải tỏa, tuần cấm phòng chỉ là thời gian lắng đọng tâm tư trong khung cảnh tươi vui hiền hoà của một tu viện, với sự hiện diện của một tu sĩ đạo đức, với bầu không khí nguyện cầu, chứ không phải là thời gian suy tư học hỏi, tìm kiếm gì nữa. Đầu năm dương lịch vào tiết đông mà hồn tôi bừng nở như một đoá hoa xuân: vì trong hồn tôi, vị Chúa Xuân luôn thuở đã ngự xuống cách thiêng liêng: chỉ còn việc kiên định bằng một bước đi về mặt bí tích và về mặt Nhiệm Thể Chúa Kitô nữa mà thôi. Trong những buổi dạo trên các lối đi của vườn hoa, hay dưới các hành lang của tu viện, các tu sĩ và các dự tu (xấp xỉ lứa tuổi của tôi) gặp tôi chỉ cúi chào mỉm cười im lặng, nhưng như gửi đến cho tôi cả trăm nghìn lời chào đón vui mừng thương yêu. Sau bốn năm rời khỏi trường Thiên Hựu, tôi lại tìm thấy bóng dáng của các bạn học tu sĩ mà tôi đã phác hoạ vài nét ở trên kia: với một cái gì tươi vui hơn, hiền hoà hơn, thanh đạm hơn, nhẹ nhàng hơn. Trong lòng tôi khởi dậy lên một ước muốn tha thiết: “Nếu được cùng chung sống một cuộc đời với các anh em ấy thì hạnh phúc chừng nào!” Ý muốn sống đời tu sĩ đã gieo vào lòng tôi. Và từ lúc ấy, đối với tôi, đời Kitô hữu và đời hiến dâng trọn bản thân cho Chúa chỉ là một. Tôi không hình dung đời sống Kitô hữu của tôi dưới dạng thức nào khác hơn là dạng thức sống kết nghĩa với Chúa Giêsu như các tu sĩ Công giáo đang cùng nhau sống tại tu viện Phan-xi-cô giữa lòng một thành phố đổ nát điêu tàn. Dòng tu như biểu tượng cho sự bình an tái tạo, trùng tu, phục hồi, giữa cảnh trần gian bị đau khổ và tội lỗi phá đổ tan tành. Từ giây phút ấy cho đến nay, dù cuộc sống bên ngoài của tôi có phải chung lộn với cảnh đời muôn vẻ: Đại học, quân trường, ký túc xá ở giữa Paris đô hội, sinh hoạt văn hoá xã hội, ra vào các bộ các dinh, trong trại cải tạo, tại bàn giấy của cơ quan, thì bên trong tâm hồn tôi, vẫn là một tu viện vô hình, nơi tôi hiến dâng bản thân mình cho một mình Chúa dưới sự bảo vệ đùm bọc chở che của Đức Mẹ Maria mà thôi: không rào ngăn, không lời khấn, nhưng vẫn gắn bó keo sơn, có lúc chặt, có lúc lơi, nhưng không bao giờ dứt hẳn.
Sau tuần cấm phòng tôi trở về Nghĩa Yên, và lễ Rửa Tội của tôi được cử hành khá trọng thể, hơi có vẻ “triomphalisme” một tý! Rửa tội xong, tôi được mời ra trước cửa Thánh đường có vài lời cùng toàn thể anh chị em giáo hữu, và sau đó anh chị em vây quanh tôi gần như rước tôi vào nhà xứ giữa bài hát “Hoan hô Chúa Cứu Thế” vang lừng! Cái tin con trai cụ Hiệp Niêm trở lại được loan đi khắp địa phận Vinh như một “sự cố” khá quan trọng. Một số giáo xứ muốn mời tôi đến, gần như để hơi “phô trương” một tí, theo kiểu để trình bày chiến lợi phẩm! Bây giờ suy gẫm lại tôi thấy: đành rằng sự đón tiếp của các cha, các anh chị em giáo hữu dành cho tôi là do lòng vui mừng vì “một con chiên lạc” trở về, nhưng có lẽ thiếu khôn ngoan nhất là về sự “khiêm nhường” mà tôi cần phải được đào luyện làm nền tảng cho lâu đài thiêng liêng sau này. Ngoài ra trong cái bối cảnh xã hội chính trị lúc bấy giờ ở Nghệ Tĩnh, không khỏi có những dư luận bàn tán xôn xao, ngộ nhận, xuyên tạc (và có thể có sự lạm dụng) không có lợi cho ai cả. Lúc ấy dường như người ta đã quên rằng mỗi khi Chúa làm phép lạ, Chúa đều dặn phải kín đáo không được “rùm beng”. Việc “tôi trở lại đạo” năm 1949 ở địa phận Vinh quả có hơi “rùm beng” tí chút.
Trong tuần tôi cấm phòng ở Vinh, Linh mục Vương Đình Ái đã tới gia đình tôi, trao đổi với thân phụ tôi, và ngài chỉ nói với tôi:
– Cụ không được vui lắm, nhưng cụ hiểu và không có gì trách giận anh và tôi cả!
Thế là tôi yên tâm trở lại Hương Sơn.
Trên đường về nhà, từ đàng xa, thấy cái cổng nhà tôi, tôi hồi hộp lo âu, không biết sự gặp gỡ sẽ xảy ra như thế nào. Nhất là mẹ tôi, người sẽ có phản ứng gì? Càng đến gần càng xao xuyến… Nhưng, khác hẳn sự tôi lo âu! Tôi vào nhà, thày tôi chỉ hỏi: “con đã về?”. Nét mặt người không có vẻ gì là tức giận cả, chỉ có nét mặt đăm chiêu tư lư. Còn mẹ tôi, khi tôi chào người, người gỏn gọn có một tiếng: “Ừ”, rồi cúi đầu có vẻ giận. Bữa cơm đầu tiên, tôi thấy có vẻ thịnh soạn hơn thường một chút. Thế là tôi thấy tình thương gia đình vẫn còn nguyên vẹn, chỉ có cái buồn buồn như thoảng nhẹ bao phủ tất cả mọi người trong nhà. Ít trao đổi hơn, và trong lời nói có cái như ngượng ngập nhưng không có vẻ gì là hằn học, oán trách cả. Riêng tôi, tôi cảm thấy lòng như ướp dịu một cảm tình vừa xót xa vừa êm dịu: người cũng như cảnh, đến cả con chó con mèo con gà, cũng thấy quyến luyến ưu ái hơn trước. Và dần dà tôi thấy như mọi người đối với tôi cũng như có cái gì quyến luyến bịn rịn dịu dàng hơn. Vì những ngày trước đó, tôi như một người bất thường, ủ dột, hay nóng nảy, mà nay - thì hình như có cái gì khoáng đạt dịu dàng êm ái, nên có cái gì hấp dẫn hơn. Vì những ngày trước đó và nay đã có cái gì khác! Các em nhỏ, các cháu con anh tôi trở nên quấn quít bên tôi nhiều hơn trước! Tối hôm ấy, sau khi cả nhà đi ngủ, thày tôi bảo tôi lại gần người trò chuyện. Đại khái, người nói:
“Thày không vui gì lắm về việc con theo đạo. Nhưng thày cũng không có ác cảm gì với Công giáo: đạo nào cũng dạy việc tốt lành. Vả lại, thày cũng dự đoán trước, nếu con có theo một tôn giáo nào, thì phải theo Công giáo, chứ Phật giáo đối với con chỉ là một cách tìm an ủi thoa dịu ưu phiền mà thôi. Nhưng nếu con tìm được hạnh phúc trong niềm tin, thì thày cũng mừng cho con. Thày chỉ ngại là việc con theo đạo sẽ bị hiểu lầm xuyên tạc, có thể gây khó khăn cho bản thân và gia đình. Con cố gắng tránh xa những chuyện dính líu vào chính trị rắc rối, cứ chuyên tâm vào đời sống tôn giáo thuần túy và chân chính, để khỏi hại cho bản thân, khỏi liên luỵ đến gia đình là được”. Tôi cũng bảo đảm với người là tôi nhất quyết tuân theo lời người dạy, và trong thâm tâm tôi, ý hướng của tôi cũng như vậy, chứ không có gì khác! Lòng tôi đã hướng về một cuộc sống xa hẳn mọi việc ở đời, hiến thân cho Chúa trong một đời tu hành có hướng khổ hạnh và ẩn dật chứ không thiên về hoạt động giữa đời.

11. XUẤT GIA
Sự lo ngại của thân phụ tôi hình như có cơ sở: tôi trở nên đối tượng của một sự nghi vấn nào đó về chính trị (như tôi đã nói lên kia). Sự hiện diện của tôi trở nên một thắc mắc, một đe doạ cho gia đình, có thể làm phiền đến thân phụ tôi. Do đó, càng ngày tôi càng sống tại nhà anh Trần Đức Đào lại xứ Đông Tràng nhiều hơn, một tuần chỉ về nhà một vài buổi, ngụ ở nhà một vài hôm. Những giây phút ở nhà tuy không được vui, nhưng sự chăm sóc của mẹ và các em đối với tôi vẫn như cũ và hình như có phần chu đáo hơn trước.
Tôi có cảm tưởng rằng sự thay đổi ấy còn có một lý do sâu xa hơn nữa: hình như trong mối tương quan liên-ngã-vị ở gia đình tôi đem đến một yếu tố mới. Từ vị đại khoa nhất phẩm triều đình là thân phụ tôi, cho đến em bé út mới bập bẹ biết nói; từ mẹ tôi có ít nhiều dáng dấp mệnh phụ phu nhân địa chủ phong kiến, cho tới người tớ gái xuất thân gia đình bần nông, đều bắt được nơi tôi một cái gì mà xưa nay họ chưa từng được “nếm”. Ngoài cái phong thái một đứa con hiếu, một anh trai hiền, một cậu tiểu chủ tốt, một “cậu tú” bình dân theo các mối giềng xã hội trong truyền thống Nho giáo, nơi tôi bắt đầu có cái phong thái của một “người” chỉ là “người”, thân hữu với bất cứ ai trong tình người thuần tuý bình đẳng, bởi vì trong Đức Kitô và trước mặt Cha Chung của mọi người ở trên trời, mọi người chỉ là anh em hết thảy. Mẹ tôi, em gái út tôi hay người tớ gái có một dạng là đều là chị em với tôi trong Đức Kitô, chứ không bị giản lược vào cái “chức năng”, cái “nhãn hiệu”, cái “vai trò”, cái “vị thế”, cái “tư cách” là mẹ, là em, là tớ gái. Có thể nói ví dụ là mẹ tôi xưa nay chỉ được xử đãi như là “con”, là “vợ”, là “mẹ”, là “bà cụ thượng”, là “bà chủ nhà”, là “con mẹ địa chủ”, chứ chưa bao giờ nếm cái vị được xử đãi như là một con người thuần tuý! Con “người” không nhãn hiệu, không danh vị nào khác, ngoài cái ngã vị chủ thể của mình, trong sự duy nhất độc đáo của cả. Cái hương vị “tình người thuần tuý”, đặc điểm của Kitô giáo mà tôi nếm lần đầu tiên năm 1938, túc tôi là một cậu bé học sinh 13 tuổi được vị Linh mục giáo sư bắt tay, mời ngồi vào chiếc ghế ‘phô-tơi’ đối diện như trao đổi với người bạn thân hữu, không còn cách xa bởi bất cứ nhãn hiệu gì: già trẻ, thày trò, Pháp Việt mà chỉ là hai người thuần tuý mà thôi. Nói gọn lại, xưa nay tôi chỉ thương mẹ với tình thương của người con, nay thêm vào còn thương mẹ với tình người, mẹ là người con của thiên Chúa trong Đức Kitô, như tôi, như bất cứ ai. Tôi nghĩ rằng, nếu “vô phúc” mà tình cha con, mẹ con, vợ chồng, anh em, chủ tớ, thày trò, đồng nghiệp, đồng chí, đồng hương, đồng bào có bị sứt mẻ hay đứt đoạn, thì vẫn còn tình người trong Đức Kitô muôn đời tồn tại, mà mối tình này vừa nhân các mối tình kia lên gấp bội, vừa bảo tồn gìn giữ phục hồi khi bị va chạm sứt mẻ hay sụp đổ. Nếu có vô phúc hết tình hết nghĩa tình vợ chồng, anh em v. v.. thì “tình anh chị em” trong Đức Kitô vẫn còn nguyên vẹn.
Sau những năm xa cách, qua những thay đổi, có những ngộ nhận sứt mẻ (một vài trường hợp khá trầm trọng), năm 76 gặp lại nhau tôi thấy rõ điều nhận định và suy nghĩ trên đây quả là thật đúng như vậy. Tôi tự hỏi nếu tôi không sống trong tình yêu Đức Kitô, thì tương quan liên ngã vị đối với một số người, qua gần nửa thế kỷ xáo trộn phân chia đối kháng, tranh chấp, đố kỵ, nghi ngờ, phán xét, ngộ nhận, xuyên tạc sẽ đi đến chỗ nào? Nhờ ơn Chúa ngày nay trong trái tim Đức Chúa Giêsu và trái tim Đức Mẹ, mọi mối tình nhân thế đều nguyên vẹn và ngày càng đậm đà tươi mát trong trái tim đã 61 tuổi đời của tôi! (Kể cả những “mối tình” ngang trái bất khả trong những năm 44-49 mà tôi có đề cập đến trên kia).
Trước kia người ta đố kỵ với đạo Công giáo là vì họ nghĩ (và nay cũng có ít nhiều đồng bào ta nghĩ như vậy) rằng “theo đạo” là bỏ cha mẹ, ông bà, tổ tiên, mồ mả mà đi theo một cái gì ngoại lai và thậm chí là theo Tây phản quốc! Nhưng riêng tôi, tôi tự nghĩ nếu năm 49 tôi không được gìn giữ bao bọc bởi Hội Thánh Việt Nam trong Đức Kitô thì ngày nay tôi sẽ trôi dạt ở phương trời nào? Tôi có còn được đoàn tụ với mẹ già, anh chị em, bà con nội ngoại trong những ngày giỗ kỵ nữa không? Tôi sẽ còn là công dân nước Việt Nam nữa không? Tôi sẽ còn thư từ trao đổi, gặp gỡ các anh Đinh Nho Liêm, Đoàn Huyên (Đại tá), Thành Tín (Đại tá), Lý Văn Sáu (Nguyễn Bá Đàn), Lê Thức (Đại tá), toàn là đảng viên Cộng sản rồi cuối cùng về hưu với tư cách là cán bộ của ủy ban khoa học và kỹ thuật Lâm Đồng, và nay mai sẽ gửi đống cát bụi trở về lòng đất mẹ Việt Nam yêu dấu hay không? Và tôi tự hỏi trong tâm thức những người Việt Nam 60 tuổi trở lên như tôi, mấy ai còn khắc khoải thao thức về ngôi nhà thờ họ (đối với tôi là nhà thờ họ Nguyễn), ngôi đại từ đường này đổ nát làm sao mà trùng tu lại? Mấy ai xót xa vì ngôi đình thần của làng Thịnh Xá thờ thần Bạch Vân, của làng Gôi Mỹ thờ Đinh quận công có bà vợ tuẫn tiết theo chồng, hoang phế là điều mất mát? Rồi ngày kỵ giỗ của thân phụ tôi thì không nói, nhưng nhiều túc tôi tự hỏi là ngay cả ngày giỗ bà đích mẫu của tôi chưa hẳn đã còn gợi lên trong tâm tình các anh chị do chính máu mủ người sinh ra những cảm nghĩ như tôi vẫn còn ngày nay; bởi vì tôi không bao giờ quên được kỷ niệm những ngày giỗ ấy trong gia đình tôi: hình ảnh thân phụ tôi, anh chị tôi trong ngày giỗ ấy vẫn còn rất đậm nét trong tâm trí tôi! Mỗi lần dự thánh lễ, lúc cầu nguyện cho các linh hồn ông bà cha mẹ, tôi vẫn nghĩ đến người cùng một trật với thân phụ tôi; vì giáo lý về bí tích Hôn phối dạy cho tôi biết kết hợp trong tâm tư tôi hình ảnh của thân phụ tôi và vị chánh thất của người mà mẹ ruột tôi dầu sao cũng là một người kế vị tục huyền. Tôi vẫn còn nhớ khi cải táng cho người vì anh cả tôi ở xa, anh thứ hai sắp mất, chính tôi đã buộc khăn ngang đóng vai đại diện trưởng nam đi trước di hài của người, ruớc về nơi an táng mới. Quả đúng là mọi sự tốt lành đều sẽ được thâu gồm hồi phục trong Đức Kitô (récapitulés dans le Christ)
Bên trong tâm hồn thì như vậy, nhưng trong hoàn cảnh Năm 1949 tại khu 4: với những biến cố gây nên do sự căng thẳng giữa chế độ mới và Hội Thánh thời ấy, nhất là những sự lộn xộn xích mích giữa các chính quyền địa phương và tổ chức liên đoàn Công giáo, thì sự có mặt của tôi ở gia đình và ở địa phương, trở thành một chướng ngại. Điều ấy cũng có làm cho niềm hân hoan tràn ngập tâm hồn tôi vào mùa xuân có phần bớt đi sự vẹn toàn của nó. Và việc tôi phải lánh mặt đi là điều cần thiết để cho gia đình an ổn. Vả lại, ý định dâng mình vào nhà Chúa càng trở nên kiên định trong lòng tôi túc ấy, các Linh mục phụ trách Đại chủng viện xã Đoài có ý khuyên tôi vào đại chủng viện địa phận để tu học chuẩn bị làm Linh mục triều, nhưng sau khi trao đổi với Linh mục linh hướng (là cha xứ Nghĩa Yên) tôi đã chọn cuộc đời tu sĩ. Mà túc ấy ở Nghệ Tĩnh chỉ có một dòng tu duy nhất là dòng Phanxicô. Tôi chỉ biết là ước ao vào dòng tu, chứ không tìm hiểu gì riêng về dòng Phanxicô! miễn là dòng tu, mà lúc ấy chỉ có mỗi một dòng tu nên không có vấn đề chọn dòng này hay dòng khác. Thế là niên học 1949-1950, tôi xin thôi dạy học tại trường trung học Hương Sơn, xin phép thầy mẹ tôi xuất gia, xuống Vinh để vào tu nhà dòng. Gia đình không cản trở, và vì tình trạng căng thẳng nói trên, nên tôi thấy đó cũng là giải pháp ổn định. Việc tôi đi tu, xa lánh mọi hoạt động sẽ chứng tỏ được rằng quả thực tôi tòng giáo là muốn đi tìm cuộc đời tinh thần phù hợp với bản thân, chứ không phải có ý đồ mục đích trần thế nào cả. Có chăng là chỉ bị chê trách trốn tránh trách nhiệm gia đình, quốc gia xã hội, chứ không bị ngộ nhận là “giả dạng” theo đạo để gia nhập tổ chức chính trị nào.
Thế là tôi rời gia đình vào một buổi chiều đầu mùa thu năm l949, ra nhà một cậu học sinh thân của tôi ở gần bờ sông để sáng mai sang sông cho sớm, đi bộ xuống Nghĩa Yên lấy thuyền (do Linh Mục Vương Đình Ái lo cho) ra Vinh. Sau buổi cơm cuối cùng với gia đình. Tôi xách nón ra đi. túc ấy, cả gia đình tiếp tục ai việc ấy, thân phụ vẫn ngồi xắt thuốc trên tấm phản ngựa bằng gỗ trắc, mẹ tôi vẫn ngồi vá áo trên một chiếc phản ở bên cạnh, các em tôi đứa vẫn xem sách, đứa lúi húi bếp núc, đứa bé nhất vẫn chơi đùa dưới dàn hoa Thiên lý ngát hương thơm, cả nhà im lặng. Phút chia tay này, trong lòng ai cũng cho là gần như vĩnh biệt, mà bề ngoài làm như không có gì xảy ra. Như tôi đã nói trên, dạo ấy đứa em gái út của tôi, hễ mỗi lần thấy tôi bước chân ra khỏi nhà là chạy theo níu lấy áo đòi theo, nếu không cho theo là quay ra khóc. Vì vậy tôi không dám lại ôm hôn nó lần chót, lặng lẽ rút tui hằng ngõ cửa sau bếp, sang các nhà bà con bên cạnh như muốn đi trốn. Nhưng chẳng hiểu vì sao nó chợt trông thấy, quay ra khóc, tôi không dám quay lại, sợ từ đó mà lây sang cả nhà, mẹ tôi và các em khác; tôi chỉ biết gạt nước mắt cúi đầu chạy, bên tai vang lên tiếng khóc thét của đứa em lên ba: “nỏ mô! nỏ mô!” (không đâu) bày tỏ sự phản đối không muốn cho tôi ra khỏi nhà. Không thể nào nói lên nỗi khổ tâm của tôi túc đấy, Nhưng đồng thời cũng cảm thấy như thoát khỏi một sự cầm buộc chặt chẽ làm cho tôi cơ cực suốt mấy năm trời. Chân tôi bước đi trên con đường làng dẫn ra bãi sông, trọ tại nhà người học trò thân, trong trí óc chỉ còn nhớ lại lời thân phụ tôi trong bữa ăn tiễn biệt:
Thôi – thì phúc nhà không cho thầy được hưởng sự gầy dựng cho con theo ý nguyện của thầy mợ, nhưng nếu con tìm được an bình trong đời tu, thì thầy cũng mừng cho con. Thầy chỉ khuyên con một điều: con đã chọn con đường tu trì thì cứ nhất định con đường đó mà đi, đừng bao giờ nghiêng ngả theo sự tôi cuốn nào mà lạc nào con đường chính trị cả!
Phương châm ấy đã hướng dẫn đời tôi, dù sau này có không trọn đời sống trong một dòng tu nào cả, nhưng tôi vẫn sống một cuộc đời gần như tu ở giữa đời, không bao giừ dính líu vào một hoạt động nào có tính cách chính trị cả. Mãi cho đến năm 1978, tôi cũng không làm công chức của một nhà nước nào cả! (hai năm 54-56 bị cưỡng bức tòng quân là hoàn toàn bị bắt buộc làm dịch vụ cho một chính quyền được xem như là hợp pháp do hiệp định Genève mà người dân ở vùng nào phải tuân theo vùng nấy, nếu không là tự đặt mình ngoài vòng pháp tuật). Và mẹ tôi khi tôi cúi đầu chào người, người chỉ thở dài rươm rướm nước mắt và bảo rằng:
Ừ, con đi! nhưng con ơi! Biết đâu địa ngục, thiên đường là đâu?
Hình như giữa người mẹ và người cha, Thiên Chúa ban cho một linh tính nào đó: Mẹ tôi hình như thấy trước rằng cuộc đời của tôi tưởng là cập bến bình an trong bốn bức tường tu viện, nhưng rồi sẽ còn nhiều bước, tuy không gian nan, nhưng rồi lắm nổi chìm, quanh co, khúc khuỷu.
Sáng hôm sau, cậu học sinh thân nhất của tôi tại trường trung học Hương Sơn đưa tôi ra bến đò ngang, sang bên kia sông là đường quốc lộ số 9 (từ phố Châu xuống Vinh) để xuống Nghĩa Yên và xuống Vinh. Từ ấy đến nay tôi vẫn chưa có dịp trở lại bến đò xưa, gọi là bãi bè, bến Cơn (cây) Bàng, Bến Cơn Sung để về thăm quê cũ, bởi vì, sau cải cách ruộng đất năm 1954 tất cả gia đình tôi dần dà đi tha phương lập nghiệp cả, chỉ còn bà chị dâu vợ người anh thứ hai của tôi là ở lại, nhưng tôi chưa có dịp về thăm nhà của chị ấy, thì chị đã qua đời vào tháng 5 /1985 tại Nha Trang trong túc vào thăm người con gái vào dạy học tại trường cấp III Nha Trang sau năm 1975.
Xuống Nghĩa Yên, tôi nghỉ vài hôm rồi đi thuyền xuống Vinh, vào dòng Phanxicô sống đời dự tu, và dạy học cho các tiểu chủng sinh nhà dòng lúc ấy. Có ba lớp 6, 7, 8. Tôi phụ trách môn việt văn cho niên khóa 1949-1950. Được xa lánh mọi xôn xao của cuộc sống, của thế gian bên ngoài, tôi chìm sâu vào cuộc đời cầu nguyện. Lúc ấy, cha bề trên lần lượt trao cho tôi nhiều sách thiêng liêng, nhưng in sâu vào tâm trí của tôi là cuốn “Les prières d’un croyant” của Marcel Légaut mà tôi có phỏng dịch nhiều đoạn, chuyền tay cho cha xứ ở Cầu Rầm, ở Vinh phổ biến cho một số ít các chủng sinh và Linh mục, đồng thời tôi cũng có viết một tập nhan đề: “Tôi tin có Thiên Chúa” có tính cách minh giáo, cũng do cha xứ Cầu Rầm chuyền tay phổ biến, túc ấy tôi chỉ tìm hiểu thêm về đời sống tu trì nói chung, đọc các sách thiêng liêng chung như tác phẩm của cha Ray, cha Rodrigue, chứ không chuyên gì về tinh thần Phanxicô cả, có thích cái phong thái nghệ sĩ của vị thánh nghèo khó, nhưng là thích một cách khá hời hợt mà thôi.
Tôi quên một chi tiết nhỏ: trước khi rời gia đình đi tu, tôi có thưa với mẹ tôi: “Từ nay con sẽ không còn hưởng nhờ gì của thầy mẹ nữa, tài sản con sẽ không kể, con xin mẹ cho một cái gì như là kỷ niệm của thầy mẹ”. Mẹ tôi đưa cho tôi hai chỉ vàng, tôi đánh hai chiếc Thánh Giá, mỗi chiếc một chỉ. Tôi đưa một chiếc tặng cho người bạn thân nhất của tôi, vì tôi biết anh ấy có ý muốn tòng giáo như tôi, và một chiếc tôi giữ làm kỷ niệm của gia đình. Sau 75 ra Hà Nội, tôi có gặp lại người bạn ấy nhưng không đề cập đến cái món quà ấy ra sao (vì cuối cùng anh ấy đã không tòng giáo như có ý lúc bấy giờ). Còn chiếc Thánh Giá tôi giữ làm kỷ niệm, tôi đã dâng cúng theo lời khấn mà tôi sẽ nói ở đoạn sau.
Hết niên học 1949-1950, các tiểu chủng sinh về nghỉ hè, tôi cũng có theo một số em về quê họ, nơi giáo xứ Tịnh Giang, gần thị xã Hà Tĩnh, là nơi Linh mục Vương Đình Ái được chuyển về làm cha xứ. Tôi ở đó một vài tuần đi thăm viếng một vài giáo xứ lân cận, chứ không về thăm nhà sợ gây ra những bất trắc rắc rối về nhiều mặt. Trong năm tôi dự tu và dạy học lại dòng Phanxicô, linh mục Nguyễn Ngọc Bang, cha xứ Nghĩa Yên có vài lần xuống Vinh thăm một tu sĩ là con đỡ đầu của ngài, ngài đã nâng đỡ khuyến khích tôi trên con đường quyết tâm dâng mình cho Chúa. Và đầu niên học 1950-1951, tôi được hội đồng nhà dòng chấp nhận vào tập viện dòng Phanxicô, lễ mặc áo được tổ chức ngày 4 tháng10 năm l950. Tôi có tin cho gia đình tôi, và có ngỏ ý xin gia đình cho người thân đại diện xuống dự lễ, quả thật, thầy mẹ tôi rất thương tôi, cho nên đã vui lòng cho em trai tôi xuống Vinh dự lễ mặc áo dòng của tôi, để cho tôi được an tâm, bởi vì cho người thân tới dự lễ là một cách biểu lộ sự bằng lòng không có gì oán trách giận ghét. Xin Chúa xem đó như là một sự dâng hiến của lễ do bàn tay cha mẹ tôi dâng lên, mà dủ lòng ban ơn cứu độ cho hai đấng sinh thành dưỡng dục tôi nên người để dâng lên cho Chúa. Và tôi tin chắc là như thế, mặc dù hai đấng không được ơn đón nhận Ngài và chịu ơn thanh tẩy.
Trong năm ở nhà tập, mọi sự xảy ra êm đềm tốt đẹp, tôi càng ngày càng cảm thấy được triển nở, càng được nếm những dịu ngọt thiêng liêng. Thỉnh thoảng tôi có biên thư về thăm hỏi gia đình. Và Chúa cũng thương tôi, sắp đặt một sự việc làm tôi yên tâm về mặt gia đình, như tôi đã nói ở trên kia là: Sau khi người anh thứ hai của tôi mất đi, tôi trở nên như người cột trụ tương lai của gia đình, tôi rời bỏ gia đình đi tu chắc là thầy mẹ tôi thấy mất đi một nơi các ngài đặt nhiều hy vọng. Chỉ có Chúa mới biết hết nỗi khổ tâm của hai người, nhưng Chúa đã đoái thương sắp xếp, ban cho thầy mẹ tôi một người con rể thay thế tôi! Tôi có người bạn rất thân: anh Nguyễn Ngọc Cẩn quê ở Bình Thuận, ra Hà Nội năm 1946 để học y khoa. Sau ngày Hà Nội kháng chiến, bị cắt đường bên lạc với gia đình, anh Cẩn trở về Nghệ Tĩnh dạy học tại trường Đậu Quang Lĩnh với tôi, và xem gia đình tôi như gia đình của anh ấy vậy. Từ đó, cuộc tình duyên giữa anh Cẩn và người em gái tôi bắt đầu và đi đến cuộc thành hôn vài tháng trước khi tôi rời bỏ gia đình đi tu. Anh Cẩn (nay là em rể tôi) dường như thay thế tôi trong vai trò người con trai lớn trong gia đình. Quả vậy, trong những năm mà gia đình tôi suy sụp, chú Cẩn là một tay đắc lực dìu dắt và đỡ nâng các em tôi trên con đường học hành và lập thân. Ở lại miền Bắc, chú Cẩn đã trở nên người con trong gia đình thay thế cho tôi vậy. Đó là một ơn lành Chúa ban cho gia đình tôi, vì nếu không có chú Cẩn thì những năm sau cải cách ruộng đất không biết số phận các em tôi sẽ ra sao? Mãi đến năm 1964 túc anh Viện của tôi ở Pháp về Bắc, vai trò của chú Cẩn trong gia đình tôi mới được cất nhẹ đi, vì đã có anh Viện cáng đáng mọi sự. Tôi thấy rõ có bàn tay Chúa quan phòng sắp đặt. Thật vậy, sự ra đi của tôi đã giảm nhẹ sự gay cấn do hoàn cảnh xã hội bên ngoài gây nên cho gia đình vì sự “theo đạo” của tôi, chứ ở lại với gia đình chưa chắc tôi đã làm được gì. Dầu vậy, Chúa đã gọi chú Cẩn đến để thay thế cho tôi, với tất cả sự thuận tiện của một trang thanh niên có sức khoẻ, có tình độ, có tâm huyết và có điều kiện chèo chống cho gia đình trong cơn bão táp (vì sau này chú Cẩn là một viên chức cao cấp trong ngành giao thông vận tải và được kết nạp đảng khá sớm). Nay vợ chồng chú Cẩn đã có cháu ngoại cháu nội, gia đình tương đối khá về mặt vị trí trong xã hội.
Nhờ được an tâm về mặt gia đình như thế, nên con đường tu trì của tôi, cho đến ngày tôi vào Nha Trang và bị động viên giữa năm 1954, kể ra là rất thuận buồm xuôi gió, ít ra là về mặt ngoài.

12. NỖI NHỚ CÁT MINH
Với sự hăng say của một kẻ tân tòng, với tiếng tăm của gia đình, với khả năng học hành của tôi, tôi được nhà dòng đặt nhiều hy vọng. Thế nhưng trong thời gian ở tập viện đã có một sự kiện ảnh hưởng quyết định trên đời tôi: Đó là việc Linh mục giải tội đưa cho tôi xem cuốn “Câu chuyện một tâm hồn” của Thánh Nữ Tê-rê-sa Hài Đồng. Từ đó tôi thấy rằng lý tưởng của tôi là có được một đời sống như Thánh Nữ: tôi hướng lòng về một cuộc đời tịnh tu chiêm niệm mà nền tảng là nguyện gẫm. Vì Thánh Nữ thuộc dòng Cát Minh (Carmel) nên tâm hồn tôi tuy hướng về đỉnh núi Cát Minh. Rồi tôi tìm đọc thánh Gioan Thánh Giá và Thánh nữ Têrêxa Avila. Tôi trực cảm rằng hình như con đường của tôi là đường thiêng liêng dòng Cát Minh hơn là đường thiêng liêng của vị Thánh nghèo khó thành At-xi-di. Nghĩ vậy thôi, chứ bấy giờ tôi làm gì có khả năng rời khỏi khu 4, cho nên muốn sống đời sống tu thì chỉ có một dòng Phanxicô mà thôi. Vả chăng, giữa cá nhân hai vị Thánh ấy, Phanxicô và Têrêxa Hài Đồng phải là không có những nét tương đồng. Hơn nữa, sinh hoạt của một tập viện chỉ chuyên chú vào việc đào tuyện thiêng liêng thì không khác gì mấy với sinh hoạt của dòng tu kín.
Có một điều đáng lưu ý là trước đó, lúc chưa rửa tội Linh mục Vương Đình Ái đã cho tôi mượn toàn bộ cuốn: “Le Chist, Vie de l’âme” của cha D. Marmion, rồi lúc học ở Thiên Hựu, tôi có dịp học với Linh mục Dom Corenthin, cũng thuộc dòng Biển Đức, nhưng tôi cảm thấy không muốn tu dòng Biển Đức. Lý do là những lần đi cắm trại tại các đồi núi chung quanh Huế, nhìn thấy tu viện Thiên An, tôi đã có cảm tưởng nó quá nặng nề, không phù hợp với tâm hồn tôi vốn đã quá quen nhìn nơi tu hành dưới dáng những ngôi chùa ẩn mình kín đáo nhẹ nhàng ven sườn núi. Mà có lẽ nó cũng không phù hợp với tâm hồn Á Đông nói chung. Đọc Têrêxa Hài Đồng và Thánh Gioan Thánh Giá, tôi thấy một cái gì gần gũi, phù hợp với mối khao khát tận đáy lòng tôi đang hướng về một sự thần hiệp đơn độc với sự đơn độc, trong sự im lặng thầm kín. Trong khi đó, dòng Phanxicô dường như hơi có xu hướng bộc phát ra bên ngoài, thiên về cảm tính nhiều hơn. Ngoài ra, tôi còn thấy trong sự đào tuyện thiêng liêng hình như thiếu một linh đạo rõ rệt, và hình như cái hình thức sống có tuật, có quy chế, có nề nếp của một dòng tu cũng chưa hẳn là hoàn toàn như ý vị Thánh nghèo khó muốn thực hiện. Có lẽ một vài người sống trong cái chòi ven bờ suối, không giờ giấc, không khuôn khổ hơi có vẻ phóng túng lãng tử, sẽ đúng với lý tưởng của Ngài hơn? Hình như trong tôi có cái gì không hợp với những cái khuôn khổ, quy chế, lề tuật, mực thước, gò bó, hệ thống, tổ chức. Ngay về tư tưởng “Pensées” theo kiểu Pascal, chứ các hệ thống Toma Aquino, Kant, Spinoza, Hégel làm tôi thấy ngộp thở. Âu Tinh, Kierkegaard hợp với tôi hơn. Tôi bị dị ứng với chữ “luật” vì nó cứ gợi lên hình ảnh gông cùm ràng buộc. Chữ “lễ buộc” bao giờ cũng làm tôi thấy khó chịu. Và tôi thấy Chúa sống ba năm với các môn đồ cũng có cái gì bôn ba lãng tử. Một câu hỏi tuôn tuôn lởn vởn trong đầu óc tôi: tinh thần duy lý trí Hy Lạp và duy tuật Rôma, cũng như cái hiếu động và duy xã hội tập thể của Tây Phương có phù hợp với con người Đông phương hay không? Sau này, khi đọc về đời các vị ẩn tu tại cận Đông trước thời Pacôme Ba-xi-li-ô lập lối tu cộng đoàn, tôi lờ mờ thấy rằng e có lẽ đó chính là điều tôi ao ước. Bởi vì, từ tấm bé, hai chữ “tu hành” tuôn gợi lên cho tôi hình ảnh những vị thiền sư, đạo sĩ, chỉ có một mình, có đệ tử thì cũng chỉ là môn đệ tâm truyền một thời gian, rồi lại để các đệ tử ấy một mình ra đi theo con đường riêng của họ; cứ như thế mà theo kiểu gieo hạt tung rơi, chứ không thành tuống, thành hàng theo kiểu có dòng có dõi, ép theo một khuôn đúc, mang tên của một vị Thánh lập dòng như mang họ của cha ông phần đời. Nói gọn lại, có lẽ tôi có hướng độc tu tự do theo lối ẩn sĩ, cư sĩ nên bất cứ tu theo lối dòng tu nào cũng thấy bất ổn. Có chăng thì chịu sự hướng dẫn nhất thời của một sư phụ, rồi lại ra đi một mình trên đường tìm gặp Chúa. Trong sự Diện đối Diện với một mình Ngài mà thôi.
Có điều đáng nhấn mạnh, là theo bề ngoài thì từ thuở bé tôi là đứa bé rất ngoan, tuôn tôn trọng kỷ tuật, ít vi phạm các qui tắc, rất vâng lời, ít bướng bỉnh, đúng giờ đúng giấc có thể nói là rất “reglo”, nhưng bên trong lại có khát vọng sống ngoài vòng bất cứ sự cương tỏa hay rập khuôn nào. Đó là huyền nhiệm chỉ có một mình mình với Chúa mà thôi! Bất cứ ai bất cứ gì thì cũng chỉ như Gioan tẩy giả, giới thiệu mọi người với Chúa Giêsu, rồi rút tui để một mình họ đối diện với Ngài. Có truyền thuyết cho rằng khi vâng lời Đức Hồng Y Hugolin viết tuật dòng, Phanxicô Assisi lấy làm khổ tâm lắm. Không rõ thực hư ra sao và có ý nghĩa gì, nhưng dầu sao cũng nói lên cái gì khá gần gũi với tâm hồn tôi. Có phải như thế là lãng tử quá chăng? Phiêu diêu quá chăng? Nhưng trong lịch sử đời tu của Hội Thánh suốt 3, 4 thế kỷ đầu, chỉ có hình thức độc tu ẩn sĩ như vậy mà thôi; các dòng tu với lề tuật, khuôn khổ chỉ là xuất hiện về sau. Nhiều túc tôi bâng khuâng tự hỏi: thế kỷ 20 sắp tàn bước qua thế kỷ 21, liệu chung đời tu lại sẽ trở về dạng thức như trước thế kỷ thứ 4 không? Và có phải vì vậy mà tôi đã mang cái ước mơ đời tu trì lang thang trên mọi nẻo đường: suốt 30 năm lận đận (từ 1956-1986, gấp đôi thân phận nàng Kiều)? Gần đây tôi mới biết giáo tuật mới lại có khoản (điều 603) về dạng độc tu.
Sau khi khấn tạm, bề trên quyết định đưa chúng tôi vào Nha Trang là nơi có viện triết và thần học của dòng Phanxicô. Ngài có làm đơn xin chính quyền hẳn hoi, song chờ đợi quá lâu không được trả lời ngài quyết định cho chúng tôi (15 người) đi lén để đường tu học của chúng tôi không bị dậm chân tại chỗ. Bấy giờ ở Thanh Hóa dòng Phanxicô có một tu viện, trước 1945 là tiểu chủng viện (ở Vinh là tập viện) bề trên gởi chúng tôi ra đó, có xin phép chính quyền địa phương, với lý do là ra sửa sang nhà cửa đã bị hư hỏng nhiều, và có khả năng phân đôi số tu sĩ cho đều nhau giữa hai cơ sở tu viện. Sau khoảng hai tháng ở Thanh Hóa, một đêm nọ chúng tôi xuống một xứ đạo ở Sầm Sơn và đêm khuya xuống thuyền vượt sóng ra Phát Diệm, lên Nam Định, lên Hà Nội rồi vào Nha Trang, vùng do chính phủ Bảo Đại kiểm soát. Cuộc vượt biên của chúng tôi không phải là di cư vào Nam để trốn cộng sản, mà chỉ là tiếp tục theo dõi việc tu học, thực hiện ý nguyện dâng mình phụng sự Thiên Chúa theo lý tưởng dòng tu, chính vì vậy mà cha bề trên đã làm đơn xin đàng hoàng, chỉ có điều chưa được chính quyền chấp thuận đã đi trước. Sang vùng chính quyền Bảo Đại kiểm soát (lúc ấy gọi là quốc gia), 15 người chúng tôi không hề tiếp xúc với bên ngoài. Suốt thời gian chuyển đi, tới đâu chúng tôi cũng sống trong khuôn khổ kín cổng cao tường của một dòng tu, kinh nguyện đúng giờ đúng giấc, chẳng ai đi đâu ra ngoài chỉ trừ vị tu sĩ phụ trách lo các thủ tục di chuyển, lo chỗ ăn chỗ ở mà thôi. Khi tới Phát Diệm, chúng tôi ở tại nhà chung, chỉ được phép lên chào Đức Giám Mục Lê Hữu Từ, hầu chuyện 15 phút. Một tuần sau chúng tôi lên Nam Định, ở trường Naza một hôm rồi lên Hà Nội ở tại dòng Chúa Cứu Thế khoảng hai tuần, rồi xin máy bay vào Nha Trang. Tại Hà Nội chúng tôi chỉ được phép đến tòa Giám mục hầu chuyện Đức Cha Trịnh Như Khuê khoảng 15 phút; riêng tôi được đi thăm người cô của Linh mục Vũ Khởi Phụng để thăm “cháu Phụng” và hai em ở đó (theo yêu cầu của song thân linh mục Phụng là ông bà Vũ Thế Hùng bị kẹt ở khu 4); ông Phan Biểu Tam là bạn thân của anh Viện tôi để hỏi tin tức anh Viện ở Pháp, và gia đình ông Phan Huy Quát, chị em con chú bác với anh rể tôi là Đặng Văn Ấn, để cho bà Quát biết tin hai cụ song thân là cụ Đặng Văn Hương ở Điễn Châu Nghệ An, ngoài ra mãi cho đến ngày tôi bị động viên cưỡng bách đi học ở quân trường Thủ Đức, tôi không biết gì về những việc xảy ra ở ngoài đời. Phần tôi, rời khỏi khí quyển nhà tập, vào khuôn khổ của học viện tôi thấy có một sự thay đổi: trước năm 45 tôi là một người rất ham học, có thể nói là mê học, nhất là học triết lý để tìm đạo sống. Nay tự nhiên tôi không còn ham mê học nữa, vì tôi đã gặp chính Đấng Chân lý tự thân là Đức Giêsu-Kitô. Câu sách gương phúc: “các nhà thông thái hãy im tiếng để cho lời Ngài soi sáng” đối với tôi thật là chí lý! Tôi thèm muốn cuộc đời của cô Maria: suốt đời ngồi dưới chân Chúa mà nhìn ngắm, lắng nghe; mọi suy luận trí óc nhân loại của tôi đều khô khan, nhạt nhẽo, không thực, chỉ là xây dựng phạm trù trừu tượng như một trò chơi ô chữ. Có năng khiếu và là người học giỏi nhất lớp triết, nhưng tôi cảm thấy chán, chỉ muốn cuộc sống của các thầy trợ sĩ: cầu nguyện, âm thầm trong sự kết hợp với Chúa, chứ cuộc đời học viện quá nặng tính cách ký túc xá đại học.
Thế là câu hỏi phải chăng tôi có ơn gọi chuyển sang một dòng tu chiêm niệm trở nên một thao thức khôn nguôi như trên tôi đã nói, tôi nghĩ đến dòng Cát Minh. Song ở Việt Nam không có dòng Cát Minh ngành Nam. Suốt 3 năm ở Nha Trang tôi đã làm phiền cha phụ trách học viện và các cha linh hướng về vấn đề ấy. Và mặc dầu bề trên dành cho một sự tin cậy và có phần ưu đãi, tôi vẫn thấy mình không ở đúng chỗ. Do sự căng thẳng đó, sức khoẻ tôi có phần giảm sút, chứng đau dạ dày tái phát, nhà dòng phải dành cho tôi một tiêu chuẩn riêng trong ăn uống ngủ nghỉ. Do đó, tôi không được thực sự hòa mình vào cộng đoàn và có phần nào như hơi “biệt lệ”. Đằng khác, cái gốc gác con quan, ngoại giáo, nhà nho, với sự hăng say quá mức hơi có ít nhiều chút ít kiêu ngạo, cũng phần nào làm cho tôi không mấy thực sự như các anh em cùng lớp, cứ vẫn có cái gì khang khác. Suy lại, tôi thấy lúc ấy mình có nhiều tác phong thiếu khiêm nhường và yêu thương, bề ngoài thì không vi phạm kỷ luật, nhưng bề trong thì thiếu một tinh thần cộng đoàn thực sự, những sự va chạm nho nhỏ bắt đầu, tuy bề ngoài thì hoà thuận, chung sống chung học, chung mọi việc, nhưng dần dần tôi thấy như hơi lạc lõng. Có lúc cha phụ trách nhóm triết chúng tôi đặt vấn đề vận động cho tôi được xuất ngoại, chuyển sang tu dòng Cát Minh ở Pháp hoặc ở Ấn Độ. Nhưng rồi phần thì sợ đó chỉ là cám dỗ, phần thì quá gắn bó tình thân với gia đình Phanxicô, tôi không dám quả quyết. Tuy nhiên trong tâm hồn không mấy an bình; việc tu đức cũng có phần kém sút, một số tật hư thói xấu cứ bắt đầu tái xuất hiện; có một sự mệt mỏi nào đó xâm chiếm tâ hồn tôi. Tôi không hề có ý nghĩ trở lại cuộc đời thế gian, mà chỉ chú tâm đến một dòng chuyên về chiêm niệm hơn. Ngặt một nỗi là tôi không hề nghĩ đến dòng Xitô hay dòng Biển Đức có ở Việt Nam, mà chỉ nghĩ đến dòng Cát Minh mà thôi. Giả sử ở Việt Nam túc ấy có dòng Cát Minh thì tôi nhất quyết chuyển sang rồi! Muốn chuyển thì phải xuất ngoại, mà đối với những người ở vào lứa tuổi như tôi, đang bị luật động viên quân sự chi phối, thì việc xuất ngoại không phải là đơn giản. Ngoài ra, cái viễn tượng một thân một mình ra ngoại quốc cũng làm cho tôi rất ngại! Bao nhiêu dịp cấm phòng, bao nhiêu lần kinh lược cấp tỉnh dòng hay cấp tổng dòng, tôi đều xoay quanh vấn đề ấy: thật là một sự lãng phí thời gian và tiêu hao năng lực thể chất cũng như tinh thần. Đời sống thiêng liêng của tôi do đó cứ giảm sút dần, càng ngày càng thấy nguội lạnh khô khan, có sự bất ổn ngấm ngầm, mặc dầu tương quan về tình người đối với các cha, các thầy vẫn tốt; tôi vẫn được nuông chiều, nâng đỡ, có thể nói là khá biệt đãi so với anh em. Cũng vì vậy, ý định bỏ dòng Phanxicô sang lòng khác càng trở nên khó khăn, vì nó như là một sự tệ bạc trước tình ưu ái rất lớn mà các cha, các thầy đã dành cho tôi trong gần 5 năm trời. Tôi cứ chần chừ như vậy cho đến năm thứ I thần học.

13. TRONG BỘ ĐỒ LÍNH
Thế rồi, đùng một cái tôi và một thày trẻ nhất trong nhóm Triết bị gọi trình diện nhập ngũ. Thày kia thì vì ở trong lứa tuổi, tôi thì vì có khai đậu bằng tú tài. Dù tôi đã quá tuổi, nhưng thuộc diện nhân lực bổ sung lớp sĩ quan trừ bị. Bấy giờ quân đội Pháp đã tính chuyện rút lui. Việt Nam – hóa toàn diện quân đội của chính quyền Quốc gia: lệnh động viên được áp dụng triệt để do khẩu hiệu “Je fais la guerre” của thủ tướng Nguyễn Văn Tâm.
Thế là tháng 4 năm 1954, hai chúng tôi rời khỏi nhà dòng lên đường vào trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Đối với tôi thật là chuyện kinh hoàng vì nhiều lẽ: bản chất tôi vốn ốm yếu, vốn sợ bạo động mà nay lại bị ném vào cái nghiệp binh đao. Tình hình chính trị thì đất nước chia đôi mà gia đình tôi lại ở miền Bắc. Tòng quân còn có phần nào như đi lính cho Pháp. Rời bỏ cuộc sống “tu sĩ”, rơi tỏm vào cuộc sống “binh lính” ở quân trường, đầy những tập tục không mấy thanh cao của đời “đi lính” tôi như rơi xuống hoả ngục trần gian. Cũng may là nhờ sự can thiệp của Giáo Hội, chúng tôi được hưởng hai đặc miễn:
Không phải ra chiến đấu mà sẽ chỉ làm việc văn phòng, hoặc những ngành không trực tiếp đổ máu.
Sau hai năm nghĩa vụ sẽ được giải ngũ trở về tu viện. Do đó tôi cũng còn được nuôi hy vọng là sau thời gian tạm ngưng hai năm, sẽ lại được tiếp tục “đời tu”.
Sau 6 tháng học tập lại quân trường Thủ Đức, tôi được điều động lên Buôn Mê Thuột với cấp bậc Thiếu úy trừ bị phụ trách ban tiếp vận của phòng 4 đệ Tứ quân khu (sau đổi là quân khu 2). Tuy lúc ấy, quân đội đã gọi là Quân lực việt Nam do tướng Hinh làm Tham mưu trưởng: nhưng tư lệnh quân khu 4, trưởng phòng 4 vẫn là sĩ quan người Pháp. Mãi sau khi chuyển hẳn cho người Việt Nam mới hoàn toàn do sĩ quan người Việt chỉ huy, sau ngày ông Ngô Đình Diệm chấp chính. Trong thời gian tôi còn ở Thủ Đức thì Hiệp định Genève được ký kết. Theo đó thì nước Việt Nam tạm chia thành 2 vùng quân sự, chờ ngày Tổng tuyển cử đi đến “thống nhất”. Tôi còn nhớ rõ, hôm ấy, tôi đang ở trên một vọng canh trong trường Võ bị Thủ Đức, thì nghe đài truyền thanh loan tin “đình chiến”. Tôi nghĩ rằng tất cả mọi người Việt Nam trong giờ phút ấy đều vui mừng hớn hở, chờ đợi một ngày mai tươi sáng sẽ đến sau hai năm tạm phân chia. Cũng như 10 năm kháng chiến chống giặc Minh, chắc hẳn 9 năm chống Pháp cũng sẽ đem lại hoà bình cho một nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Do đó nên suốt 2 năm (54-56) ở trong quân đội của chính phủ miền Nam, tôi khá yên tâm; vì theo Hiệp định Genève, vị trí của tôi cũng không đến nỗi bị xem như có gì là đắc tội với Tổ quốc; hai chính phủ phần nào công nhận nhau, tìm một giải pháp để mọi người Việt Nam sẽ được yên tâm hướng về tương lai mà không sợ bị trả thù, kỳ thị… nhất là đối với những kẻ bị cưỡng bách tòng quân. Trong thời gian ở bộ tham mưu đệ Tứ quân khu, công việc chính của tôi là thâu nhập, sắp xếp các hồ sơ về quân trang quân dụng, quân cụ, quân y, quân nhu của các đơn vị miền Bắc rút vào miền Nam và bị giải thể. Công việc của tôi là công việc mang sắc thái “hoà bình”: một số lớn hồ sơ là giải ngũ, phục viên, trợ cấp thương binh liệt sĩ! Kể ra không có việc gì là có mùi khói lửa cả, mà chỉ là những việc mang hy vọng “hoà bình”. Chỉ có một việc duy nhất mang tính cách chiến tranh là gọi sư đoàn Nùng tiếp cứu cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm, có cơ bị Tham mưu trưởng Nguyễn Văn Hinh đảo chánh. Tuy nhiên, đó chỉ là sự tranh chấp giữa 2 xu hướng chánh trị của phe miền Nam, chứ không phải giữa 2 miền Nam-Bắc.
Ngoài giờ làm việc tại văn phòng, cuộc sống của tôi chỉ là: dự thánh lễ, đọc kinh, lần hạt. Tôi sống chung với một vài anh em chủng sinh và tu sĩ bị động viên cùng làm việc ở Buôn Mê Thuột được mấy tháng. Sau khi các anh em ấy được giải ngũ, vì họ nhập ngũ trước tôi và được tròn hai năm nghĩa vụ quân sự, tôi lại sống một mình tại phòng mặc áo lễ của nhà thờ tuyên úy đệ Tứ quân khu. Hai năm sống trong quân đội ấy, thực ra chỉ là hai năm làm thơ ký thu thập hồ sơ cho phòng 4 bộ tham mưu của một quân đội trên đường rút lui, án binh bất động, mà một số lớn đơn vị bị giải thể. Tôi tiếp tục cuộc sống với tinh thần “tu sĩ”: ngoài công việc chuyên ngành, thì không giao du tiếp xúc với bất cứ giới nào. Hàng tháng tôi viết thư báo cáo với Bề trên về mọi mặt: thiêng liêng, sức khoẻ, kể cả việc sử dụng tiền lương, vì tuy được tạm thời chuẩn lời khấn, nhưng vẫn giữ tinh thần lời khấn để sau 2 năm lại trở về tiếp tục đời tu. Trong sự đối đầu giữa 2 miền Nam-Bắc, sự tranh chấp giữa các phe phái ở miền Nam, tôi chẳng có một suy nghĩ, một lựa chọn nào, vì tự cho mình đã là tu sĩ, thì chỉ biết dâng mình cho Chúa; còn mọi sự thế gian không thuộc về mình nữa. Tôi chỉ cốt giữ làm sao cho công việc chuyên ngành trôi chảy, nhất là xúc tiến việc trợ cấp thương binh và gia đình tử sĩ cho đầy đủ, công bằng, nhanh chóng.
Tôi cố gắng giữ mình khỏi mọi lôi cuốn thế tục và nóng lòng hướng về ngày giải ngũ trở lại Tu viện.
Nói chung, hai năm ấy trôi qua vô sự trong một tình trạng khá an ổn của đất nước, mặc dù bị tạm chia cắt. Chỉ có một chấm đen là tin buồn về vụ cải cách ruộng đất. Thân phụ tôi bị đấu tố, kết án 20 năm tù, vừa đi cải tạo được vài hôm thì sức khoẻ yếu, nên đã từ trần; còn ở gia đình thì mẹ và các em sống rất cơ cực. Tôi chỉ thương tiếc đau buồn, dâng lên cho Thiên Chúa trong sự thuận tình với Thánh Ý, cậy trông vào mầu nhiệm “Khổ giá” với lòng tin rằng: trong tình yêu Cứu độ – thì đau thương nào cũng có ít nhiều, xa gần gắn liền với nỗi khổ đau của “Con Người đau khổ” (l'Homme de douleur) trên Thánh giá. Quả vậy, như trên kia đã nói: cuối đời, thân phụ tôi có ít nhiều ý thức về những sai lầm khó tránh khỏi trong mấy chục năm quan trường, nên người có thái độ đón nhận với tinh thần đền bồi những đau khổ mất mát xảy đến cho bản thân cũng như gia đình. Cho nên, tuy thân phụ tôi không trực tiếp được đón nhận Tin mừng Cứu độ của Đấng Cứu thế Chuộc tội, tôi tin tưởng rằng với thái độ khiêm tốn và với ý thức đền bồi đón nhận những đau khổ như thế, thân phụ tôi đã được thông dự phần nào vào mầu nhiệm Tử nạn của Đấng Cứu Thế, qua cái chết đau đớn khá nhục nhã trong cải cách ruộng đất. Chỉ vì nghĩ thế mà tôi không hề có gì là oán thù, phẫn nộ đối với những người, những việc đã có ít nhiều đưa chén đắng cay đến cho thân phụ và gia đình tôi. Bóng cây Thánh giá, có Đức Mẹ trên đồi Núi Sọ, đã phủ lên tang tóc đau thương của gia đình tôi một cái gì êm dịu, tuy xót xa đau đớn. Tôi tự hỏi: nếu thân phụ tôi, mẹ tôi, anh chị em tôi cứ ở mãi trên đà hãnh tiến, sống trong giàu sang phú quí, chết trong tống táng linh đình thì số phận đời sau không biết sẽ ra sao? “Phúc cho những ai khóc lóc”, đó là Ánh sáng dẫn đường cho tôi khi được tin buồn về chuyện gia đình ở miền Bắc. Tôi chỉ xin Chúa xót thương, an ủi, thứ tha và cứu độ cho tất cả, sự phán xét hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Chỉ tiếc là với cái vốn liếng Nho học và Đông y của thân phụ tôi, nếu không bị mất đi ở trại cải tạo, thì sau còn có thể đóng góp được cho Đất Nước. Quả là hơi lãng phí, mà chẳng lợi gì cho ai cả! Nhưng ý Chúa nhiệm mầu làm sao biết được! Mọi suy tư cảm xúc chỉ là cái hạn hẹp của con người, trong thâm tâm tôi vẫn xác định: “Tất cả đều là Ân sủng” và tạ ơn Chúa, bởi vì tâm hồn tôi đã thấm nhuần tinh thần “khổ nạn” mà Hội Thánh đã tán tụng là: “La bienheureuse passion”, “La glorieuse passion” – “Cuộc khổ nạn Đại phúc và Vinh quang”, và “khóc lóc” là một trong 8 Mối Phúc Thật. Mai sau, những giọt nước mắt của những kẻ thành tâm thiện chí sẽ được lau khô, và biến thành những viên ngọc muôn đời rạng rỡ: nước mắt chúng sinh chứa đầy bốn bể đại dương đã được thâu gồm trong một Trái Tim bị lưỡi đòng đâm thâu treo trên khổ giá, và một Trái Tim tan nát như bị lưỡi gươm xuyên qua, lặng yên dưới chân cây khổ giá. Hơi thở cuối cùng của thân phụ tôi trong rừng sâu của miền núi non Hương Khê; những giọt nước mắt của mẹ tôi, anh chị em tôi – khóc chồng, khóc cha không đến nỗi là hoàn toàn vô ý nghĩa – dưới cái nhìn của một Kitô hữu hàng năm ngắm đàng Thánh giá vào ngày thứ Sáu Tuần Thánh.
Trong hai năm tòng quân, tôi rút ra được kết quả có thể nói là tích cực sau đây:
Thứ nhất là có dịp nhìn rõ xã hội miền Nam. Tôi đã có kinh nghiệm ngoài đời về 2 chế độ: Chế độ của thực dân Pháp trước năm 45 và chế độ “dân chủ cộng hoà” sau 45. Còn từ 50-54, tôi được đùm bọc che chở bởi một môi trường thanh tịnh của Tu viện. Từ năm 51 đến 54, tuy sống ở miền Nam, nhưng tôi không hề biết được thực trạng của xã hội như thế nào. Nhờ 2 năm 1954-56, tôi tiếp xúc với xã hội mới khác hẳn với thời trước 1945, lại qua trung gian môi trường quân đội viễn chinh Pháp và quân đội Cộng hoà miền Nam trong ngày đầu còn nhiều tàn tích của quân đội Pháp, tôi thấy rõ cuộc đời bên ngoài – không được mấy trong sạch, cho nên lại càng tăng thêm lòng ao ước được trở về đời sống tu hành bình dị, trong sạch, an vui trong gia đình tu viện. Thật cuộc đời hào hoa loè loẹt chẳng có gì hấp dẫn cả, đôi khi còn làm cho tôi ớn ngấy nếu không dám nói là buồn nôn. Xét về phương diện này, cuộc đời trần thế ở khu 4 năm 45-49 trong sạch, đẹp đẽ hơn, có đạo đức hơn, con người sống có lý tưởng hơn, dù là lý tưởng “độc lập dân tộc” hay lý tưởng “cộng sản chủ nghĩa”. Còn xã hội miền Nam chạy theo cái bả vinh hoa quyền lợi, có phần nặng về vật chất và ít nhiều mang nhiều màu sắc dâm bôn. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, với hình ảnh vị Thượng Thư treo ấn từ quan ở Huế của ông Ngô Đình Diệm, tôi vẫn nuôi hy vọng là có sự thanh lọc cải thiện. Và nhất là nếu Đất Nước thống nhất hài hoà thì tương lai dần dần sẽ cải tiến.
– Thứ hai là băn khoăn về việc “truyền giáo”: từ ngày rửa tội, tôi liền hướng lòng về việc sống kết hiệp với Thiên Chúa trong một sự Mặt đối Mặt tay đôi, chỉ chuyên vào vấn đề tu đức và đời sống thiêng liêng, nội tâm của riêng mình với Chúa, tôi gần như tạm gác thế gian ra ngoài nhãn giới của mình. Bây giờ, với 2 năm tiếp xúc lại với đời trong một môi trường mà 9/10 đồng bào là ngoài Công giáo. Vấn đề Hội Thánh Việt Nam và Dân Tộc Việt Nam trong nhãn giới truyền giáo được đặt ra và không khỏi nói lên nhiều băn khoăn thao thức. (Đó là chưa nói về một sự đố kỵ ngấm ngầm nào đó, khi một nước có 9/10 ngoài Công giáo, mà vị Quốc trưởng lại là người Công giáo. Vai trò của Giám mục, Linh mục, tu sĩ sẽ càng có xu hướng lớn so với tỷ số mật độ giáo dân l/10; dù là ảnh hưởng tốt cũng có vấn đề, chứ chưa nói đến ảnh hưởng xấu.
Nhưng đã có một điều tiêu cực xuất hiện trong 2 năm tòng quân: khi trở lại với đời sống bình thường, một xu hướng thuộc “tâm chứng” của tôi từ thuở nhỏ hình như tái phát tuy không phải gây nên những trở ngại bất khả cho đời sống tu hành và cộng đoàn; nhưng cũng có thể tạo ra những khó khăn cho sự thực hiện cái khát vọng dâng mình của tôi cho Thiên Chúa trong một cộng đoàn tu sĩ, tương tự như Phaolô cũng có cái gai nhọn nhức nhối đến phải ba lần kêu cầu với Chúa! Cái khó khăn ấy, khi trở lại nhà dòng, các Bề trên cũng như các Linh mục giải tội và linh hướng đều cho là không đáng ngại, và khuyên tôi cứ cậy trông mà tiếp tục, vì cũng như trường hợp Phaolô: Chúa không thử thách ai quá sức mình, và Ngài sẽ nâng đỡ những ai phó thác cho Ngài.

14. QUÊ NGƯỜI
Sau hơn hai năm ở quân đội, vào khoảng tháng 7/1956 tôi được giải ngũ và trở về tiếp tục học thần học tại dòng Phanxicô như trước. Sau đó, hai tu sĩ cùng lớp với tôi cũng được giải ngũ trở về. Cuối tháng 9/1956, ba chúng tôi và một tu sĩ nữa được nhà dòng gởi sang Pháp, tiếp tục học thần học tại học viện của tỉnh dòng Phanxicô Paris; lý do là vì so với các bạn học cùng lớp không bị động viên, anh em chúng tôi đã bị trễ mất 2 năm, không có lớp cùng lứa tại dòng Phanxicô ở Việt Nam. Chúng tôi sang Pháp bằng đường thủy. Chiếc tàu đưa chúng tôi là chiếc “Vietnam” của công ty hàng hải Pháp “Messageries maritimes”: một chiếc tàu thủy tối tân. Bốn anh em chúng tôi ở chung một cabine, thuộc loại du lịch trung bình. Cuộc hành trình dài 3 tuần. Có ghé Colombo và Djbouti. Ở Colombo, chúng tôi có ghé thăm dòng nữ Phanxicô Thừa sai Đức Mẹ, có một số nữ tu Việt nam được gởi tu tại đó. Trong cuộc hành trình, điều đập mạnh vào tâm trí tôi nhất, là những buổi hoàng hôn, những đêm trăng, những bình minh: Cảnh trùng dương bát ngát bao la làm nổi bật dấu vết sự Vô biên của Tạo Hóa và sự bé bỏng của con người. Đúng chiều ngày 4/10/56, nhằm lễ Thánh Phanxicô, chúng tôi cập bến tại hải cảng Marseille và trú ngụ tại tu viện Phanxicô ở đó. Tu viện này thuộc tỉnh dòng Phanxicô Lyon.
Hai ngày sau chúng tôi đáp tàu hoả lên Paris, đến ngay Thần học viện ở Orsay, một vùng ngoại ô cách Paris quãng 20 km. Sau một tuần nghỉ ngơi, chúng tôi bắt đầu học thần học năm thứ hai tại đó. Trong khuôn khổ một Thần học viện của một dòng tu, chúng tôi không biết gì về cuộc sống chung quanh cả. Ngay đêm đầu tiên từ Marseille đến Paris, chúng tôi đã được đưa về Orsay, và Paris, kinh đô Ánh sáng của thế giới, chúng tôi cũng đã không được tham quan, du ngoạn. Ngoài việc Tu viện cao rộng hơn mức sống cao hơn ở Việt Nam một ít, bạn đồng tu toàn là người Pháp, ban giáo sư hùng hậu, và cảnh mùa thu đầy lá vàng trong khu vườn rộng bao quanh, cuộc sống của chúng tôi không khác gì với cuộc sống những năm tu học ở Nha Trang. Ở Pháp, ở Việt Nam hay ở đâu đi nữa, đời sống tu vẫn giống nhau trong cơ bản, vì cùng chung một luật dòng, một tinh thần có tính cách siêu việt, vượt khỏi mọi phân chia, cách biệt do Dân tộc và văn hóa mà ra. Từ phương trời nào cũng là anh em một đại gia đình thiêng liêng của vị Thánh lập dòng: Phanxicô nghèo khó, khiêm hạ, vui vẻ ít nhiều tính nghệ sĩ phóng khoáng.
Tuy vậy, dầu sao cũng gọi là được du học tại Pháp! Năm 1945, cái mộng của cậu học sinh lớp triết trường Khải Định là được học tại Đại học Sorbonne! Giờ đây, tuy chỉ là một tu sĩ thần học tại Orsay nhưng tính thẳng theo cánh chim bay, tôi chỉ ở cách Sorbonne chừng trên 10 km, nhưng kể ra cũng là một điều kỳ lạ: mối tình đầu với nàng Triết học gần như là tắt ngúm trong tôi. Tôi không còn đam mê say sưa triết học như trước nữa. Và lòng tôi đã hướng về một địa danh khác: Port Royal! Port Royal này chỉ còn là một di tích của một viện tu hoang phế, nhưng ba thế kỷ trước đó thiên tài khoa học và triết lý văn chương đã lui về đó sống một cuộc đời “thần hiệp”. Dẫu khi bỏ cả một sự nghiệp lẫy lừng về phương diện trí tuệ thế trần Pascal đã rời bỏ thế giới trí tuệ (L’ordre de l’esprit) để đi vào thế giới của Đức ái (L’ordre de la Charité). Phanxicô thành Atxidi, Gioan Thánh giá, Têrêxa thành Lidiơ đã làm mờ nhạt trong tâm hồn tôi - chẳng những Platon, Aristote, Kant, Hégel vv.. mà ngay cả Tôma Aquinô.
Với tất cả sự thẹn thùng và khiêm tốn của một kẻ đã có lúc xuống tận đáy vực sâu tội lỗi, tôi xin ghi lại một kỷ niệm mà trước đây tôi chưa nói tới, đã xảy ra vào năm 1954, trong tháng ngày tôi được biết mình sẽ bị cưỡng bách tòng quân rời xa cuộc đời tu trì để bị ném vào “trại lính”. Trong túc tâm tư đang nặng trĩu vì viễn tượng 2 năm “ắc ê” trong bộ quân phục, súng vác lên vai, chiều hôm ấy, qua cửa sổ của một căn phòng nhỏ hẹp trong Thần học viện Nha Trang nhìn ra cửa biển mà ít nhiều liên tưởng đến mấy câu thơ của Nguyễn Du tả nỗi buồn của Thúy Kiều với câu hỏi: “Hoa trôi man mác biết là về đâu?” (Vì nay mai rời tu viện vào quân trường, tôi cũng sẽ có phần nào như hoa trôi man mác vậy), tôi liền mở cuốn Gioan Thánh giá toàn tập ra đọc; tình cờ (mà có gì là tình cờ trong câu chuyện của một linh hồn, dù là một linh hồn chẳng ra gì!), tôi đọc đế đoạn của Thánh Gioan mô tả sự tỉnh thức của Ngôi Lời trên chiếc giường hợp cẩn là chính linh hồn được đưa vào phòng hoa chúc của “thần hiệp”. Trong một thoáng chốc, tôi như cảm nghiệm được ít nhiều “hương vị” của một cái có thể gọi như là một “dư âm”, “lưu tích”, một “hình bóng” của điều mà thánh Gioan Thánh giá mô tả. Đến nay đã hơn 30 năm, nhưng tôi vẫn thấy như giây phút ấy có một tầm mức vượt qua thời gian, chắc hẳn rằng đó không phải là giây phút tôi đã được Ân sủng Thần hiệp thực sự viếng thăm, đúng hơn tôi chỉ như thể người bạn đứng ngoài phòng cưới, nhưng khi nghe được tiếng Tân Lang (là Ngôi Hai) chào đón Tân Nương - (trong trường hợp này có thể là chính Thánh Gioan Thánh giá trong giây phút ngài được ân phúc ấy, giây phút mà ngài đã mô tả như trên) thì lòng tôi cũng được rộn rã một niềm vui như đã nói đến trong Tin Mừng.
Thế là tâm hồn tôi như luôn hướng về đỉnh cao ấy của núi Cát Minh, nơi mà Thánh Gioan Thánh giá đã được Chúa ban ơn nâng lên. Từ giây phút ấy, cho đến mãi bây giờ, hồn tôi như một con thuyền sóng gió trôi dạt trên biển đời, dù có khi tưởng chừng như sắp bị đánh đắm, thì vẫn luôn luôn hướng về giây phút ấy - như hướng về ngôi sao Bắc Đẩu, hoặc như một người tình nhân hướng về nơi xảy ra cuộc kỳ ngộ với người mình yêu: tôi như luôn nghe văng vẳng một tiếng gọi xa xăm, vừa như trên cao vọng xuống, vừa như nhớ nhung một cái gì xảy ra trong quá khứ, lại vừa như một mời gọi hướng về tương lai. Nói tóm lại như một cái gì phát xuất từ một hạt nhân hữu thể ở ngoài khuôn khổ không gian và thời gian, mang màu sắc, âm thanh, hương vị của Vĩnh cửu và Tuyệt đối. Cho nên, tôi có ý thức rằng có lẽ mình thuộc gia đình thiêng liêng của đỉnh núi Cát Minh (Famille spirituelle), nơi ẩn náu của tiên tri Elia, mà sau này là cái nôi sinh ra dòng Cát Minh với hai Thánh Nam và Nữ mà đại biểu sáng ngời là Thánh Têrêsa thành Avila và Thánh Gioan Thánh giá và gần đây nhất là Thánh Têrêsa Hài Đồng, vị Thánh lúc sinh thời đã nghĩ đến việc (và đã được chỉ định) sang Việt Nam, trong số các nữ tu lập dòng kín Cát Minh tại Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam. Và như tôi đã nói trên đây nếu thuở ấy có dòng nam Cát Minh tại Việt Nam, thì tôi đã xin chuyển sang ngay sao khi hết nhà tập. Ở Pháp, thì việc ấy có thể thực hiện được dễ dàng nếu như tôi muốn. Thế nhưng, tôi vẫn bị ràng buộc bởi tình cảm gắn bó với gia đình Phanxicô Việt Nam, là nơi tôi đã cấm phòng dọn mình chịu bí tích Thánh Tẩy, là người đã đưa tôi từ Vinh vào Nha Trang, đã dành cho tôi bao nhiêu tình nghĩa anh em, cha con trong 5 năm, và cuối cùng lại chọn tôi vào số được gởi sang Pháp du học, tức là hàm ý đặt một kỳ vọng nào đó. Xin ra khỏi dòng Phanxicô, chuyển sang một dòng khác: không khỏi có một cái gì như phụ ân, phụ nghĩa, ngoài ra cũng không phải không có những bất trắc như nhảy từ một con thuyền đã gần đắm sang một con thuyền dầu sao cũng mới lạ! Cho nên tôi cứ chần chừ trong một sự bất ổn tương tự như thời gian 1954 ở Nha Trang trước khi bị động viên nhập ngũ.
Trong tình trạng như vậy, đời sống tâm lý của tôi trở nên lung lay: Tâm chứng mà tôi có đề cập qua trên kia lại xuất hiện, lại thêm sức khỏe của tôi chưa thích ứng với khí hậu xứ lạnh nên không được tốt lắm. Do đó, tôi gần như rơi vào tình trạng của một kẻ bất thường về sức khoẻ thể lý cũng như tâm lý. Đó là nguyên nhân làm cho tôi rơi vào một trạng huống đi đến chỗ phạm phải một việc vừa có tính cách là một “tội lỗi”, vừa có tính cách là một “tai nạn” đối với một người anh em trong cộng đoàn. Sự việc ấy xét cho cùng, chẳng qua chỉ là một hậu quả gần như tất yếu của qui tuật tâm-thể-lý vốn đã bất ổn lại phải chịu những biến cố dồn dập xảy đến cho tôi 10 năm qua: từ cuối 1945 đến đầu 1956. Tuy vậy tôi vẫn là kẻ chịu trách nhiệm về công việc đáng tiếc xảy ra giữa tôi và người anh em ấy. Về sau quan hệ giữa chúng tôi lại được hàn gắn và tốt đẹp như thường. Thế nhưng sự việc ấy là dịp cho các vị có trách nhiệm trong cộng đoàn đi đến kết luận:
Hoặc có thể tôi không có ơn gọi theo đời sống tu trì cộng đoàn;
Hoặc tôi không phù hợp với gia đình thiêng liêng Phanxicô. Dù sao ít nhất tức thời tôi phải tạm ngưng đời sống. Tu hành một thời gian để kiểm chứng xem có thể tìm lại sự quân bình về mọi mặt, đồng thời cũng tìm hiểu thêm liệu có phải một cuộc sống trong một dòng tu chiêm niệm hợp với tâm hồn tôi hơn là dòng Phanxicô chăng?
Thế là sau khi hết thời gian khấn tạm, tôi rời khỏi dòng Phanxicô ra ngoài đời, sống một mình giữa kinh thành Paris ánh sáng phồn hoa đô hội, rực rỡ văn minh, nhưng cũng đầy trăm nghìn cạm bẫy: tình dục, tư tưởng, chính trị, v.v… với hai bàn tay trắng, một sức khoẻ sút kém, một tinh thần bị hoang mang đến cực độ! Và có cả cạm bẫy của chính trị nữa: lúc ấy ở Paris, anh Viện tôi là tổng thư ký hội liên hiệp Việt kiều, tổ chức của các kiều bào có lập trường hướng về miền Bắc; tại toà đại sứ của chính phủ miền Nam (thân phụ tôi vốn đã có thời kỳ làm quan ở Huế cùng lúc với ông Ngô Đình Diệm, và một số bạn quen của tôi lại là tay chân của các ông Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn, lại thêm một số Linh mục muốn tôi trở nên một cán bộ cho chủ nghĩa “nhân vị”! Đó là chưa kể đến các ông Phan Huy Quát, Hà Thúc Ký, Đặng Văn Sung, hết thảy đều là con cái của những người bạn làm quan đồng liêu với thân phụ tôi, không phải là không lưu ý đến tôi, và đều có nhắn gửi xa gần cả!
Nhưng đối với tôi, tất cả đều vô nghĩa, không có tác dụng gì cả! Ngay đến việc ghi danh học triết học tại Paris (cái giấc mộng lớn nhất của tôi năm tôi học triết tại trường Khải Định) nay ở trong tầm tay, tôi cũng không màng. Giữa thành phố Paris với những lâu đài tráng lệ, với bao cơ sở văn hóa lừng danh, tôi chỉ thấy: “Vanitas vanitatis vanitatum!” Quyết định đầu tiên của tôi là trở về Việt Nam ngay tức khắc. Vì sao vậy? Vì sau khi rửa tội, tôi chỉ có một ước nguyện là Dâng mình cho Tình yêu Thiên Chúa trong một dòng tu. Năm 1950, tôi rời Bắc vào Nam là cũng chỉ là theo ơn kêu gọi, vâng lời Bề trên chuyển tu tập viện ở Vinh sang thần học viện ở Nha Trang thuộc dòng Phanxicô Việt Nam trên toàn lãnh thổ. Đối với một tu sĩ, không vấn đề Bắc Nam, nên không phải là việc trốn vùng Cộng sản sang vùng Quốc gia. (Bởi vì, nếu giả sử bấy giờ tập viện ở Nha Trang mà thần học viện ở Vinh, thì sau thời kỳ tập tu ở Nha Trang có thể chúng tôi chuyển từ Nam ra Bắc để tiếp tục quy trình tu học). Cũng tương tự như vậy, năm 1956 tôi được Bề trên gởi sang Pháp du học để trau dồi học vấn trong tinh thần dòng tu. Nay không còn là tu sĩ dòng Phanxicô nữa, tôi tự nhủ: lúc này ở Pháp mà làm gì? Chẳng có gì hấp dẫn tôi cả! Ban triết học Sorbonne, hay Hội Liên Hiệp Việt Kiều, hoặc Tòa đại sứ miền Nam Việt Nam, đối với tôi đều như không có vậy. Ở Paris, tôi chỉ thấy có 2 nơi đáng lưu ý thôi: Nguyện đường nhà mẹ dòng Nữ tử Bác ái Rue du Bac, nơi Đức Mẹ đã hiện ra với thánh nữ Catherine Labouré và Vương cung Thánh đường Thánh Tâm ở đồi Monmartre, nơi Mình Thánh Chúa được thiết triều thờ lạy gần hai thế kỷ không lúc nào ngơi. Và nước Pháp cũng chỉ có 2 nơi làm tôi ít nhiều lưu luyến là Lidiơ và Lộ Đức, còn tất cả, có đi xem là xem cho vui vậy thôi. Lúc tôi bày tỏ ý định về Việt Nam, Bề trên có gợi ý tôi ghé ngang qua Rôma hành hương. Tôi cũng chẳng thấy mấy hấp dẫn: Đền đài, ảnh tượng thì xem trong hình cũng đủ rồi, có khi lại đẹp hơn! Không khéo nhìn sự thực lại có điều thất vọng. Tôi vẫn sợ gặp khách du lịch hơn khách hành hương. Chầu Mình Thánh Chúa tại một túp nhà nguyện lợp tranh, tại một xóm nghèo ở miền thôn dã, núi non ở Việt Nam có lẽ ở gần Nadarét hơn, gần Bêtania hơn. Các viện phung hủi ở Qui Hòa, Di linh; núi Sạn Nha Trang – có lẽ gần Golgôtha hơn. Ở trần gian này, đâu có Mình Thánh Chúa Giêsu là có đỉnh Tabor, là có đỉnh núi Sọ; còn ngoài ra thì ở đâu cũng là hình bóng thế gian này rồi sẽ qua đi mà thôi! Lều cỏ hay đền vàng điện ngọc cũng vậy, sống gần anh em mục đồng hay giữa các vị bộ trưởng, các văn nhân bác học cũng vậy, chỉ cần có người đọc một lời “các con hãy làm việc này mà nhớ đến ta” là dủ! Thậm chí, nếu có sự cố xảy ra, thì chỉ cần ở đâu có một vầng trán được in dấu Thánh tẩy cất lời: “Lạy Cha” là đủ! Mà chúng ta biết, khi có sự cố xảy ra, thì một người ngoài Công giáo cũng có thể đổ nước trên đầu ai đó tỏ ý muốn chịu phép Thánh Tẩy. Ôi kỳ diệu dường bao! Một giọt nước chảy trên đầu một người có lòng muốn chịu phép Thánh Tẩy, thì dù do bàn tay một người ngoài Công giáo cũng biến một người thành Đền Thánh - nơi Thiên Chúa ngự xuống ở cùng chúng ta. Đi đâu hay làm gì, ở đâu, với ai mà chẳng được! Tôi hình dung trở về Việt Nam sẽ xin ở lại dòng Phanxicô với tư cách là cư sĩ (oblat) hoặc ở giúp tại nhà xứ của một Linh mục thuộc địa phận Vinh nào đó; miễn sao được ở dưới cùng một mái nhà với Mình Máu Thánh Chúa là lý tưởng, còn thì làm gì cũng được. Như trên kia đã nói: đối với tôi, đời sống âm thầm cầu nguyện lặng lẽ như Têrêxa Hài Đồng vốn là niềm mơ ước trọn vẹn nhất.
Tôi đã lấy vé máy bay trở lại Việt Nam (do nhà dòng đài thọ) và đi chào Đức Mẹ ở Lộ Đức; thế nhưng Linh mục Pacifique Nguyễn Bình An, bấy giờ là Bề trên phụ trách toàn dòng Phanxicô ở Việt Nam (mà đồng thời cũng là người cha, người anh cả, người linh hướng của tôi) viết thư sang khuyên tôi hãy khoan về Việt Nam, ngài sắp sang Paris, hãy đợi ngài gặp, ngài trao đổi cho kỹ lưỡng đã, rồi hãy quyết định. Anh Viện tôi cũng có khuyên tôi ở lại Pháp. Theo lời khuyên của Linh mục An, tôi ở lại Pháp chờ ngài sang trao đổi. Vài tháng sau ngài sang Pháp, ngài thuyết phục tôi nên ở lại Pháp, ghi danh học tại Sorbonne. Ngài bảo rằng Hội Thánh Việt Nam rất cần những người có trình độ văn hóa cao, tôi là người có khả năng, nhà dòng đã tốn kém nhiều công sức gởi sang Pháp là điều rất khó thì tôi có bổn phận phải biết lợi dụng thời cơ thuận tiện mà trau dồi kiến thức; nếu quả có ơn gọi tu kín thì cũng không thừa, vì kiến thức cũng có thể giúp cho đời sống thiêng liêng. Ngài nói: “Anh không thể sống như thầy trợ sĩ ít học, vì dù sao, anh cũng đã lỡ là một người khá không minh, có học thức; đời sống thiêng liêng của anh cũng phải dựa trên kiến thức, chứ anh không thể sống một cách đơn sơ như anh em ít học thức đâu! Người có đầu óc như anh, con nhà như anh mà làm trợ sĩ thì phải có ơn đặc biệt lắm mới được! Anh phải khiêm tốn theo con đường dung thường, đừng liều mình vào con đường đặc biệt trừ khi có dấu chỉ Chúa gọi rõ ràng! Do đó, cứ ở lại theo học Sorbonne, đồng thời cầu nguyện xin Chúa soi sáng thêm, chứ quyết định về Việt Nam trong lúc này một cách vội vàng, thì tôi sợ rằng đó chỉ là phản ứng tự nhiên, thiếu sự kiên nhẫn, và đừng có ngại khó khăn một mình ở Paris, tôi sẽ giúp đỡ anh”.
Trong lời khuyên ấy, tôi thấy có lý nhất là ở chỗ chờ tìm ơn kêu gọi. Về mặt này, ở Pháp sẽ thuận lợi hơn, vì nhiều dòng tu, hướng tu, có nhiều vị giàu kinh nghiệm về linh đạo thuộc đủ mọi xu hướng (kể cả truyền thống về chính thống giáo như tại Chevretogne ở Bỉ, truyền thống tin lành như ở Taizé). Rồi thêm điểm nữa đối với tôi thì ơn “trợ sĩ” (Convers) là quá cao, tôi phải khiêm nhường theo con đường của người có học vấn! “Đối với anh thì học vấn là khiêm nhường, trợ sĩ là liều mình!”. Cái nhìn của Linh mục An cho tôi thấy có cái gì quả là khác thường, có thể nói là siêu nhiên! Vì vậy tôi vâng lời Ngài mà ở lại Pháp, chứ trong thâm tâm tôi chẳng có hăng hái gì là một sinh viên Đại học Sorbonne (cái mộng của tôi năm 1954). Điều làm tôi phấn khởi là triển vọng sẽ tìm thấy một hướng tu với nhiều điều kiện thuận lợi hơn đối với hoàn cảnh văn hóa ở Việt Nam, kể cả cái triển vọng tìm hiểu truyền thống các Thánh Phụ ở Đông Phương mà tôi nghĩ có thể phù hợp với tâm hồn tôi và tâm hồn Á Đông nói chung. Vả chăng từ hồi vào nhà tập cho đến lúc bây giờ, tôi vẫn xem dòng Phanxicô như gia đình của mình, đã nuôi nấng dạy dỗ mình trong thời coi như là thơ ấu về mặt đời sống tín hữu; việc tôi vào Nam và sang Pháp, cũng đều do công của nhà dòng đài thọ, vì thế ý kiến của Linh mục An đối với tôi, dù chỉ là lời khuyên, có tác dụng như một ý muốn của cha mẹ mà tôi nên tuân theo.

15. ĐI TÌM MỘT NẾP TU
Thế là từ năm 1957 đến 1960 – là năm tôi tốt nghiệp “Cử nhân Triết học”, tôi muốn sống cuộc đời của một du học sinh tại Pháp. Về mặt tài chính phí tổn ăn học một phần do thân hữu của Lm. Nguyễn Bình An, một phần do chính phủ Pháp trợ cấp cho sinh viên nghèo, một phần do tôi làm việc, chủ yếu là dạy phụ đạo cho một số học sinh trung học cấp II. Tôi cũng dạy môn La tinh và Anh văn cho một em học sinh lớp đệ ngũ (Cinquième). Cũng do một phần là trú ngụ tại ký túc xá – do một linh mục hội Thừa sai Paris chủ trương, tiền trọ cũng tương đối nhẹ, ăn uống thì tại các quán ăn sinh viên, giá rất rẻ. Đời sống kể ra khá vất vả, nhưng nói chung không thiếu thốn. Việc học cho đến hết cấp cử nhân tương đối nhẹ nhàng đối với tôi: vốn có một năng khiếu tạm đủ về môn Triết, lại được học hết chương trình 2 năm triết ở học viện dòng Phanxicô, nên tôi không phải cố gắng nhiều lắm cũng có thể thi đậu các chứng chỉ triết học ở cấp cử nhân. Tôi đã không cố gắng nhiều trong việc học. Bây giờ sự việc đã qua, xét mình lại, tôi có ý nghĩ có lẽ tôi đã không làm tròn bổn phận như Lm. An chỉ dẫn, mà chỉ vâng lời nửa vời. Lúc bấy giờ và suốt 9 năm ở Pháp, nỗ lực chính của tôi là tìm kiếm một dòng tu, chứ việc học triết, việc thâu nhập cái gì thuộc “văn minh” Tây phương tôi không lấy gì làm thiết tha cho lắm.
Hình như cuối cùng tôi chỉ thâu nhận những gì là Kitô-tính trong cái tổng hợp được gọi là văn minh Âu Tây; còn những cái khác như duy lý của Hy lạp, duy luật của Rôma, duy khoa học kỹ thuật của văn hoá Phục Hưng, tức là cái văn hoá ngoài Kitô giáo của Tây phương, tôi đều dị ứng và không chấp nhận. Trong tôi dường như vẫn còn cái “hạt nhân Đồ Nho” không gì phá vỡ được, chống lại mọi xâm nhập của nền văn hoá Tây phương ngoài Kitô giáo, trước hết là triết học. Khi theo dõi các giáo trình thuộc chứng chỉ “Luận lý và Siêu hình”, nhiều túc tôi muốn bỏ lớp học mà ra, vì nó quá khô khan trừu tượng, quá tư biện, chẻ sợi tóc làm mười. Ví dụ rõ ràng nhất là hệ thống của Spinoza, của Hégel, tôi có cảm tưởng họ dựng đứng lên một hệ thống toàn là khái niệm trừu tượng, chỉ có tính cách luận lý chứ gần như không ăn nhằm gì với hiện thực cụ thể cả. Đôi khi tôi có cảm tưởng rằng đó chỉ là những bộ xương khô không còn huyết nhục nữa. Chúng chới với bay bổng trong một thế giới phạm trù kiến thức đồ sộ, khá khúc chiết, chí lý, chặt chẽ; nhưng hình như không có nến trên hiện thực. Mọi hệ thống đều như cắt một miếng từ hiện thực, rồi hết Duy này đến Duy nọ: duy tâm, duy tưởng, duy vật, duy linh, duy lý, duy Nghiệm… Cái tệ của triết học Tây phương là DUY, so với những trang của Khổng, của Lão, của Ấn Độ, thì khác nào như những bộ xương khô bên cạnh những vật sống động hiện thực! triết học Tây phương có thể là sắc bén, đôi khi sâu sắc, Nhưng ít thâm thúy, tất cả như bị phạm trù hoá, đối thể hoá, ngôn từ hoá, hệ thống hoá, cơ giới hoá một cách khủng khiếp. Thỉnh thoảng có Pascal, Kierkegaard, Bergson, Max Scheller, Gabriel Marcel, nhưng dường như các triết gia này bị xem như dòng phụ lưu ngoài lề. Vì vậy, tôi thấy học thì học vậy cho vui, chứ chẳng bổ ích gì thực sự cho trí thức, cho sự sống con người cụ thể có xác thể, có linh hồn (chứ không phải chỉ có tinh thần theo nghĩa trừu tượng). Trừ Pascal ra, tôi không hề tôn nhà triết học Tây phương nào làm “Thầy” được cả! Tôi quan niệm triết học là “Tầm sư học đạo” chứ không phải nghe tư biện vòng vo cho nên, đối với một kẻ đã biết thày Khổng, thày Lão, tôn sư Thích Ca và cuối cùng là Thày Chí Thánh Giêsu, thì ngồi nghe bình giảng về Platon, Aristote, Spinoza, Kant, Hégel… chỉ là lãng phí thời giờ, chẳng ích gì, ngoài việc lấy bằng làm nghề giáo sư triết học: mà thôi!
Vậy ở Sorbonne, tôi chỉ đến dự mỗi giáo sư vài giờ giáo trình gọi là cho biết cung cách giảng dậy vậy thôi. Điều tôi học được nơi các vị ấy không phải là nội dung giáo trình của họ, mà là cái cung cách, cái thái độ tri thức của họ: khiêm tốn, liêm khiết trí tuệ, trung thực thận trọng trong phán đoán, tôn trọng quan niệm của người khác, không quá khích, không cố chấp, không a-dua, không đua đòi phong trào; Nói tóm lại là chân thành khiêm tốn tìm “sự thật” chứ không vỗ ngực cho mình đã nắm “chân lý”, xem người khác là sai lầm, là ngụy tín. Họ trình bày những gì mình tìm mình kiếm ra một cách đơn sơ từ tốn, chứ không tuyến truyền chiêng trống một cách ầm ỹ. Có nhiều vị trình bày một cách e dè, hơi có vẻ thẹn thùng như sợ mình sai, mong mình sai, vạn bất đắc dĩ mới ngập ngừng nói rằng: “e có lẽ” tôi đúng, nhưng mà tôi mong rằng anh đúng để tôi được học thêm. Ngay cả những vị hướng dẫn sinh viên làm luận án cũng có thái độ như vậy trước những ý kiến sinh viên đưa ra. Đó là bài học quý giá nhất mà các giáo sư Sorbonne đã dạy cho tôi. Họ giúp tôi biết thế nào là học, là tri thức chứ không phải là vẹt, là học phiệt, thế nào là trao đổi, là tìm kiếm, là trình bày, chứ không phải là loè đời, phô trương, tuyên truyền, dụ dỗ; cùng nhau góp sức, nâng đỡ nhau, học hỏi nhau, cùng hướng về Chân lý. Bài học ấy có thể tóm tắt như sau: CHÂN LÝ không phải là một giá trị lý tưởng mà mỗi người giành nhau chiếm hữu như một đồ vật, chiếm được thì độc quyền ban bố phân phát theo kiểu phân phối hàng hoá hoặc độc quyền sản xuất! Bài học ấy không có bằng cấp nào làm chứng cả, nó chỉ toát ra từ nơi tác phong giảng dậy, cái mà trên đây tôi gọi là “cung cách”, là “con người”, nó không phải là vốn liếng như hành lý cồng kềnh với những nhãn hiệu, bảng vẽ lòe loẹt, mà như viên kim cương dấu kín trong người! Gần 30 năm xa cách, dáng dấp các vị thày ấy như vẫn còn in rõ trong tâm trí tôi. Và tôi tự hỏi: Thái độ khiêm nhường ấy phải chăng bắt nguồn từ sự khiêm nhường của vị đã tự xưng mình là Chân Lý, nhưng lại cúi xuống rửa chân cho môn đệ trong một bữa tiệc thân tình mà điều san sẻ lại là chính “bản thân mình” sắp hiến tế để nuôi sống tâm hồn môn đệ mình. Ngoài ra, thái độ hướng về Chân Lý như đáp lại một lời mời gọi đòi hỏi sự quên mình hiến thân cho Chân Lý, chứ không phải là tranh đua chiếm hữu độc quyền khai thác và phân phối, cũng bắt nguồn từ cái thái độ đối với Chân Lý Tuyệt Đối đã thể hiện nơi một Con Người vốn là Chân Lý, là Đường, là Sự Sáng: GIÊSU KITÔ. Nói tóm lại, về nội dung triết lý, về cung cách thái độ trí thức chân chính, rút cuộc lại, cũng chỉ những gì thấm nhuần tinh thần Kitô giáo, thì tôi mới hấp thụ: Pascal, Kierkegaard, Gabriel Marcel, Louis Lavelle, Henri Bergson cũng đều là những con người tắm mình trong tinh thần Kitô giáo một cách sâu đậm.
Vì vậy, sau khi đỗ Cử nhân, mà tôi xem như là một bảo đảm cho cuộc sống. Phòng lúc cần đến mảnh bằng với mức tối thiểu cần thiết, tôi tạm cho là đủ, cho nên tôi không nỗ lực bao nhiêu trong việc làm luận án Tiến sĩ. Thực ra, tôi thấy chẳng học thêm được gì căn bản nữa, chẳng qua là kiếm mảnh bằng cao hơn (song tôi chỉ cần cái mức tối thiểu! ), chứ công trình nghiên cứu của mình cũng chẳng đóng góp gì cho cái kho tàng kiến thức của nền Đại học ở Pháp. Tôi ghi danh Tiến sĩ là cho lấy có, chứ từ lúc xong Cử nhân hầu như tôi đã dành toàn lực cho việc tìm một con đường “tu hành”. Tình cờ tôi gặp một Linh mục dòng Biển Đức thuộc đan viện La Source ở Paris. Ngài khẳng định là tôi có dấu chỉ sống đời chiêm niệm, và giới thiệu tôi cho Linh mục Victor de la Vierge, Bề trên nhà tập tỉnh dòng Cát Minh, nhưng cần để ngài theo dõi một thời gian cho bảo đảm, nhất là về mặt sức khoẻ. Sau hai năm hướng dẫn, ngài quyết định nhận tôi vào nhà tập, nhưng còn phải có sự đồng ý của vị bác sĩ nhà dòng. Sau khi khám sức khoẻ cho tôi, vị bác sĩ này cho ý kiến là ông sợ sức khoẻ của tôi không kham nổi một cuộc sống khá ràng buộc về luật lệ của một dòng tu. Có lẽ một đời sống tuy rằng chiêm niệm, nhưng trong một khung cảnh sống thong dong hơn, “tự do” hơn, thoáng hơn, thì hợp với tư chất tâm hồn và cơ thể tôi. Thế là việc nhập dòng Cát Minh của tôi đành xếp lại. Đó là vào quãng năm 1961. Từ khi đọc quyển “Kể chuyện một tâm hồn” của Thánh nữ Têrêxa thành Lisieux, từ năm 1950 đến năm ’61, tôi tưởng là thuyền sắp cập bến, ai ngờ! Không thể nói hết được sự khổ tâm của tôi lúc bấy giờ. Nhưng rồi tôi lại vươn dậy tìm một con đường tu hành khác. Bà cụ cho tôi thuê nhà ở trọ vẫn thường hay lui tới nguyện đường “Corpus Christi” thuộc nhà mẹ dòng Thánh Thể. Bà giới thiệu tôi với một Linh mục thuộc tu viện ấy. Sau một năm theo dõi, vị này đi đến kết luận là tôi có hy vọng vào nhà tập dòng Thánh Thể. Thế nhưng, khi tôi gặp lại cha Bề trên tỉnh dòng Thánh Thể Paris, Cha lại sợ tôi không đủ sức khoẻ để sống đời tu trong một cộng đoàn có kỷ luật chặt chẽ, nên không đồng ý nhận tôi vào dòng.
Thấy mọi con đường đưa đến đời tu trì đều tắc nghẽn, tôi lại có ý định trở về Việt Nam, mặc dầu luận án Tiến sĩ chưa hoàn thành. Bởi vì như trên đã trình bày, ở lại Pháp, mục đích chính của tôi là tìm hướng cho đời tu trì, chứ không phải là “Tây du học”. Nay đường tu hầu như bị chặn lối, tôi thấy không còn lý do nào ở lại Pháp nữa. Có lúc tôi đã nghĩ về lại Nghệ Tĩnh. Tôi đã rời Nghệ Tĩnh năm 1950 là vì lý do tu hành, nay đường tu bị nghẹn lối, tôi nên trở về chốn cũ, nơi mình đã sống trước khi đi tu, tức là trở về Nghệ Tĩnh. Bấy giờ, một số Linh mục thuộc các giáo phận miền Bắc, được gởi đi du học ngoại quốc trước năm 1954 cũng có ý nguyện trở về địa phận gốc của mình ở Bắc. Tôi có đề cập với anh Viện tôi về vấn đề ấy, nhưng anh cho tôi hiểu rằng việc ấy khó mà thực hiện được. Đang khi lung tung như vậy, thì tôi gặp một Linh mục dòng Biển Đức thuộc đan viện Maredsous (Bỉ) cũng đang tìm kiếm một hình thức “đan tu” nhẹ nhàng, nhỏ bé và âm thầm hơn hình thức các đan viện cổ truyền hơi quá đồ sộ, trang trọng, không hợp với hoàn cảnh xã hội ngày nay. Ngài giới thiệu tôi với một Linh mục thuộc đan viện cổ truyền Le Bouveret (Thụy sĩ) lúc ấy được Đan viện phụ cho phép lập cộng đoàn nhỏ 3 tu sĩ, ở một làng nhỏ miền Bắc nước Pháp. Sau khi trao đổi với vị Linh mục này, tôi được chấp nhận dự tu ở cộng đoàn nhỏ ấy.
Có một điều đáng lưu ý là từ ngày tôi ra khỏi dòng Phanxicô, bao giờ các vị thuộc dòng Biển Đức cũng xác nhận là tôi có triển vọng sống đời chiêm niệm và sẵn sàng nhận tôi vào dòng của các vị. Nhưng về phía tôi lại có sự ngần ngại, thấy rằng hình thức tu theo truyền thống cổ điển Biển Đức, với những đan viện có cả hàng trăm tu sĩ với nghi thức phụng vụ quá trang trọng (pompe liturgique), với những cuốn kinh nhật khoá rộng lớn hàng mét vuông, bìa da gáy vàng chữ đỏ, với các bàn quỳ bàn tọa điêu khắc công phu, như cả một tảng đá đè nặng lên hồn. Nay gặp được một hình thức mới, gọn nhẹ, thanh đạm, nhỏ bé với dăm ba tu sĩ, nguyện đường đơn sơ thu gọn bên dòng suối, dưới lùm cây, ẩn chìm hẳn ở giữa cảnh trí thiên nhiên, có phần gần gũi với các thiền viện, các am tu ở Á Đông, tôi liền xin gia nhập và được đón nhận với tất cả sự thương yêu và tin tưởng.
Sáu tháng dự tu ở đan viện nhỏ bé ấy, tôi rất thoải mái thanh thản, có thể nói khác nào như cá gặp nước. Đó là vào quãng từ tháng 4 đến tháng 10/1963. Thế rồi, cuối tháng 10/1963, tôi được đưa sang đan viện chính ở le Bouveret, Thụy sĩ, chuẩn bị vào nhà tập. Ở Đan viện này, trên bờ hồ Leman, cảnh trí thật tuyệt vời: đến giờ kinh khuya, nhìn ánh trăng soi trên mặt hồ, với đỉnh núi tuyết xa xa, thật chẳng khác non Bồng nước Nhược, cõi hồng trần như khuất hẳn, mất dạng sau dãy núi Alpes trùng điệp ở chân trời. Thế nhưng, rồi cái khuôn khổ của dòng Biển Đức lại đè nặng lên tâm hồn tôi. Những cuốn sách kinh cổ kính trong giờ nhật khoá và những nghi thức trang trọng lại như khiến tôi ngộp thở. Thêm vào đó, cái lạnh của Thụy sĩ khi phải đọc kinh vào lúc 2 giờ khuya, và chế độ ăn uống lại làm cho sức khoẻ tôi đâm ra trục trặc. Bữa cơm trưa thì ăn rất nhiều (trong khi chứng dạ dầy của tôi thì lại chỉ chấp nhận ít thôi), còn sáng và tối thì lại như không có gì. Bữa trưa tôi chỉ ăn được độ 1/4 khẩu phần, rồi từ chiều cho đến trưa hôm sau lại quá đói. Ngủ thì sau giờ kinh khuya về tôi không ngủ lại được, cứ trằn trọc cho đến sáng. Thế là tôi lại phải cáo lui, rời tu viện Le Bouveret trở về Pháp.
Lý do cuối cùng khiến tôi rời đan viện Le Bouveret như sau: vị Linh mục thuộc Đan viện Maredsous khi giới thiệu tôi với vị Lm. Đan viện Le Bouveret đã có ý sau này chúng tôi sẽ xin sang Việt Nam thiết lập hình thức đan tu gọn nhẹ, nhỏ nhoi, thanh bần, đạm bạc. Thế nhưng cả hai Đan viện Maredsous cũng như Le Bouveret lại không thuộc về Liên-đan-viện Pierre-qui-vire là tổ chức được Tổng dòng Biển Đức giao cho phụ trách các dòng tu ở Việt Nam, khiến cho cái triển vọng trở về Việt Nam thiết lập một dạng thức mới do các tu sĩ thuộc Đan viện Maredsous hay đan viện Le Bouverel e có lẽ khó bề mà thực hiện. Giới hạn này cũng do tính cách quá quy tuật của tổ chức dòng tu. Tôi thấy rằng dù dưới dạng thức cồng kềnh hay gọn nhẹ, thì mạng lưới quy luật vẫn là một ràng buộc, nếu không muốn nói là trói buộc. Có lẽ tôi quá tài tử chăng? Cái hình ảnh “Tam hợp đạo cô”, mây ngàn hạc nội đã quá ăn sâu vào tâm hồn của tôi rồi chăng? Mạng lưới giáo luật với từng điều từng khoản (ví dụ năm nhà tập thiếu một ngày cũng làm lại cả năm), những bức tường kiên cố như pháo đài, như đồn lũy, hình như không hợp với tôi. Một cánh chim bay, một tên hành khất lang thang bơ vơ kiếp lữ hành, không bị gậy, không giày dép, hoặc là hình ảnh anh chàng du ca thành Át-xi-di trước khi vâng lời Hồng y Hugolin viết luật dòng, có lẽ gần gũi với tôi hơn chăng? (Sau này khi trở về Việt Nam năm 1965, Lm. P. Nguyễn Bình An nói với tôi: “E có lẽ cậu có ơn kêu gọi như Benoit Joseph Labre - vị thánh hành khất”? Tôi nhớ lại lúc bé, đôi khi mẹ tôi vừa giận vừa mắng yêu: “Lơ đãng như con rồi thì chỉ có bị gậy ăn mày!!!)
Phải chăng lời mắng yêu của bà mẹ và lời nhận xét của cha linh hồn có tầm mức một trực giác tiên tri? Từ năm l975 - l986, tôi đổi nơi cư trú trên 10 lần, mà đến nay cũng không nhà, không cửa, không tài sản, không vị trí gì, cả trong Giáo hội cũng như trong gia đình và ngoài xã hội, cũng chẳng biết mai đây tôi từ trần, ai sẽ là kẻ lo việc vùi cái thân xác này vào lòng Đất mẹ để linh hồn về với Chúa Cha trên trời?
Thế là tôi lại tủi thủi lang thang trên các vệ đường Paris, trên các chuyến tàu điện, xe hoả, xe ca, vừa tiếp tục theo giáo trình của các vị giáo sư hướng dẫn luận án ở Paris, vừa dạy học ở các trường trung học Công giáo vùng ngoại ô Paris. Trong những chuyến xe, chuyến tàu khuya khoắt (có đôi khi cả một chuyến xe ca khuya hoặc cả một toa tàu hầm khuya, chỉ có một mình tôi ngồi nhìn tuyết rơi qua cửa kính), thỉnh thoảng có vài công nhân đi làm ca khuya ngủ gà ngủ gật. Tôi cũng gà gật. Gần 40 tuổi đầu, vẫn còn mơ đến một dạng thức tu trì nào đó! (Tôi cũng quên ghi lại rằng từ năm 1960, sau khi đỗ cử nhân triết thì mọi nguồn trợ cấp tài chính bị ngưng. Tôi sinh sống bằng nghề dạy học lớp triết ban trung học lại các trường trung học tư thục Công giáo vùng ngoại ô Paris, kết quả chức nghiệp tương đối tốt). Tuy ở Âu Châu đến 9 năm, tôi vẫn không “đi vào” được với xã hội gọi là “văn minh” mấy! Như trên đã nói, ngay cả đến môn triết học mà hình như tôi vẫn còn dị ứng. Paris quả là đẹp, Nhưng tôi chỉ quen một vài quán cà phê nho nhỏ vô danh ở một góc phố con lác đác sót lại – có lẽ từ thời Trung Cổ, dưới vài gốc cây phong mùa thu lá rụng, tuyết rơi, vài nhà hàng xén bán đủ thứ như hàng xén của ta, láng giềng quen thuộc, đến uống rượu cà phê khề khà như xóm nhỏ làng quê ở ta (sau này khi trở về Việt Nam tôi chỉ nhớ nhung mấy quán cà phê “cóc” ấy thôi! ), trừ các quán ấy là vườn Luxembourg mùa thu lá rụng (có lẽ tôi chỉ nhìn qua hình ảnh cậu bé ngày khai trường của Anatole France mà tôi đã dịch và học thuộc lòng từ thuở 13, lúc còn ngồi ở ghế lớp 6 trung học), tôi chỉ đi xem điện Tuilerie, Le Louvre, Panthéon… như tò mò đại khái chứ chẳng thấy chẳng cảm gì cả! Các sinh hoạt văn hoá như ca nhạc kịch cũng vậy, tôi chỉ đi xem gọi là cho biết vậy thôi, chứ tôi cũng chỉ thích và nhớ tiếng đàn bầu đàn nguyệt dưới ánh trăng bên bờ sông Hương. Những bức tranh ở Le Louvre vẫn không làm tôi quên những bức tranh thủy mạc, chỉ trừ vài bức của Rembrandt và của Ronault! Versaille, các lâu đài sông Loire chỉ làm cho tôi càng thêm nhớ nhung đến những chùa cũ rêu phong khiêm tốn âm thầm nấp dưới cỏ cây. Phương tiện giao thông hối hả chen chúc làm cho tôi nhớ những chuyến đò ngang đò dọc thời thơ ấu về thăm quê ngoại. Ở Paris cũng có quán Việt Nam, nhưng ăn tiết canh hay bánh xèo thì phải là trong quán gió bờ đê mới thật là ngon, canh rau muống phải ngồi chõng tre dưới mái tranh mới là tuyệt diệu, đôi khi tôi thèm đến quay quắt được ăn một củ khoai lang bở với dưa cải hoặc với quả cà thật mặn rồi uống một ngụm chè xanh rót ra từ cái gáo dừa khô đổ vào cái bát “đàn” thô kệch, dưới gốc cây đa một buổi trưa hè gay gắt, và hoa! Mùi thơm hoa lý, hoa ngâu, hoa bưởi, hoa mộc, hoa sói và nhất là hoa ngâu.
Giữa tiếng xe cộ đinh tai nhức óc, tôi thèm được nghe tiếng chuông chùa lúc thu không hay lúc rạng đông: “Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền!”. Và những lúc quá bận không có dịp đi trên các con đường không tráng nhựa ở ngoại ô Paris mà phải suốt ngày suốt tuần suốt tháng mà chỉ toàn là đường tráng nhựa, tôi nhớ da diết những ngày thuở bé đi học, đội một chiếc nón lá, quần xắn tới tận đầu gối, bám chặt trên những con đường lầy lội giữa hai làng Thịnh Xá và Gôi Mỹ đưa tôi đến trường tiểu học, miệng bõm bẽm nhai trầu cho ấm. Ôi mùi thơm trầu từ thuở bé cảm được khi mẹ, bà ngoại, các dì, các cô hôn âu yếm: chẳng có nước hoa nào bằng được! Và vành tóc đen trên gáy các bà mẹ quấn khăn nhung, cũng như khăn vải nâu có đuôi gà, chả có mái tóc “frisé” nào đẹp bằng cả! Chẳng có son phấn nào địch nổi làn môi cắn chỉ của các cô gái nhà quê hết! Các mốt quần áo trưng bày ở Champs d’Elisée vẫn thua áo tứ thân và khăn mỏ quạ! Các kiểu mũ đính lông cò, lông hạc vẫn không bằng nón thượng quai thao! Thật, tâm tình tôi quả là quá lạc hậu, quá quê mùa! Mặc dù theo học chương trình Pháp từ thuở 13 vẫn như một em bé chưa bao giờ ra khỏi lũy tre xanh! Mặc dù rửa tội đã trên hai năm mà vẫn nhớ tiếng chuông chùa, vẫn thương cửa tam quan rêu phủ, vẫn thích các bức hoành phi câu đối sơn son thiếp vàng cẩn xà cừ với những chữ Hán rồng bay phượng múa!
Cho nên tôi chẳng biết mấy về cái xã hội Âu tây quay cuồng theo sản xuất và tiêu thụ, các sản phẩm cơ giới hoá biến con người thành guồng máy. May sao ở Pháp còn có Lidiơ và Lộ Đức, ở Paris còn có Nguyện Đường Rue du Bac và Thánh Đường Thánh Tâm Monmartre, làm nơi hồn tôi trú ẩn, chứ không tôi chẳng khác nào như cá mắc cạn, sống thoải mái sao được. Ngay cả những buổi họp sinh viên hay thợ thuyền Công giáo, tôi cũng thấy lộn xộn lao xao, bát nháo làm sao ấy, tôi cũng chỉ đi dự vài lần cho biết, rồi thôi! Hình như tôi vẫn mơ mộng một dạng học thức “Tâm truyền”, một bác phó mộc vừa bào, vừa thỉnh thoảng hút thuốc lào, khề khà câu chuyện với em bé hốt dăm bào, tung toé trong một túp lều trước ngõ đường làng. Tôi thật là lạc hậu phản tiến bộ quá đỗi!!! Chỉ có hình ảnh tu sĩ dòng Xitô im lặng làm việc mới giúp tôi bớt dị ứng những cái gì là cơ giới mà tôi có cảm tưởng như đang uy hiếp con người, chỉ có áo dòng tu và sự im lặng của các tu sĩ Xitô mới trấn áp nổi thứ “ma quỉ” hại người là máy móc vô hồn ấy.
Phải chăng vì từ thuở bé tôi đã bị tiêm nhiễm bởi giọng ngâm thơ của một nhà Nho mạt vận trong ánh hoàng hôn ở Thành Nội Huế ngâm câu:
Mưa Âu gió Mỹ tràn sông núi,
Cửa Khổng sân Trình biết có ai?
Rồi tuổi thanh xuân lại ảnh hưởng của Pascal, nhà khoa học thiên tài đã từ bỏ sinh hoạt khoa học đi vào một đời sống “thần nhiệm”: phải chăng vì thế mà tôi đồng quan điểm với nhân vật Trajan trong cuốn tiểu thuyết Giờ thứ 25 của Georghiu? Đối với tôi, tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa hẳn là tiến bộ về văn minh nhân bản (đó là chưa nói rằng về một vài phương diện nào đó thì có thể là cả một sự thoái hóa nhất là về vấn đề tương quan liên-ngã-vị, và đời sống tinh thần - nội tâm - bản ngã - nhân vị). Sự gặp gỡ, tương quan dần dần nhường chỗ cho một sự sắp hàng, dồn đống, xếp loại, làm cho mọi người biến thành một đồ vật giữa một “tổng số” đồ vật hơn là một cộng đoàn thần hữu nghĩa thiết: con người trở nên hoàn toàn bị đồng hóa với chức năng, hiệu suất trở nên giá trị độc nhất tuyệt đối! Từ những điều trên đây, nay suy lại, tôi thiết nghĩ rằng hình như tôi chỉ sống triển nở hoặc là trong một nền văn hóa Việt Nam cổ truyền như trước khi bị lây nhiễm văn minh duy vật Âu Tây duy lý, duy khoa học kỹ thuật, duy hiệu năng cơ giới sản xuất và tiêu thụ; hoặc là trong một môi trường thấm nhuần tinh thần liên-ngã-vị nhân bản Kitô giáo. Ở trong tôi như thừa kế cả một u hoài của một nền văn hóa cổ truyền đã bị quét đi trước làn sóng gọi là văn minh (thực ra chỉ là văn minh vật chất cơ giới) của Âu Tây. Niềm u hoài ấy đã một thời gian rất ngắn tưởng tìm được an ủi trong hương vị “thiền” của Phật giáo, nhưng cuối cùng chỉ thực sự được giải tỏa và tìm lại được ý nghĩa của cuộc sống ở trong “đức tin” Kitô giáo mà thôi. Còn đối với những gì phát xuất từ phong trào Phục hưng (Renaissance) của Âu Tây, tôi như có một sự dị ứng truyền kiếp từ bản năng. Và hình như, đó là lý do khiến tôi không mấy ham thích đi Rôma, mặc dù cũng có ý muốn viếng mộ hai Thánh tông đồ và triều bái Đức Giáo Hoàng.
Cơ sở của Tòa thánh Vaticăng phần lớn đều xây dựng trên nền tảng nghệ thuật văn hóa Phục hưng, quá đậm nét Hy lạp và Rôma. Thánh đô Rôma che khuất đi phần nào cái cốt lõi Kitô giáo. Vết tích của các triều đại Rôma và Byzance còn quá nhiều. Nhiều khi tôi tự nhủ: nếu không qua trung gian các dòng tu, chưa chắc tôi đã dễ dàng nép mình vào khuôn khổ của Hội Thánh Công giáo với cả một cơ chế nặng nề, một thần học hệ thống, một giáo luật mạng lưới! Tôi gặp Chúa Giêsu là qua Pascal, Phanxicô nghèo khó, Têrêxa Hài Đồng, Gioan Thánh giá, An tôn ẩn tu và sau này là Benoit Joseph Labre. Rồi cũng nhờ hai em bé chăn cừu mà tuổi thơ không đến 15 là Giaxinta và Phanxicô ở Fatima, Bênadét ở Lộ Đức cũng chỉ là một em bé chăn cừu. Catherine Labouré cũng chỉ là một thôn nữ cho gà vịt bồ câu ăn, lớn lên chỉ biết làm chị nuôi phục vụ người già cả tật nguyền. Bài “Avê Maria” do một tác giả mắc bệnh cùi, và bà phước mà tôi kể chuyện trên kia cũng là một bóng dáng dịu hiền xoa dịu những người mắc bệnh nan y. Hầu như chỉ nhờ toàn là cả một lũ người thừa, vô hiệu năng, ít sản xuất, ít tiêu thụ, ít tư duy trừu tượng chi ly sắc bén nhưng đầy tình người, dung dị, hòa đồng, thanh thản, nhẹ nhàng, bắc lên cân so với cái gọi là văn minh Âu Tây hiện đại thì chẳng có gờ-ram nào cả! Ngay cả Pascal thiên tài, cũng chỉ là anh chàng đào ngũ khỏi đội quân khoa học, cuối cùng chết vì tật bệnh mệnh yểu dưới bóng một viện tu: Port Royal. Toàn là vô dụng! (Không biết lợi dụng ai cả, mà cũng không có gì để cho ai lợi dụng cả!) lãng phí như bình đựng hương liệu mà cô Maria đã đập vỡ ra lấy dầu xức chân cho một tên tử tội mấy ngày sau sẽ chết trần trụi trên khổ giá!
“Đây tôi cũng chỉ trình bày về con đường có tính cách chủ quan của riêng bản thân tôi, đã dẫn tôi tới gặp Chúa Giêsu; chứ tôi vẫn ý thức về sự cần thiết khách quan của những cơ chế, luật lệ, hệ thống rất cần cho một cộng đoàn bao gồm cả mọi dân tộc, mọi văn hóa, mọi thành phần xã hội qua mọi thời đại, với một sứ mạng vô cùng nặng nền và phức tạp như là Hội Thánh Công giáo”.

16. ÔNG THẦY TÀI TỬ
Sau khi đã ở lại Pháp tìm kiếm mọi dạng thức tu trì mà không đi đến kết quả nào, tôi thấy rằng đã đến lúc trở về Việt Nam. Về miền Bắc, như tôi đã trình bày, là điều không thể thực hiện được, thì chỉ còn về miền Nam thôi. Trong tâm tư tôi, đó không phải là một sự lựa chọn chế độ, vì như trên đã nói, đối với Hội Thánh Việt Nam, trong lòng dân lộc Việt Nam, trên đất nước Việt Nam này, thì vấn đề Nam-Bắc, hai chế độ là vấn đề trần thế. Ở đâu cũng là con người với những mâu thuẫn, có khía cạnh cao thượng, có khía cạnh tầm thường, thậm chí có khía cạnh tồi tệ, cần ơn tha thứ của Thiên Chúa, là Hội Thánh là thừa tác viên, phải có mặt ở mọi nơi mà phục vụ. Về Nam năm 1965 chỉ là do có điều kiện thực tế thực hiện được, chứ nếu được lựa chọn thì tôi đã về Bắc với giáo dân Vinh là nơi tôi đã rời bỏ để theo ơn gọi đi tu, nay hoàn tục thì về chỗ xuất phát, về nơi nguyên quán, về nơi có gia đình mà năm 1950 tôi rời bỏ cũng chỉ vì lý do tu hành. Vì đối với tôi, việc chính của đời tôi là thờ phượng Thiên Chúa và phục vụ trong lòng Hội Thánh, mà Hội Thánh thì phải có mặt bất cứ đâu! Trên thực tế, tôi đã về Nam ấy là vì do có điều kiện thực hiện được, còn Vinh là nơi nguyên quán xuất phát, chứ yếu tố chế độ thì không ảnh hưởng chút nào. Ở đâu tôi cũng chỉ phục vụ trong lòng Hội Thánh mà thôi. Tôi là kẻ chèo thuyền, thuyền là Hội Thánh, còn chế độ chỉ là con sông cho thuyền chèo đi qua mà thôi: nước sâu thì chèo, nước cạn thì chống, thì nhảy xuống đẩy, thuận gió thì căng buồm. Tôi không chọn sông nào cả chỉ tùy ý Chúa đưa vào sông nào thì tùy tiện góp phần nhỏ nhen, là giúp cho thuyền đi tới đích. Làm chứng về Thiên Chúa Tình Yêu. Tin ở Sự Quan Phòng phù trợ của Ngài, chỉ sợ làm trái ý Ngài mà thôi.
Thế là cuối năm 1965, tôi trở về miền Nam Việt Nam. Lúc ấy anh Viện tôi cũng đã về miền Bắc năm 1964. Có điều buồn cười là một số anh em ở miền Bắc nghi ngờ cho tôi là người của anh Viện tôi gài trở về miền Nam với nhiệm vụ gì đó do miền Bắc giao cho! Một vài bạn cũ giữ chức vụ cao ở miền Nam tránh né không muốn gặp lại tôi, mãi đến khi thấy tôi phục vụ cho Hội Thánh, mới hết nghi ngờ cho tôi là Cộng sản nằm vùng (có một người thú thật với tôi như vậy). Và đó là lý do khiến cho anh Nguyễn Văn Trung muốn đưa tôi vào dậy lại Đại học Văn khoa Sài Gòn mà không được. Tôi về Việt Nam, lúc đầu có ý sẽ dạy học lại một trường tư thục Công giáo do các Linh mục thuộc địa phận Vinh di cư phụ trách. Tôi có nghĩ đến trường trung học Chính Tâm ở Phan Thiết. Thế nhưng bấy giờ anh chị em trí thức Công giáo ở Sài gòn có ít nhiều sinh hoạt. Linh mục Nguyễn Bình An khuyên tôi ở lại Sài gòn, xem xét tình hình để nếu có thể, thì cùng với các anh chị em ấy làm việc, thành ra tôi nhận lời dạy triết học chương trình Pháp, tại trường các nữ tu dòng Phaolô ở đường Cường Để. Một mặt tôi trao đổi đi lại với các anh em hội trí thức Công giáo, một mặt thì gặp gỡ trao đổi với một vài anh em tìm một dạng thức tu ở giữa đời. Nhưng sau một năm ở Sài gòn, tôi thấy đều chẳng đem lại kết quả gì. Đầu năm 1966, Linh mục Nguyễn Văn Lập, viện trưởng viện Đại học Đà Lạt đề nghị tôi lên làm việc với ngài. Thế là niên học 66-67 tôi lên Dalat nhận dạy một số giờ triết tại Văn khoa Đại học Dalat, ăn ở ngay trong trường với cộng đoàn giáo ban gồm các Linh mục và tu sĩ. Bấy giờ khoa trưởng Văn khoa là Lm. Lê Văn Lý, trưởng ban triết học là Lm. Lê Tôn Nghiêm. Tôi không phải là Linh mục hay tu sĩ gì cả, nhưng tôi sống với cộng đoàn giáo ban tại Đại học cũng gần như một nhà tu: chỉ lo chu toàn bổn phận chức nghiệp dạy học. Tôi ít lưu tâm đến vấn đề chính trị bên ngoài, trao đổi với anh em đồng nghiệp cũng chỉ ở mặt chuyên môn dạy học và văn hoá mà thôi. Những năm đầu, Đại học Đà lạt cũng gần như chỉ là chỗ tôi dung thân trong cuộc sống tạm gọi là “lạc bước vào Nam” do sự trật đường rầy trên con đường tìm một dạng thức tu trì mà phải bị ném ra giữa cuộc đời thế tục, chứ lòng tôi chẳng hề dính bén về mặt danh lợi và tình duyên. Cuộc sống của tôi có chăng như là một ký túc viên cao cấp: chẳng sắm sửa gì chẳng có ý định gây dựng gì cả. Ai giao việc gì thì làm việc ấy lương bổng đưa bao nhiêu nhận bấy nhiêu, tiêu bấy nhiêu. Ai cần thì cho mượn, có thì trả, không cũng chẳng đòi (nhất là một số sinh viên nghèo), chẳng dành dụm gì cả. Có khi còn phải vay mượn thêm để cho những người cần túng tìm đến. Tôi cũng không chủ trương giúp đỡ ai lâu dài, vì không muốn ràng buộc ơn nghĩa với ai. Tôi tự xem như một quán nước bên đường, thấy khách bộ hành đi ngang qua, thì mời uống bát nước chè xanh, ăn củ khoai lang qua loa thôi! Hết đợt sinh viên này qua đợt sinh viên khác, như vậy ai nhớ trở lại thăm thì vui vẻ, ai đi thẳng thì cũng không nhớ là ai! Tôi dạy học tương đối có kết quả, dần dần được các đồng nghiệp chấp nhận như là đủ trình độ, và được mời đi dạy một số giờ tại Đại học Sài gòn và Đại học Huế. Tôi dạy học tương đối có kết quả, tuy là tận tâm, nhưng hơi “tài tử”. Tự xem mình như là một phụ khảo, một trưởng tràng giúp đỡ anh em sinh viên, chứ không tự coi như là một giáo sư, bởi vì về học vị tôi mới chỉ có bằng Cử nhân mà thôi. Đó là lý do khiến tôi không có giáo trình hay cho in sách vở báo chí gì cả. Bài giảng cho sinh viên, có ai ghi chép lại mà muốn nhân lên phục vụ anh em cùng lớp, tôi chỉ sửa chữa vài chỗ, rồi tùy ý họ làm gì thì làm.
Giữa hàng ngũ sinh viên, tôi như một người anh cả hơn là một vị giáo sư, do đó tương quan rất gần gũi, thân mật rất đậm tình người. Sinh viên vào phòng tôi trọ đêm, hay là ngược lại, tôi ngủ tại phòng trọ của họ là thường. Ngoài giờ học thày trò quây quần quanh quán phở, cà phê cũng là thường, không tổ chức thường xuyên, nhưng tôi cố gắng thực hiện cái cung cách của con người cùng với anh em trẻ đi tìm Chân Lý, như tôi học được nơi các thày ở Sorbonne, chứ giáo trình của tôi thì cũng xoàng thôi. Tôi có quan niệm rằng: không có ai dạy triết cho ai, không có ai học triết với ai được cả! Chỉ là kẻ trước người sau trên đường đi tìm triết lý cho mình, do mình; gặp nhau thì giúp đỡ nhau, khuyến khích nhau, nâng đỡ trao đổi kinh nghiệm với nhau mà thôi. Do đó thi cử tôi cho là phản triết học, chỉ là chuyện vạn bất đắc dĩ! Các đề thi của tôi thường chỉ để thăm dò “chất triết” nơi thí sinh, hơn là kiểu tra vốn liếng tích tũy, nên tôi thường cho điểm khá rộng. Trái lại, vào khẩu vấn, tôi mang tiếng là xoay rất ác! Thực sự là vì sinh viên đông, trong niên học ít khi có dịp gặp từng người, nhân dịp khẩu vấn, tôi hỏi cho đến khi biết được mức cao nhất của thí sinh, hầu hết cứ câu cuối là kẹt, nên họ tưởng là sẽ rớt, nhưng vẫn có lúc tôi cho đến 15, 16 trên 20. Tôi nhân dịp khẩu vấn để tìm phát hiện tài năng và tiếp tục góp phần bồi dưỡng họ. Càng ngày tôi càng được các vị trong Hội đồng quản lý viện Đại học tín nhiệm, rồi vào dịp các Linh mục Nghiêm và Đỉnh từ chức, sau khi tìm kiếm người thay thế không ai nhận lời, tôi tiếp tục nhận chức vụ Trưởng ban triết học và Quyền Khoa trưởng khoa Văn. Sở dĩ tôi được giao cho giữ các chức vụ ấy, mặc dù về bằng cấp tôi chỉ có cái Cử nhân - là vì một mặt tôi sống gần như các tu sĩ, tiếp cận các linh mục và tu sĩ; một mặt tôi chỉ là giáo dân, dễ tiếp cận với các giáo sư bên ngoài; cũng có phần vì tôi được cái tính ôn hòa, vui vẻ dễ tạo được sự hài hòa giữa đời sống bạn hữu, thầy trò, trên dưới; dễ dàng xếp những vụ đối kháng căng thẳng nội bộ. Do đó trong nội bộ Viện Đại học Dalat, cũng như trong sự tiếp xúc với các tổ chức khác, như các viện Đại học Huế, Sài gòn, với các dòng, các Đại chủng viện có gởi tu sĩ và chủng sinh đến học, tôi thường có sự tới lui giao tiếp hài hòa, đôi lúc đóng vai trò trung gian. Tuy học vị của tôi chẳng có là bao, nhưng dần dần có một vị trí nào đó trong giới Đại học.
Mặc dầu vậy, nay xét kỹ lại, tôi vẫn thấy tôi không thực sự xem đó như là sứ mạng thực sự của mình, tuy vẫn làm việc hết mình, soạn bài kỹ, giảng dậy tận tâm, trên giao cho việc gì, ai cần giúp đỡ gì, bất cứ mặt nào, từ việc xin hoãn dịch, cho sinh viên mượn tiền ghi danh, cho đến việc tiếp xúc với chính quyền và giáo quyền, tôi đều làm hết sức lực mình để giúp đỡ và phục vụ; nhưng chiều sâu tâm hồn thì vẫn thấy lạc lõng. Sự tận tâm vẫn có đối với từng việc đưa đến chứ không tự mình vạch ra một ý đồ, một chương trình kế hoạch nào với tư cách như đó là sự nghiệp đời mình hướng về một mục đích rõ rệt. Do đó, tôi không để lại một công trình nào cả! Chăm chú từng việc một, có thể nói là gặp gì làm nấy, làm hết mình, nhưng xong việc là thôi, rồi sang việc khác, như kẻ phục dịch bảo gì làm nấy, chứ không có thái độ tự mình làm việc do mình vạch ra theo một dự kiến duy nhất liên tục nào cả. Tận tụy nhưng tài tử, cần mẫn nhưng lung tung lang tang; lại còn cái việc hay lê lết vỉa hè, các quán cà phê, gặp ai cũng chuyện trò, cũng ăn cũng uống, cũng ngủ nghỉ, cả ở bến xe, nhà bếp, khách sạn! lân la với đủ hạng người, kể cả cao bồi, hành khất và gái giang hồ, bất chấp mọi quy định thói thường của xã hội. Ai cũng có thể mời vào tạm trú vài đêm trong phòng mình; nhưng cũng không chủ trương giúp đỡ ai dài hạn: tôi tự xem như gốc cây quán trọ bên đường, khách bộ hành mệt mỏi nghỉ tạm rồi lại ra đi, có khi không bao giờ trở lại. Nói chung, tôi cớ tâm tư của kẻ lữ hành giữa những kẻ cùng lữ hành, như chưa tìm đâu là chỗ ở, việc làm của mình cả, và cứ như là kẻ nghĩ rằng ngày nào đó lại nhổ lều đi cắm nơi khác.
Những lúc làm việc chăm chỉ, say sưa giảng bài, tôi tạm quên đi chứ những lúc một mình thì cảm thấy trống rỗng. Tôi như một kẻ mất mát cái gì mà tìm chưa thấy, hoặc tệ hơn nữa, như kẻ đi tìm cái gì mà mình cũng chưa rõ là tìm gì nữa! Bởi vì, điều tôi vẫn ấp ủ là đời tu trì thì tự cho như là không còn trông mong gì nữa; tôi không phải là “moine défoqué” (tu xuất, vất áo), mà là “moine manqué” (tu hụt), như hụt tàu, lỡ chuyến, thậm chí không có tàu mà đi. Ngoài ra, lại có vấn đề thời thế: năm 1965 về Việt Nam, tôi có cái nhìn sai lầm là nghĩ rằng với cái chết của Tổng thống miền Nam Ngô Đình Diệm, là chiến tranh Việt Nam đã đi đến chỗ kết thúc. Ai ngờ! Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt, tôi chả mấy phù hợp với bầu không khí xã hội chính trị miền Nam, nên mới lên Dalat. Thấy thi hài các chiến sĩ cách mạng bị giết và xếp bên vệ đường, tôi thổn thức tự hỏi chẳng biết có em hay cháu mình trong số đó không? Nhưng vừa xuống xe bước vào văn phòng nhà trường thì lại được tin một sinh viên cũ bị động viên tử trận. Thật là xót thương đau đớn trăm chiều! Suy cho cùng khi cái đường tu trì đã chết trong tôi, thì mọi việc trần gian đối với tôi như nửa hư nửa thực! Nhất là mọi việc trần gian ở miền Nam, thì tôi vẫn có cái trực giác và linh cảm rằng nó không tồn tại, chỉ là một cái gì mong manh: chẳng những danh lợi, mà ngay những việc tự nó là tốt cũng sẽ “cuốn theo chiều gió” cho đến các công việc văn hoá, xã hội rồi cũng vậy.
Do đó, sức khoẻ và tinh thần tôi kém sút, mặc dầu ăn uống thuốc men đầy đủ. Đời sống thiêng liêng cũng cứ chập chùng lên xuống, có khi gần như bị chìm hẳn, ít ra cũng là tê dại đi, cóng lạnh lại! Rồi cái tâm chứng mà tôi đã đề cập trên kia, tuy không làm tôi gục hẳn, nhưng cũng đặt ra khá nhiều gay go đòi hỏi một sự phấn đấu cố gắng khá cam go. Cuối cùng thì tôi vẫn như chờ đọi một cái gì… Cái gì? Tôi không rõ! Những việc tôi làm bề ngoài tuy xem ra có vẻ thành công, nhưng tận đáy sâu, tôi vẫn thấy như có cái gì đe dọa và bấp bênh, rất bấp bênh. Tôi vẫn như dân Do thái xưa kia, vừa ăn chiên vượt qua vừa khăn gói để lên đường. Mà quả vậy, hành trang tôi hầu như không có gì, ngoài một số sách, phần lớn mang về từ Pháp năm 1965, tài sản lớn nhất của tôi là một máy thu thanh “National” mua lại của người bạn đồng nghiệp với giá rẻ 5.000 đ và một máy chữ hiệu “Ralau” giá 28.000 đ (năm 1973). Vài bộ quần áo (có một đôi bộ tạm gọi là “sang” để mặc những lúc phải dự các nghi lễ, vài đôi giày có một đôi sang để đi lúc dự các lễ). Toàn là mua những áo cũ may lại. Tiền lương thì tiêu vặt, còn lại ai vay mượn đều đáp ứng (thường là vay mượn vĩnh viễn, thậm chí cần tiền còn đi vay người khác để cho mượn!!!). Ngày miền Nam giải phóng, tôi còn mắc nợ gần 300.000 đ lúc ấy, may mà các chủ nợ đã thông cảm xí xoá cho cả! Nhân dịp này, tôi cũng xin có đôi lời minh xác:
Bề ngoài tôi được nhiều người lầm tưởng tôi đi khá xa trên đường nhân đức!!! Không phải thế! Tôi không dính bén danh lợi chẳng qua vì bản tính tự nhiên không ham cái ấy, có lẽ rằng nếu không biết Chúa, tự nhiên tôi cũng thế mà thôi. Hơn nữa, tình hình bất ổn của xã hội càng làm tôi không dính bén, vì tự nhiên biết đó chẳng ra gì và cũng chẳng vững chắc gì: kinh nghiệm về danh lợi của thân phụ tôi đã làm cho tôi sáng mắt theo sự khôn ngoan triết lý tự nhiên, chứ không phải theo tinh thần nghèo khó Tin Mừng đâu. Vả lại, tôi cũng có một bảo đảm về tương lai, vì theo chương trình của Ban Quản trị Hội Đại học Dalat, thì thế nào khi tuổi già sức yếu tôi cũng có một bảo đảm về tương lai, có chỗ nương thân, đó là chưa nói có cùng lắm thì gửi thân cho một tu viện, một giáo xứ nào đó cũng là việc dễ. Cách sống của tôi chẳng qua là vừa có tính cách hơi thiếu sự phòng xa của một kẻ quen sống dựa vào một sự bảo đảm nào đó, vừa có tính cách tài tử vừa có pha ít nhiều nét hơi tạm gọi là “philosophe”, thế thôi! Chẳng có gì là cao thượng cả, mà xét ra lại còn thiếu đức cẩn trọng (prudence) nữa! Về mặt giúp người túng ngặt cũng tương tự như vậy. Quả thực, Chúa ban cho tôi có chút ít lòng thương người tự nhiên (nặng về cảm xúc, không chịu được cái cảnh khổ của kẻ khác, na ná như người không đủ can đảm thấy kẻ bị thương, có làm vài việc từ thiện), chứ không phải là thực sự yêu người theo đúng nghĩa của Tin Mừng đâu. Cuối cùng, việc tôi sống độc thân cũng chẳng phải vì đức khiết tịnh gì đâu! Chẳng qua cuộc sống cá nhân, gia đình, xã hội từ năm 1945 cho tôi thấy lập gia đình thì chỉ lại vướng bận trong một hoàn cảnh chung, luôn có sự đe dọa của cái bất ổn, bất trắc; lại thêm cái tâm chứng của tôi, sợ rằng sống đời gia đình sẽ khó có hạnh phúc. Thế thôi, chẳng có gì là hy sinh vì Chúa, vì anh em cả! Mặc dầu về mặt khách quan bên ngoài, nhờ những điểm ấy, tôi có làm được một số việc gọi là tốt, giúp đỡ được một số người nào đó nhưng về giá trị chủ quan cá nhân, thì chẳng là giá trị cao thượng bao nhiêu.
Thế nhưng, đây là sự kỳ diệu của Thiên Chúa, Chúa che mắt không cho ai thấy được sự thực như vậy cả! Cho nên, đối với một số anh chị em, đời sống của tôi đã có tác dụng xây dựng (édifiant), có thể như là gương sáng… Tạ ơn Chúa, nếu có anh chị em nào nhờ vậy mà thêm phần được ảnh hưởng tốt, thì hoàn toàn là việc Chúa làm, Chúa dùng cái bề ngoài của tôi mà giúp đỡ họ, chứ giá trị bề trong của tôi thì hoàn toàn chẳng có gì! Thế mà, ôi, khốn nạn cho tôi! Mặc dầu ý thức như vậy, đôi lúc tôi cũng đã để cho cái “tự phụ” rởm len lỏi vào tâm hồn, tự cho mình là tốt. Thỉnh thoảng lầm tưởng là mình có tinh thần nghèo khó, có lòng yêu người!!! Nghĩ lại mà xấu hổ! Cúi xin Chúa rộng lòng tha thứ cho và xin anh chị em cầu nguyện cho tôi được luôn ý thức về “sự thực” của mình, đừng để bị huyễn hoặc bởi một số ảnh hưởng tốt nào đó mà Chúa đã làm bằng cách tạo nơi anh chị em cảm tưởng rằng tôi tốt thật! Tôi cũng tự an ủi rằng, nếu Chúa có gây ra nơi anh chị em cái ấn tượng tốt về tôi, thì cũng là điều hay cho họ, và cũng là sáng danh Chúa phần nào, chuộc lại phần nào cái tệ thực sự nơi tôi, của bản thân tôi. Trên đây tôi có ý nói Chúa làm sự kỳ diệu nơi tôi là kỳ diệu như thế, chứ không phải kỳ diệu theo nghĩa tôi thực sự trở nên tốt như một số anh chị em đã lầm tưởng. Kỳ diệu là ở chỗ Chúa dùng một vậy chẳng tốt lành gì, nhưng nhờ cái ấn tượng tốt mà tạo kết quả tốt nơi anh chị em. Quả thật Chúa là Đấng Toàn Năng và thương xót vô cùng! Tạ ơn Ngài muôn đời! Có thể ví như vị Lương Y dùng thuốc rất thường, rất dở, đôi khi là độc dược, mà đem chữa được bệnh! Thật là vô cùng kỳ diệu. Kết quả tốt là do tài “thầy thuốc” của Chúa, chứ cái dược liệu Chúa dùng thì xoàng vẫn là xoàng, xấu vẫn là xấu. Xin minh xác một lần như vậy là dứt khoát. Các anh chị em không được nghe tôi xưng tội, thì không rõ, mà tôi cũng không được phép gây xì-căng-đan bằng cách nói toạc móng heo thực sự bản chất của tôi. Chỉ có được cái này thôi là tôi tự nhiên chứ không đóng kịch, không giả hình, nên gây được ấn tượng tốt là vì tự nhiên, chứ không cố tình giả vờ! Cuộc sống bề ngoài của tôi là thực, còn động lực bề trong thì chỉ là xoàng, được anh chị em có ấn tượng tốt hiểu theo ý tốt thế thôi! Ý Chúa nhiệm mầu sắp đặt như thế, chúng ta cũng thông cảm với nhau, hiểu nhau mà tạ ơn Ngài, cuối cùng là do Ngài thương chúng ta mà ra cả! Mọi sự Chúa dùng đều “mưu ích cho Hội Thánh Ngài”! việc thánh thiện đã đành, việc xoàng cũng vậy, và về một mặt nào đó, việc xấu cũng vậy! Cảm tạ ngợi khen Ngài!
Tuy nhiên, do cái vị trí của tôi trong viện Đại học, dần dần đôi lúc tôi cũng tự nghĩ có thể tôi đã quá làm theo ý riêng, chỉ tìm một sự hào hứng cá nhân trong từng công việc, mà không đặt vấn đề xem Chúa đưa đẩy mình vào vị trí ấy có phải là Ý Ngài muốn mình làm một việc nào đó chăng? Trưởng ban Triết học, Quyền Khoa trưởng; Văn khoa trong thực chất có khác gì khoa trưởng thực thụ, vì giữ chức vụ ấy 3 năm của một Viện Đại học Công giáo, thì không lẽ chỉ làm việc cá nhân, tài tử, phóng khoáng quá mức như vậy được! Đành rằng ngoài những lý do chủ quan đã trình bày trên, thái độ hơi tài tử của tôi cũng có hơi phần nào do tình trạng khách quan của viện Đại học Đà Lạt; Viện này được thành lập năm 1959 dưới thời chính phủ miền Nam Ngô Đình Diệm, do Đức Giám mục Ngô Đình Thục sáng lập. Từ năm 1959 cho đến khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, sự việc thế nào tại Đà Lạt thì tôi không được rõ, nhưng năm 1966 tôi lên Đà lạt, thì thấy nó đang ở tình trạng của một người tướng suýt chết, may mà được cứu sống, và phải khôi phục sức khỏe từ từ với rất nhiều khó khăn (khó khăn đến nỗi có lúc Hội đồng Giám Mục không phải không đặt vấn đề giải thể nó) nguyên do là sau chính biến l963, viện Đại học Đà lạt bị chính phủ miền Nam cho là gắn liền với chế độ Ngô Đình Diệm, nên chỉ có cái nhìn ác cảm. Do dó, vào những năm 63, 64, 65, viện đã gặp rất nhiều trở ngại; ví dụ về tài chính, một số tài sản làm cơ sở tài chánh của viện bị kiềm tỏa (thậm chí có lúc vấn đề tịch biên được đặt ra), ban giáo sư bị hạn chế, nơi ăn ở của sinh viên phần đông là ở các nơi khác đến cũng nan giải. Người ngoài không biết đấy thôi: có lúc linh mục Viện trưởng phải chạy đi mượn tiền để thanh toán tiền lương cho giáo sư và nhân viên. Vì thế, trong bước khởi đầu và phát triển, buộc lòng phải có những chủ trương hơi thiên về “thực tế”! Có lẽ đó là lý do khiến cho từ năm 1965 đến quãng năm 1970, trường chính trị kinh doanh hơi có phần khuếch trương quá mức so với các khoa khác! Trong giai đoạn ấy, ở xã hội miền Nam nổi lên một phong trào đổ xô về những hoạt động tạm gọi là chính trị (các đảng phái và bè nhóm mọc lên như nấm); rồi chính khách đủ loại, đủ cỡ cũng xuất hiện rầm rộ, danh từ “chính trị” rất ăn khách! Đồng thời với sự xâm nhập của các tổ chức người Mỹ vào miền Nam, một nhu cầu về quản lý, quản trị đã bộc phát: hai tiếng “kinh doanh” cũng chẳng kém phần cao giá! trường chính trị Kinh doanh phần nào đáp ứng được một số yêu cầu và thị hiếu, cho nên được các bạn trẻ yêu thích, và có lẽ cũng được chính phủ nhìn nhận là đáp ứng cho một điều mà họ cho là cần thiết; họ bớt phần gay gắt và dần dần có phần khuyến khích. Trong tình thế như vậy, văn khoa và nhất là ban triết học đôi lúc có cảm tưởng như mình là con ghẻ, lập ra cho lấy có, kẻo mà chỉ lo có trường chính trị kinh doanh! Thế nhưng rồi từ từ, văn hóa và ban triết học mỗi ngày tiến lên một ít, và đến quãng năm 1970-1971 thì tương đối có vị trí gần như xứng đáng của nó, nhất là có một số tu sĩ và linh mục dòng có học vị cao, chịu chấp nhận lên cư trú thường xuyên, đứng vào bộ khung chính thức của nhà trường (lúc đó các vị chỉ lên dạy với tư cách là thỉnh giảng, văn khoa chủ yếu là ban triết mới đi tới chỗ tìm vạch ra một hướng hoạt động đặc thù hợp với chức năng của một Viện Đại Học Công giáo, chứ không phải là cái đuôi “dập dèo” cho khoa chính trị kinh doanh, và đón nhận các sinh viên từ nhiều địa phương, hoặc muốn “du học” xa nhà cho thoải mái, hoặc bị kẹt về mặt nào đó (hoãn dịch, lý do chính trị). Đồng thời, sau khi Đại học Đà lạt đào tạo một số sinh viên tốt nghiệp cử nhân văn khoa có tư cách, có khả năng (trong đó một số thuộc đại chủng viện và nhất là Giáo Hoàng Học viện Piô X, có lòng hăng say học hỏi nghiên cứu, dần dần cái ý thức tạo nên một đường hướng tư tưởng nào đó, một đường lối phục vụ văn hóa nào đó, đúng với chức năng của một cơ quan văn hóa Hội Thánh - được đặt ra. Tôi cùng với một số linh mục thường trú tại viện, cộng với một số chủng sinh có trình độ, một số phụ khảo do chính chúng tôi đào tạo ra, đi đến chỗ phác họa một chương trình làm việc, với sự cộng tác của ban giáo sư Giáo Hoàng Học viện và Đại Chủng Viện Đà Lạt. Và đến năm 1974, lúc có sắc chỉ của tòa Thánh, sát nhập khoa Thần học của Giáo Hoàng Học viện vào viện Đại học Đà lạt, thì chúng tôi bắt đầu thực thi những dự phóng đã nung nấu, đúc kết qua mấy năm dò dẫm, thí nghiệm.
Nhưng! Thuyền tình vừa ghé tới nơi! thì sang năm 1975, miền Nam giải phóng! Lịch sử lại sang trang, mà trang sử này có tính cách thật quyết định, đổi đời gần như triệt để, cùng với sự giải thể Viện Đại học tư thục Công giáo Việt Nam, đời tôi vừa đúng 50 tuổi cùng một bước ngoặt vô cùng quan trọng. Quả như đạo Nho có dạy: “Ngũ thập tri thiên mệnh”- năm tôi 50 tuổi, thiên mệnh mới sáng tỏ đời tôi; từ năm 1949 – l975, 26 năm trời theo Chúa, có lẽ đến năm 1975 tôi mới thoáng thấy ra Chúa muốn gì nơi tôi. Cho nên, trước khi tiếp tục, tôi xin ghi lại ngay rằng: đời tôi, trừ năm l925 là năm tôi sinh ra, thì hai năm 1945 và 1975 là hai năm ĐẠI HỒNG PHÚC cho tôi. Và cũng xin ghi ngay răng Hồng Phúc ấy khởi đầu bằng hình bóng cây thánh giá. Đúng là: LÁ RỤNG VỀ CỘI!

17. LÁ RỤNG VỀ CỘI!
Xin được phép trở về quá khứ. Như tôi đã nói, năm 1950, tôi rời nhà tập ở Vinh để tiếp tục tu trì tại viện Thần học ở Nha Trang. Rời Vinh vào Nha Trang, đối với cái nhìn của người ngoài là rời Bắc vào Nam. Thế nhưng đối với tôi, cũng như đối với toàn thể gia đình dòng tu Phanxicô thì không có việc chia ra Bắc Nam gì cả, chỉ có một dòng Phanxicô duy nhất không chỉ ở Việt Nam mà khắp cả thế giới, chia ra từng tỉnh dòng là thuận lợi cho việc tổ chức điều hành mà thôi. Cho nên, từ Vinh vào Nha Trang chỉ là bước từ nhà tập (dù nó ở đâu) lên học viện, cũng na ná như từ lớp 9 ở huyện Y lên lớp 10 ở huyện Z thế thôi! Như tôi đã nói, nếu giả sử nhà tập ở Nha Trang và học viện ở Vinh thì chúng tôi sẽ từ Nha Trang ra Vinh; vào Nha Trang là để học chứ không phải là trốn chế độ này, di cư để tìm cách sống với chế độ khác. Đối với kẻ tu hành đã dâng mình cho Chúa, thì chỉ có hai chế độ.
1. Là chế độ trần gian, tức là cuộc đời ở nơi lữ hành này, thì đâu cũng vậy, chế độ chính trị văn hoá nào cũng vậy, cho nên chẳng bao giờ có ý trốn nơi này sang nơi khác vì lý do chính trị cả. Chỉ có đi nơi này sang nơi khác… để thực hiện những việc cần thiết cho công việc tu trì và học tập hoặc sứ mạng truyền giáo mà thôi.
2. Là chế độ Nước Trời muôn thuở, ở khắp mọi nơi mọi lúc ở chính trong tâm hồn của những ai mến Chúa yêu người; cho nên cũng chẳng có gì phải chạy trốn nơi này sang nơi nọ; đâu đâu Chúa cũng ở trong lòng mình! Sự lựa chọn là lựa chọn từng giây từng phút giữa Thiên Chúa và ma quỷ, mà trận địa chính là lòng mình. Do đó, vào Nam hay sang Pháp chỉ có ý nghĩa khi tôi còn là tu sĩ dòng Phanxicô, di chuyển từ nơi này sang nơi khác để học triết học, thần học, chứ tu ở Vinh, ở Nha Trang, ở Pháp hay ở đâu khác cũng là tu tự nơi lòng mình cả, và nếu nay mai có ai di cư lên sao hỏa, mặt trăng… thì cũng là mang lòng mình lên theo thôi. Do đó, một khi không có ý nguyện thực hiện mộng tu nữa, trở về thế tục, thì tôi vẫn có xu hướng “Lá rụng về cội”. Có lẽ đúng là một ông đồ Nho quá dính bén với làng xóm, với mồ mả ông cha hay chăng? Đến nay, nhất là những lúc khi bị mất ngủ hay khi thức dậy, tôi vẫn còn có lúc như Thúy Kiều “Giấc hương quan luống ngẩn ngơ canh dài!”. Non Tiên ngàn Phố (quê cha) sông Giang núi Bút (quê mẹ) vẫn như réo gọi hồn tôi vậy. Và Thọ Ninh, Nghĩa Yên là nơi tôi thọ lãnh bí tích Thánh Tẩy, vẫn như ray rứt nhắc nhở tôi. Rời quê cha, rời quê mẹ, rời Thọ Ninh, Nghĩa Yên, hay nói cách khác là rời Nghệ Tĩnh và địa phận Vinh chỉ là để đi tu, nay không đi tu nữa thì trở về với gia đình ở Nghệ Tĩnh, về với giáo phận gốc là Vinh. Tiềm thức tôi như bị điều ấy chiếm ngự hoàn toàn; từ ngày rời khỏi dòng Phanxicô (chỉ trừ những ngày tập tu ở dòng Biển Đức kiểu gọn nhẹ ở miền Bắc nước Pháp như tôi đã nói trên) ở đâu, làm gì tôi cũng như người lạc bước. Lúc làm việc hay trò chuyện với bạn bè chỉ khuây khỏa, chứ lúc một mình y như người bị lưu đày vậy. Lưu đày khỏi Thiên Quốc đã đành, mà còn lưu đày khỏi non Tiêu ngàn Phố, núi Bút sông Giang. Vì thế, trước lúc trở lại Việt Nam, tôi có đề cập qua với anh Viện tôi, sau khi biết là về Bắc không thực hiện được, tôi đã về miền Nam, với tư cách là một kẻ lạc bước miền Nam cho nên tuy làm việc cần mẫn, nhưng vẫn có cái gì không gắn bó cho lắm. Và ngay những ngày tháng ở Châu Âu cũng vậy. Có lẽ đó là lý do khiến tôi đi học ở Châu Âu (trừ những ngày tháng ở trong dòng tu) cũng như khi làm việc ở miền Nam trước năm 1975 tôi đã có thái độ của kẻ “lạc bước”. Một vài bạn tri kỷ, tuy không hề nghe tôi tâm sự, cũng thấy ở nơi tôi có một cách gì u hoài thao thức. Có một cậu sinh viên, sau khi rời Dalat, viết cho lá thư có câu: “Những lúc thầy giảng dạy hay trò chuyện thì vui vẻ, nhưng những lúc thấy thầy lủi thủi đi một mình, em thấy tâm tư thầy mang nặng một nỗi u buồn thầm kín, nhưng hình như sâu thẳm lắm, em vừa thương vừa như kính sợ không dám lại quấy rối”. Quả cậu sinh viên ấy có cặp mắt tinh đời. Vì tâm tư tôi từ ngày rời khỏi dòng tu ra đời có thể mô tả như sau: một là ở trong dòng tu, hai là ra đời thì lá rụng về cội, hay ít ra cũng là ở trong một nước Việt Nam thống nhất. Đó không phải là vấn đề chính trị, mà là vấn đề tâm tư tình tự; một là xuất thế thì đi tu, hai là tại thế thì phải bén rễ ở một quê hương, quê hương nhỏ là Nghệ Tĩnh, quê hương lớn là miền Nam thống nhất. Xin thú thực đối với tôi, điều quan trọng là thống nhất, còn thống nhất kiểu nào là thứ yếu (tôi xin bạn đọc lưu ý: tôi chỉ kể chuyện tâm tình chủ quan của tôi cho vui chứ không hề nói chuyện sai đúng hơn thua). Cho nên, từ ngày đất nước thống nhất, tôi như người sống lại về mặt thế trần, mà theo Kitô giáo, thì siêu nhiên cũng phải được ghép vào cái gốc thế trần tự nhiên, như ghép cây ăn quả. Do đó, năm l975, cùng với sự sống lại về mặt thế trần, đời sống siêu nhiên cũng đồng thời bừng dậy một cách khá mãnh liệt. Có thể nói (trừ mấy tháng ở tu viện Biển Đức bé nhỏ tôi đã nói trên kia) từ 1956 rời khỏi dòng Phanxicô cho đến năm 1975, đời tôi bề ngoài có vẻ như sống động nhưng bề trong (trừ những lúc vào nhà thờ cầu nguyện) chỉ là một mùa đông giá lạnh. Bởi vì tình cảm của gia đình, tình hoài hương, cuộc sống toàn diện của một con người (một người không ở dòng tu mà ở thế tục) như bị giá lạnh khô cứng. Nếu lý tưởng của người Công giáo Việt Nam là “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” như Hội đồng Giám mục Việt Nam đã dạy trong bức thư chung năm 1980, thì chỉ có từ năm 1975 mới có điều kiện thuận lợi (theo nghĩa cao sâu của nó) vì dân tộc không còn chặt đứt ngang lưng nữa do vĩ tuyến 17. Do đó, từ năm 1975 đến nay dưới cái nhìn của một số anh em thì tôi mất rất nhiều cái (mà cái mất cuối cùng là mấy trăm cuốn sách bị trộm cách đây 3 năm), nhưng riêng tôi thì như cả một cuộc hồi sinh về cả hai mặt tự nhiên và siêu nhiên. Nên chi, về mặt điều kiện vật chất thì so với trước năm 1975, đời tôi không được ¼, thế mà ai cũng công nhận là tôi vui tươi và khỏe mạnh hơn nhiều, như cá được thả về nước vậy. Lý do như sau: con cá của hồn tôi chỉ có thể sống được một là trong hồ nước dòng tu, hai là trong hồ nước một Việt Nam thống nhất mà giải Trường Sơn là xương sống. Giờ đây, dưới bóng núi Lâm Viên, tôi thấy liền một giải Trường Sơn cùng với núi Hồng Lĩnh, trên bờ biển Việt Nam thì Đồ Sơn, Sầm Sơn, cửa Thuận An, cửa Thị Nại, vịnh Cam Ranh, Vũng Tàu, Hà Tiên một đường liên tục; Hà Nội – Thành Phố Hồ Chí Minh có con đường sắt xuyên thẳng để cho tôi, nếu không được sống trong một dòng tu thì cũng được sống lý tưởng “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” một cách vẹn toàn không còn bị nhức nhối của cơ thể bị cắt đứt ngang lưng. Đối với tôi, đã ở thế tục thì tâm tình con người thế tục của tôi phải có hai yếu tố: gia đình đoàn tụ và nước nhà thống nhất, còn các việc khác thì hạ hồi phân giải.
Từ năm 75, tôi được giải toả khỏi mọi u hoài gia đình ly tán, đất nước phân ly, cho nên, hình như mới được thanh thản mà cất cánh bay lên, lặn sâu vào đời sống siêu nhiên. Hình như, chỉ trừ lúc sống ở dòng tu, hễ ra ngoài thế tục thì cái u hoài gia đình ly tán, đất nước phân chia, như tảng đá cột nặng vào chân tôi không bay lên được. Tôi cũng xin khiêm hạ xác minh rằng tôi không phải là con có hiếu (vì tôi không hề đóng góp gì cho gia đình cả), cũng không phải là công dân yêu nước (vì tôi chưa hề đóng góp gì cho nước nhà cả), những điều tôi ghi trên chỉ là cái tình tự gia đình và dân tộc của một con người rất xoàng mà thôi. Tôi có một nhận xét (có thể có người cho là ngây ngô) như sau: từ ngày triều đình Huế ký hiệp định Patenôtre cho đến ngày người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam, chưa có một người Công giáo Việt Nam nào được đặt lên bàn thờ. Những người Công giáo Việt Nam được đặt lên bàn thờ đều thuộc về thời kỳ trước hiệp định Patenôtre cả! Tôi tự hỏi phải chăng từ ’75 trở đi rồi lại sẽ có những người Công giáo Việt Nam được Hội Thánh đặt lên bàn thờ? Khi nào? Như thế nào? Nhờ cái gì? Đó là thuộc ý mầu nhiệm của Thiên Chúa và do đó mọi tâm hồn tín hữu quỳ gối ngước nhìn cây Thánh giá, cầu nguyện với các Thánh Tử đạo Việt Nam mà suy niệm và chiêm ngưỡng dưới ánh sáng của cương lĩnh Nước Trời là Tám Mối Phúc Thật, từ sau năm '75 tình tự gia đình và tình tự dân tộc được giải toả, và điều tôi suy nghĩ trên đây về Hội Thánh là hai liều thần dược Chúa ban cho tôi được thực sự và vĩnh viễn hồi sinh. Sau cái gần như chết đi năm '45, sự hồi sinh mà phép Thánh tẩy năm '49 mới gieo mầm, mãi đến năm '45 mới thực sự bắt đầu trổ lá ra hoa, chờ ngày hái quả là ngày tôi được Chúa gọi ra khỏi trần gian chóng qua này, ra trình diện Ngài với hai bàn tay trắng nhuốm đầy hoen ố. Bao giờ thì đến ngày ấy, mai mốt hay mươi lăm năm nữa? Đối với Thiên Chúa thì ngàn năm như một ngày, một ngày cũng như ngàn năm. Tôi nay đã 61 tuổi rồi, chắc cũng không còn bao lâu nữa. Dòng sông đã ra gần cửa biển, đục trong gì rồi cũng sẽ hoà tan vào nước biển xanh vắt trùng khơi dào dạt.
“Lá rụng về cội”, hình ảnh Lão Lai! Thực sự chỉ là biểu lượng của một thiên đàng không phải đã mất mà là sẽ đến. Về mặt trần thế, thời thơ ấu của tôi là đất Nghệ Tĩnh (Hồng Lam, Tiêu Phố, Bút Giang). Về mặt siêu nhiên là thời ‘49 - 51 với Nghĩa Yên, Thọ Ninh và dòng Phanxicô Vinh. Từ năm 1915 trở đi, tôi như được trở lại với cái thời thơ ấu ấy, nhất là thời thơ ấu thiêng liêng (và xin nói ngay, thời thơ ấu thiêng liêng của tôi ấy đưa tôi về những ngày thơ ấu thiêng liêng của Hội Thánh được ghi lại trong Công Vụ Tông Đồ). Đúng như cung cách của Thiên Chúa tác động theo phạm trù “kiểu mẫu sóng đôi” (typologie), các giai đoạn, các lớp màn có cái gì như “na ná” nhau, vừa như “trùng lặp”, vừa như “phục hồi”, vừa như thăng tiến, lên cao theo kiểu vòng tròn xoắn ốc (spirale ascendante). Tạm vẽ như sau:
[hình vẽ vòng tròn xoắn ốc]
Cho nên, từ năm 1975 cũng như những năm 1949 -51 tôi như tạm gọi trong “Công vụ Tông đồ” cái tuổi trẻ được biểu tượng bằng cái tuổi trẻ của Đức Nữ Maria, mà văn hào Bernanos dám gọi là “Cô em út của Nhân loại”; riêng tôi cũng xin thêm một biểu tượng phụ nữ là “bà chị út Têrêxa Hài Đồng”, tay rắc hoa hồng xuống trần gian, nhất là xuống đất nước Việt Nam, chắc hẳn thế, vì sinh thời, Thánh Nữ có lòng ao ước đặt chân lên Việt Nam để hy sinh phục vụ trong một đời hiến dâng trọn vẹn.
Hoàn đồng! Enfance retrouvée! Như Chúa Giêsu nói với Ni-cô-đê-mô: cần phải tái sinh, và muốn tái sinh thì phải chết với con người cũ. Trên kia, tôi nói năm 1949 và năm 1975 là hai năm “Đại hồng phúc”, vì đó là hai năm tái sinh đối với tôi. Và trước lúc tái sinh thì phải chết: năm 1945, con người cũ cậu ấm con quan, cậu tú con địa chủ được chết đi; thì năm 1975, con người cũ của cậu sinh viên tốt nghiệp Sorbonne, ông giáo sư quyền Khoa trưởng, Trưởng ban Triết học Đại học Dalat cũng được chết đi! Xét về mặt nào đó cuộc sống siêu nhiên của tôi từ năm 1975 như vượt qua một cơn mê ngủ từ ngày lạc bước vào Nam năm 1951, nối tiếp lại quãng đời thơ ấu thiêng liêng của ba năm ’49 - 51 ở đất Hồng Lam, với biểu đồ như sau:
49__________51---------------75__________?
Ngày 30-3-75, nằm sau đường mương đàng sau nhà Hòa Lạc, tức là nhà của Viện trưởng Đại học Dalat, nhìn trường Võ Bị Quốc Gia, mìn đạn nổ như sáng rực cả một góc trời, tôi như người sực tỉnh khỏi một cơn mơ dài (cơn mơ từ ngày tôi cùng 14 anh em khác rời bãi biển Sầm Sơn 1951, ra Phát Diệm bằng thuyền, lên Nam Định vào Nha Trang v.v… ) và tiếp xúc lại với hiện thực là dân tộc và Đất nước Việt Nam trong cái chiều sâu của nó. Cái chiều sâu mà hạt giống Tin Mừng phải được vùi sâu để nảy mầm (đương nhiên là sau khi hẩm nát) mang lại Mùa gặt thuôn đời.
Còn riêng tôi thì cuộc tái sinh lần thứ hai cũng phải qua thời thai nghén. Thời thai nghén ấy chính là thời gian tôi ĐƯỢC đi học tập tại “Trại cải tạo sĩ quan chế độ cũ” ở Sông Mao, khởi đầu từ ngày 24-4-75 là ngày tôi được đưa vào trung tâm cải huấn Dalat, và kết thúc ngày 25-8-76. Mười sáu tháng khác nào như thời gian nhà tập của một dòng tu. Tôi xin nói với tất cả sự chân thành: 16 tháng ấy tôi mới thực sự là được HỌC, mà tôi nghĩ ở trần gian này không có trường Đại học nào có thể dạy tôi học tập như thời gian ấy. Không phải là trại cải tạo đem lại vốn kiến thức mới nào hay làm cho tôi thay đổi gì về nhân sinh quan và vũ trụ quan, nhưng đó là thời gian cho tôi đào sâu và kiểm nghiệm nhờ cuộc sống thực tế chà xát, va chạm với những chi tiết của cuộc đời của một con người từ những nhu cầu thấp nhất của sinh-thể-lý: đói khát, thiếu nơi nằm, nơi ngồi, cái quần, cái áo, miếng đường, viên thuốc, ánh lửa, ngọn đèn… cho đến những giờ phút cầu nguyện, những kiến thức về tâm lý, thể lý, xã hội, siêu hình, luận lý… ngay cả cách rửa chén bát, sử dụng giấy loại v.v… và v.v… đều được rà lại cả. Nhưng bài học quý giá nhất là: trong trại cải tạo, chân tướng của bản thân tôi được lột trần ra nhờ những sự việc dồn tôi vào cái thế không thể nào che đậy được, chân tướng ấy dưới bất cứ cái vỏ giả hiệu nào. Bao nhiêu ảo tưởng về chính mình nhờ vậy mà được dẹp sạch, tương tự như mấy câu hỏi bâng quơ của người đầy tớ gái dồn vị Giáo Hoàng đầu tiên là Thánh Phêrô vào chỗ phải lộ cái chân tướng “hèn nhát”: chối Chúa 3 lần; và nhờ vậy mới biết tháo lui ôm mặt khóc! Tôi xin dẫn cử sự việc sau đây cho vui câu chuyện:
Tôi vốn được tiếng là có lòng thương người, hay giúp kẻ gặp cơn gian nan. Tôi cũng cứ tưởng rằng mình là tương đối khá về mặt ấy!!! Vì quả thật, như trên đã có ghi, trong những năm lương tiền ăn uống đầy đủ, tôi hay giúp đỡ về mặt tài chánh cho những kẻ túng thiếu, nhất là trong giới sinh viên nghèo. Thế nhưng! Nhờ ơn Chúa, tôi được dịp biết rõ mình tệ hơn chứ không thực sự tốt bụng như mình tưởng đâu. Sự việc như sau:
Hôm ấy có một anh em bị sốt nặng, nhiệt độ lên rất cao, đã lúc gần như hôn mê, nói sảng. Vị bác sĩ, cũng là anh em cùng cải tạo, bắt mạch khám bệnh và cho biết nếu có tifomycine thì may ra chữa được. Lúc ấy tôi còn lại một vài viên giấu kỹ dưới đáy ba lô. Tôi nghĩ đến việc đưa ra cho bệnh nhân. Nhưng rồi lại thôi! Vì nghĩ đó là những viên thuốc cuối cùng, đưa cho người ta, đến phiên mình bị ốm thì sao? Đấy! Rõ là tốt bụng quá! Tuy vậy lương tâm tôi vẫn bứt rứt, cứ phân vân mãi, định đưa ra, rồi lại thôi, rồi lại định đưa ra, rồi lại thôi. Cứ như vậy suốt đêm không ngủ! Vật lộn với chính mình như vậy mãi cho đến sáng tinh sương, tôi ngồi lên, đọc vài kinh trước giờ thức dậy, Chúa mới ban ơn cho tôi quyết định dứt khoát đưa mấy viên thuốc cuối cùng cho bệnh nhân. Lạy Chúa! Tạ ơn Chúa đã cứu con thoát cơn thử thách, chứ cái đêm hôm ấy, trước khi Chúa ban ơn thêm sức cho con để quyết định “rời bỏ” mấy viên thuốc ấy, mà bệnh nhân có mệnh hệ nào thì ngày sau con sẽ thưa với Chúa làm sao? Đó là tôi chưa nói rõ chi tiết này: bệnh nhân ấy là một thanh niên, đã cư xử rất tốt trong những ngày tháng trước đó! Đấy, những bài học tương tự như vậy xảy ra rất nhiều trong thời gian 16 tháng học tập! Tôi nghĩ có giáo sư nào, Đại học nào dạy được những bài học vô giá như thế! Mấy chục năm đèn sách, cả chục vị giáo sư của Đại học Sorbonne, cả hàng thư viện sách báo, cũng không dạy giỏi được như vậy! Trước kia giúp đỡ kẻ khác quá dễ: lượng tiền sẵn, không có thì mượn người khác cũng dễ. Vả lại, mình cũng vẫn có cơm ăn áo mặc no nê sang trọng, có chết chóc gì đâu mà sợ! Bị dồn vào cái thế kẹt như trên đây mới rõ. Còn những bài học nho nhỏ như hậm hực chỉ vì cơm thì ít mà anh em ăn quá nhanh, mình lại ăn quá chậm; lẩn tránh một số công việc, thậm chí ganh tị với anh em (hầu hết đáng tuổi con cháu), ấm ức trong lòng vì những điều vụn vặt vv… thì xảy ra hằng ngày!!! Tôi rời khỏi trại học tập với bài học quý giá vô cùng là: mình chỉ là một đứa tồi, rất tồi, nếu không có Chúa nâng đỡ ban ơn thêm sức cho thì cái khả năng “bán Chúa” như Yu-đa không phải là không có cơ xảy ra! Lời Chúa dạy: “Hãy tỉnh thức cầu nguyện, vì tinh thần thì tinh nhuệ, nhưng thể xác thì yếu hèn”, tôi nghe đã biết mấy trăm lần! Chỉ trong 16 tháng học tập cải tạo tôi mới có dịp thực tập. Quả là ĐẠI HỒNG PHÚC! Không có những biến cố '75 - 76, tôi làm sao ghi được những dòng trên đây, mà tôi cho là bài luận triết học hay nhất của cậu tú tài triết đậu hạng bình ở Huế năm ‘46 và của ông giáo sư Trưởng ban Triết viện Đại học Công giáo Dalat 1974. Xuyên qua bài học ấy là bài học này: dưới cái nhìn đức tin thì trong tình thương và sự khôn ngoan vô cùng của Thiên Chúa, những sự việc bên ngoài xem ra là khốn khổ, thực ra lại chứa đựng một phúc lớn (Phúc theo Tám mối phúc thật). Vì thế, đức tin và đức cậy phải luôn luôn được trau dồi, vun quén để thấy được rằng MỌI SỰ ĐỀU LÀ ÂN SỦNG! Mà Ân sủng thường chảy ra từ cây Thánh giá (thực ra là cây khổ giá, cây thập ác!) cho nên, trước khi kể lại giai đoạn này, tôi đã ghi rõ: AVE CRUX SPES UNICA! Việc hỏng thi vào trường Quốc Học năm ‘38, suy sụp về địa vị năm ’45-46, học lập cải tạo năm ’75-76 đã giúp Chân lý ấy được kiểm chứng rõ ràng! cho thấy mầu nhiệm Tử nạn - Phục sinh quả là điều hiển nhiên! Đức tin tôi nhờ đó càng thêm xác định kiên cố hơn nhiều. Có thể nói năm 75-76 là thời gian tôi được ơn trở lại lần thứ hai (deuxième conversion)! Ngày 25- 8-l976, lúc ra khỏi trại, trở về gian phòng của tôi tại nhà Hòa Lạc, mở cửa phòng ra, trên bàn còn y nguyên tờ lịch của tháng 4-1975, tôi quỳ gối lấy cây viết chì đỏ khoanh ngày 24-4-1975, ghi trên lề câu sau đây; “Con sẽ muôn đời tạ ơn Chúa vì ngày Đại Hồng Phúc này!” Đó là ngày Chúa đưa tôi vào cuộc trở lại thứ hai, đưa đời tôi lúc 50 tuổi bước sang một giai đoạn mới hoàn toàn. Nhưng thực ra, như trên kia đã nói, xét về mặt nào đó thì tôi như thể đã vượt qua một giấc mơ dài (51-75) để tiếp nối những năm ân sủng 49–50, đem lại một sự cải lão hoàn đồng về mọi mặt. Có lẽ vì vậy mà mà hiện nay rất nhiều người nhận xét rằng nơi con người 61 tuổi này dường như có cái gì rất trẻ. Và đến nay có thể xem như là chặng cuối của cuộc đời tôi! Vừa là cuối vừa là mới, mà mỗi ngày mỗi mới. Vì mỗi ngày phải lột xác, mà lần lột xác cuối cùng vào lúc được gọi là “sinh thì”, sẽ đưa cuộc sống mới hoàn toàn mới, tái sinh hẳn trong mầu nhiệm phục Sinh.
Và tiếp theo sau đây, tôi xin ghi lại cuốn phim của những ngày chuyển tiếp giữa cái cũ trước năm 75 và cái mới sau ngày tôi ở trại học tập Sông Mao trở về Đà Lạt.

18. XEM LẠI MỘT KHÚC PHIM
Sau khi Buôn Mê Thuột giải phóng, cùng với toàn miền Nam, Đà Lạt đi vào một giai đoạn sôi động, càng ngày càng gia tăng theo nhịp độ của cuộc giải phóng: Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn… Lúc đó, hầu hết những ai có hiểu biết đều nhận thấy rằng: chế độ cũ của miền Nam đã cáo chung, cuối cùng thì toàn cõi Việt Nam sẽ thuộc về phía Xã hội chủ nghĩa. Những điều đó xảy ra như thế nào? Đột biến, với nhiều đổ vỡ thiệt hại cho cả nhiều bên; hay từ từ từng bước, hiểu theo nghĩa thời gian tính, cũng như theo địa bàn, trong sự chuyển tiếp giữa hai chế độ? Riêng tôi thì nghĩ rằng có thể sẽ theo dạng từ từ chuyển và như vậy có cái hay là tránh được những giá đắt thường phải trả trong những ngày thay đổi đột biến về chính thể, chế độ. Nhưng tôi nghĩ dù, có từ từ đi nữa thì cũng chỉ độ 5 năm là toàn thể sẽ thuộc về Xã hội chủ nghĩa. Do đó, những ai quả thật không chấp nhận chủ nghĩa xã hội thì chỉ có con đường bỏ đất nước đi ra ngoại quốc chứ ở Việt Nam thì chạy đâu? Chậm lắm là 5 năm, cuối cùng rồi thì cũng sẽ thuộc về Xã hội chủ nghĩa! Như trên đã nói nhiều lần: riêng tôi thì hoàn toàn không bao giờ chống đối, hay chạy trốn khỏi xã hội chủ nghĩa, và cũng không bao giờ muốn bỏ đất nước Việt Nam mà đi nước khác. Do đó, tôi quyết định ở lại Đà Lạt, dù có gì xảy ra. Vả chăng, trừ 2 năm bị cưỡng bách đi lính ngụy, tôi bao giờ cũng tự coi như vị trí chính của mình là trong Hội Thánh Việt Nam, mà Hội Thánh Việt Nam từ Bắc chí Nam chỉ có một. Cho nên ví dụ có tạm thời chia cách một lần nữa, thì Đà lạt hợp với số các giáo phận thuộc chế độ miền Bắc làm thành một phần đông hơn, lớn hơn phần các giáo phận tạm thời miền Nam.
Ở lại Đà lạt tôi có ý: một là sớm được cùng gia đình đoàn tụ, hai là nếu Viện Đại học Đà Lạt vẫn được chế độ mới chấp thuận để cho Giáo hội quản lý, thì tôi vẫn tiếp tục phục vụ tại viện Đại học; nếu như chế độ mới không cho phép viện Đại học Đà lạt được tiếp tục dưới sự quản lý của Giáo Hội, thì có thể tôi vẫn được lưu dụng, còn nếu không được lưu dụng thì tôi sẽ đề nghị Toà Giám mục Đà Lạt sử dụng tôi làm việc gì cũng được. Vì vậy, trong ban giáo sư thuộc viện Đại học Đà Lạt cũ, tôi là giáo sư duy nhất (cùng với một phụ khảo duy nhất có gia đình tại Đà Lạt) ở lại, không di tản về Sài Gòn. Sau khi toàn bộ Ban giám hiệu rời Đà Lạt, tôi được Đức Giám mục chỉ định ở lại viện như thành phần của Ban giám hiệu, bảo quản cơ sở vật chất, cùng với toàn bộ anh em công nhân lao động chân tay đều ở lại cả.
Từ đêm 30-3-1975 chính quyền cũ rút khỏi Đà Lạt, cho đến ngày tôi bị đưa vào trung tâm thẩm vấn Đà Lạt (24-4-75), mọi sinh hoạt đều bình thường, tôi có trình diện tại Ủy ban Quân quản, vị đại diện cho biết rằng: tại Đà lạt, thành phần giáo sư Đại học chỉ có một mình tôi, nên tôi hãy chờ đợi có chính sách chung. Và sau khi một số anh em giáo sư di tản xuống Phan Rang vài ngày, tui trở về Đà Lạt, tôi có cử người tiếp xúc với bộ phận đặc trách văn hóa giáo dục của Cách mạng thì cũng được trả lời như vậy. Và điều sau đây là cái sai lầm lớn (đúng hơn là cái khờ dại của tôi) trong những ngày ấy: đó là tham gia vào việc thành lập Hội Liên Tôn ở Đà Lạt!!!
Nay tôi cũng không nhớ rõ, trước hoặc sau khi Ủy ban Quân quản ra mắt đồng bào một hôm, tức là ngày 2 hoặc 4 tháng 4 (hình như trước một hôm, tức là ngày mùng 2 tháng 4 thì có lẽ đúng hơn), trong túc tôi đứng trước rạp chiếu bóng Hòa Bình (nay là rạp 3/4) một nhà sư áo vàng thuộc hệ khất sĩ, còn trẻ tuổi (khoảng trên dưới 30) đến chào tôi và tự xưng là “đại diện” của Phật giáo nhờ tôi giới thiệu với Tòa Giám mục Đà Lạt, bàn về việc tổ chức thành lập một tổ chức gồm đại diện các tôn giáo để thực hiện hai mục đích:

1. Là tạo sự đoàn kết, hài hòa giữa các thành phần nhân dân, tránh những xô xát tranh chấp do sự chưa ổn định thời cuộc (túc ấy Sài Gòn chưa giải phóng).

2. Là giải quyết vấn đề ổn định những xáo trộn xã hội: cướp phá, thiếu lương thực, thực phẩm, các gia đình ly tán neo đơn. Tôi thấy hai mục đích ấy không có tính cách chính trị mà chỉ là vấn đề nhân đạo xã hội phù hợp với tinh thần nhân ái của các tôn giáo, nên tôi đã dẫn vị sư này đến Tòa Giám mục, Đức Giám mục vui vẻ nhận lời, và chỉ định một linh mục đại diện, còn tôi đại diện giáo dân đến dự cuộc họp thành lập hội liên tôn nói trên lại chùa Linh Sơn. Sở dĩ như vậy là vì từ năm 1963, hầu hết giới Công giáo đều nghĩ rằng: giữa Phật giáo và Cách mạng có một sự thỏa thuận, cho nên những gì do Phật giáo đề xướng hẳn là đều có sự chỉ đạo hoặc đồng ý của Cách mạng! Hội liên tôn ấy hoạt động không đầy 10 ngày thì tan rã, sau khi nhiều lần xin Ủy ban Quân quản cho yết kiến để lãnh ý mà không được! Thế nhưng có ai ngờ, hình như vì việc thành lập hội Liên tôn ấy mà phần nào tôi trở nên đối tượng của sự ngộ nhận khá nặng nề! Thậm chí có người cho rằng: đó là lý do làm cho tôi bị đưa đi học tập cải tạo. Riêng tôi, tôi không nghĩ như vậy, vì tôi nghĩ rằng Cách mạng đủ sáng suốt để thấy hội liên tôn túc ấy thực chất chẳng có gì là phản cách mạng cả. Hình như đương sự (tức là vị sư khất sĩ áo vàng nói ở trên đây) chỉ có ý đồ là nấp mình ở dưới Hội liên tôn, không phải để chống đối Cách mạng mà chỉ là để né tránh sự xử lý của Cách mạng đối với một số sai lầm của đương sự trong chế độ cũ (mà có lẽ đương sự là một tuyên úy Phật giáo của quân đội chế độ cũ, nay muốn nhờ Liên tôn mà xóa nhòa cái vết tích ấy, sự việc có lẽ chỉ có vậy). Còn việc tôi bị đưa đi học tập cải tạo xảy ra như sau: theo chính sách của Cách mạng thì những ai ra khỏi hàng ngũ ngụy quân ngụy quyền trước hiệp định Paris, thì xem như không có vướng mắc gì cả; mà tôi thì giải ngũ năm 1956, từ đó tôi chỉ sống hoàn toàn trong khuôn khổ Hội Thánh, không dính líu một tổ chức hoạt động chính trị nào cả! Hơn nữa, dưới cái nhìn của một số anh em sinh viên và giáo chức tại Đà Lạt có ít nhiều tương quan với cá nhân tôi, tôi được xem như là thành phần tốt (hay ít nhất là vô can, vô sự; chỉ là một tu sĩ hụt, một trí thức trùm chăn!) Hơn nữa, nếu vì lý do chính trị mà tôi bị đưa đi học tập cải tạo, thì đáng lẽ phải đưa đi học tập tại các trung tâm dành cho những thành phần ấy! Đàng này tôi đi học tập với tư cách là sĩ quan ngụy (mặc dù đã giải ngũ năm 1956) và như vậy là không đúng chính sách. Đến nay tôi cũng chưa rõ tại sao lại xảy ra sự việc như vậy! Lầm lẫn chăng? Nhưng thôi, chuyện đã qua rồi, hậu quả chẳng có gì trầm trọng lắm! Trái lại chỉ có lợi cho tôi về nhiều mặt như tôi đã trình bày trên kia, và tôi cũng xác nhận rằng: chế độ của trại học tập của Tổng trại 8 do Quân khu 5 quản lý tại Sông Mao là rất tốt, hầu hết anh em học tập ở đó ra đều giữ một kỷ niệm tốt về thời gian học tập nhất là đối với số cán bộ thuộc thành phần bộ đội: cởi mở, chân thành đúng với truyền thống chân chính của danh hiệu “Bộ Đội Cụ Hồ”

Sau ngày tôi trở về viện Đại học Đà Lạt, tôi tiếp tục cư trú tại trường Đại học (bấy giờ do một ban quản lý gồm đại diện của Nhà nước và đại diện của Giáo hội quản lý, nghiên cứu thể thức chuyển giao cho Nhà nước) trong quy ước giữa hai bên thì tất cả mọi giáo viên, nhân viên cũ của Đại học, nếu còn ở lại thì được Nhà nước lưu dụng, ngày 3-4-1975 tôi là giáo sư duy nhất ở lại. Thế nhưng, trong danh sách những người ở lại (lập trong thời gian tôi đi học tập vắng mặt, tôi bị lọt sổ hay bị gạch sổ) nên khi Đại học Đà Lạt hoạt động lại dưới sự quản lý của Nhà nước, tôi không được lưu dụng. Tôi bắt đầu tự mưu sinh bằng cách làm vườn trồng rau, đây là một kinh nghiệm quý và là một vinh dự lớn: tôi làm được ba vụ rau bắp cải, bán cho hợp tác xã phường 4 Đà Lạt! Đối với tôi đó là một thành tích lớn lao, và như vậy thì tôi cũng phần nào lấy làm thỏa mãn vui vẻ. Một số bạn bè thấy vậy thì thương hại cho tôi. Riêng tôi, tôi rất sung sướng được sống cái kinh nghiệm lao động vất vả và khá túng thiếu về vật chất để hiểu rằng sống mối phúc thứ nhất không phải là dễ!
Nhân dịp này tôi cũng xin ghi lên đây lời thành tâm tri ân đối với một số anh chị em đã có lòng thương giúp đỡ tôi về mọi mặt, trong thời gian tôi lưu trú tại Đại học Đà Lạt; giúp đỡ lao động sản xuất, chia sẻ lương thực thực phẩm, áo quần và tiền nong - quả là bát cơm phiếu mẫu đáng giá nghìn vàng! Điều quý hóa là phần đông các ân nhân ấy là những người đôi khi không có liên lạc gì với tôi trước, nay biết tôi ở vào hoàn cảnh khó khăn thì giúp đỡ vì lòng từ thiện, ngoài ra tôi cũng như bất cứ người nào đi học tập về đều gặp nhiều khó khăn đôi khi khá căng thẳng về mọi mặt. Cũng chẳng kể chi tiết làm gì, chỉ biết rằng, với lòng trông cậy, với sự cầu nguyện, rồi cuối cùng Thiên Chúa cũng dắt dìu qua bước cam go để mọi việc đều “tốt đời, đẹp đạo”, không có gì phạm đến công bằng bác ái, không có gì thiệt hại đến cho bản thân mà vẫn giữ được nhân bản con người trước những tình huống éo le đầy thử thách cạm bẫy, mà trí khôn và dũng khí tự nhiên của con người tự nhiên khó lòng vượt qua nếu không có ơn Chúa phù hộ cứu giúp; đây cũng là bài học vô cùng thấm thía về sự mỏng dòn của mình, đồng thời về sự phù trợ của Thiên Chúa, để trau dồi vun quén hơn về đức cậy trong những bước đường đời khi gặp sự bế tắc về mặt tự nhiên. Tôi đã được ơn nghiệm cảm chân lý này là “les heures les plus désespérées sont les heures de Dieu” (những giây phút tuyệt vọng nhất chính là giờ của Thiên Chúa ra tay). Mong sao tất cả mọi người được vững lòng TRÔNG CẬY, đừng bao giờ sờn lòng nản chí, mặc dù có phải trải qua những bước cực kỳ nguy khốn về mọi mặt, ngay cả trường hợp có nguy cơ bị đẩy vào con đường phản bội với Chúa. Hãy vững lòng kêu cầu đến Chúa, Chúa sẽ ra tay cứu vớt, dù đôi khi chỉ vào phút chót, tưởng như trên bờ vực thẳm không đáy.
Trên đây tôi có nói rằng cuộc đời tôi từ tháng 5 -75 dường như được tỉnh thức qua một cơn mê dài (51-75) lạc bước miền Nam, và như được trực tiếp nối lại những năm 49-51. Nói như vậy không phải là từ 51-75 cuộc sống tôi là một con số không, và tôi chẳng có ân tình nợ nghĩa gì với miền Nam cả! Trước hết, tại miền Nam, tôi được sống an vui trong cái tổ ấm dòng Phanxicô tại Nha trang từ 51-54 giữa một cảnh trí thiên nhiên êm đềm; ven đồi, trên bãi biển nhìn ra Hòn Chồng vốn là một thắng cảnh, rồi tôi được đi Pháp, Bỉ, Thụy Sỹ, được dự các giáo trình triết học, dưới mái trường Đại học Sorbonne (giấc mơ của bất cứ cậu tú, cô tú triết học nào) và ngay cả những ngày tháng bi đát, nhất là hai năm tòng quân và 16 tháng cải tạo, tôi vẫn được sống tình người, tình bạn, tình thầy trò, tình anh em, rất nhiều người thương mến. Tôi đã ăn cá rô Long Xuyên, cua Vũng Tàu, nhìn nước biển vịnh Thái Lan từ bờ biển Rạch Giá, được ăn mận Mỹ Tho, dứa Tân An, rùa và rắn Cần Thơ… Sản phẩm miền Nam đã biến thành cơ thể tôi: từ rau Đà Lạt đến cá Nha Trang, chôm chôm Long Khánh, tôm Rạch Giá vv… Nhưng sở dĩ tôi nói: “Lạc bước miền Nam” là để tôi nói vào Nam không có thái độ di cư trốn khỏi miền Bắc, và cho đến bao giờ đất nước còn chia đôi thì lòng tôi vẫn còn hoài Bắc, là còn thấy như lạc lõng tại miền Nam. Nhưng khi đất nước đã thống nhất, Nam Bắc đã là một, thì lòng hoài bão cũng giảm nhẹ, tôi không còn thấy lạc lõng tại miền Nam nữa. “Lạc bước vào Nam”, là để nói hoặc chỉ là một cách nói để diễn tả nỗi đau khổ của một người dân trong cảnh đất nước bị chia đôi mà thôi. Cho nên, mặc dù hiện nay đôi khi còn ít nhiều nhớ về quê cũ ở đất Hồng Lam, đương nhiên là thế nhưng khi nhận được quyết định hưu trí, tôi đã chọn Đà Lạt làm nơi cư trú cuối cùng trên chặng đường đi về QUÊ THẬT muôn đời. Chẳng những vậy, tôi còn khuyên anh em bà con, bạn bè tôi ở Bắc nên chuyển vào Nam sinh sống, vì miền Nam vẫn là đất nước Việt Nam, và so với miền Bắc thì đất đai miền Nam còn thưa người, cần Nam tiến khẩn hoang để giải quyết vấn đề nhân mãn ở các đồng bằng miền Bắc. Tôi rất đồng ý về việc gần đây hình như không còn dùng từ miền Nam, miền Bắc nữa, mà dùng từ phía Bắc, phía Nam, bắc - nam chỉ là hai phía, chứ không phải là hai miền tách rời.
Nhân tiện cũng xin có ít nhiều suy nghĩ về Đại học Đà Lạt, nơi tôi đã sống và làm việc 9 năm trời với rất nhiều kỷ niệm tốt đẹp. Như tôi đã nói qua từ khi thành lập 1959 - 1965, viện Đại học Đà lạt như thế nào, tôi không rõ; còn từ năm 1966 là năm đầu tiên tôi làm việc tại đó cho đến năm 1975, tôi thấy như sau:
Ý đồ cao nhất của việc thành lập viện Đại học Đà lạt, cũng như bất cứ sinh hoạt nào của Hội Thánh đều nằm trong sứ mạng của Chúa Giêsu đã giao cho Hội Thánh phải làm tròn với bất cứ giá nào: đó là “truyền giáo”, tức là loan tin vui cứu độ cho mọi loài thụ tạo, cho đến tận cùng trái đất, cho đến tận cùng thời gian. Truyền giáo là một yếu tố căn bản của Kitô giáo, là bổn phận của Kitô hữu. Theo Chúa Giêsu không phải là thoát trần cho nhẹ gót tiên thiên, nhưng là được chọn và được sai đi làm chứng cho Ngài. Không có thao thức, không có sinh hoạt truyền giáo thì không còn là Kitô hữu nữa. Theo Chúa Giêsu không phải là thoát trần, không phải chỉ là như kẻ lo chạy thoát khỏi trần gian như chạy khỏi ngôi nhà cháy để cứu lấy mạng sống riêng mình, mà là như đội viên cứu hỏa nhào vào đám cháy để dẹp lửa cứu người! Ẩn tu cũng là để cầu nguyện, chiến đấu cùng những lực lượng siêu nhiên ngay trong trận địa chiến căn bản là lòng mình, để phục vụ cho nước Chúa trị đến. Trong túc truyền giáo, Hội Thánh cũng đồng thời Kitô hóa mọi giá trị tốt lành của trần gian; mọi sinh hoạt văn hóa xã hội và kể cả kinh tế chính trị cũng cần được cứu độ, nên Đại học Công giáo cũng nhằm mục đích đem ơn cứu độ cho mọi sinh hoại văn hóa của mọi dân tộc, mọi thời đại, mọi nền văn minh, chứ không nhằm mục đích chính trị nào cả. Đương nhiên là nền văn hóa được giảng dạy trong Đại học Công giáo là không theo (chứ không phải là chống lại) duy vật và vô thần về mặt tư tưởng nhằm tạo điều kiện cho tâm trí con người tiến về chân lý hữu thần là Kitô giáo thâu gồm và bổ khuyết mọi giá trị chân chính của các triết lý khác (ngay cả một thuyết vô thần như Mác-xít, thì ít ra cũng có ba yếu tố được nhìn với thiện cảm:

1. Mọi tài sản ở trần gian đều có mục đích phục vụ cộng đoàn nhân loại, trái với chủ nghĩa duy lợi nhuận cá nhân của chủ trương tự do kinh doanh quá trớn.

2. Giá trị kinh tế cũng như tinh thần và đạo đức của người lao động, và tôn trọng lao động chân tay; Thánh Phụ Giuse, Chúa Giêsu, các Thánh tông đồ hầu hết là thành phần lao động chân tay.

3. Công bằng xã hội trong việc phân phối sản phẩm của lao động… Thậm chí cả yếu tố duy vật và vô thần cũng được xem như có phần tác dụng tích cực nào đó; giúp người tín hữu lưu tâm hơn đến khía cạnh mầu nhiệm “Thiên Chúa mang lấy xác phàm” khỏi bị lạc vào cái sai lầm duy tâm (idéalisme); tinh tuyền quan niệm về Thiên Chúa, thoát khỏi sa lầy vào một sự mê tín dị đoan ngấm ngầm vô thức nào đó, có nguy cơ tha hóa con người, vốn được Thiên Chúa ban cho có lý trí và tự do làm chủ đời mình, xã hội và thiên nhiên.

Ý đồ là thế, còn việc có bị ai lợi dụng không? Cái đó là đương nhiên; chính quyền nào lại không lợi dụng tất cả để phục vụ cho họ! Cái đáng nói là Hội Thánh và cá nhân những người thừa hành có hữu ý phục vụ cho một ý đồ chính trị không (và như thế là xấu, là đáng trách), hoặc có vô tình để cho người ta lợi dụng không (và như thế là khờ dại) cái đó thì không thể vơ đũa cả nắm. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng Hội Thánh không chủ trương dùng Đại học Đà Lạt để phục vụ chính trị cho chế độ nào cả! Còn phần cá nhân các linh mục, các thành viên trong giáo ban thì đó là chuyện riêng tư cá nhân họ, tôi không biết thâm tâm họ ra sao, nhưng tôi không thấy ai đã làm công việc cụ thể nào phục vụ cho mục tiêu chính trị nào cả! Mà tôi, riêng bản thân tôi, tôi xác định rằng tôi không phục vụ cho mục tiêu chính trị nào cả, mà tôi cũng đã cố gắng hết sức nếu có thể, không để cho ai lợi dụng mình phục vụ cho một mục tiêu chính trị nào cả, còn hỏi tôi rằng có đủ khôn ngoan già dặn để đối phó, thoát khỏi mưu mô của những tay cáo già chính trị hay không? Thì tôi xin hỏi lại, có ai dám quả quyết mình tài giỏi như vậy, để tôi xin cắp sách đến học. Tôi chỉ có thể nói rằng tôi không thấy có việc cụ thể nào (nhằm mục đích ấy) tôi làm để phục vụ cho một mục tiêu chính trị. Có chăng là một vài việc trong đó tôi bị phê bình là: “Có lợi cho Cộng sản”, ví dụ quá tích cực trong việc xin miễn dịch, hoãn dịch cho sinh viên hoặc để cho các sinh viên tá túc qua đêm trong phòng tôi (dù họ đến gõ cửa túc đêm khuya) không cần biết họ có phải là việt cộng nằm vùng hay không, mà chỉ biết họ là người quen lỡ đường, thì theo lời Chúa dạy mình phải đón tiếp họ như chính Chúa vậy, người sinh viên ấy có thể là Đại Việt, Cần Lao, là Việt cộng, là thành phần thứ 3 thứ 4 gì đó, tôi không thể biết được và tôi cũng không muốn biết, tôi chỉ biết họ là con người gặp khó khăn chờ tôi giúp đỡ, thế thôi! Tôi không kể công với ai, mà tôi nghĩ tôi cũng chẳng có tội với ai về mặt chính trị vì tôi là một con người vốn phi chính trị từ trong bản chất và dù chỉ là một giáo dân thường, tôi phát nguyện trọn đời phục vụ Thiên Chúa, và với cương vị giáo sư một trường Đại học Công giáo, tôi là cán bộ văn hóa làm việc dưới sự quản lý của Hội Thánh Công giáo Việt Nam, để chống trả ba kẻ thù của Chúa Giêsu - Đó là: dốt nát, đau khổ và tội lỗi. Trước hết là nơi chính bản thân tôi, sau nữa là nơi những anh chị em mà Chúa để cho tôi gặp gỡ trên mỗi nẻo đường không phân biệt ai, không hỏi căn cước lý lịch ai, vì ai cũng là thân phận làm người trong một cõi thế gian mà sự dữ đã len vào để quấy phá chương trình của Thiên Chúa dưới mọi hình thức, ở khắp mọi nơi; ngay cả trong lòng Hội Thánh và trong lòng tôi nữa. Và vì thế tất cả đều cần được ơn cứu độ của Thiên Chúa. Do đó, khi ý Chúa nhiệm mầu đưa viện Đại học đến chỗ ngưng sinh hoạt, tôi vui vẻ nhẹ nhàng theo ý Chúa đi đến những nơi khác, làm những việc khác (ví dụ, gánh phân bón ruộng) với tất cả lòng tin cậy mến bình an vui vẻ, cố gắng thương yêu mọi người trong tình yêu Chúa. Cố nhiên đó là cố gắng tối đa, còn đạt được bao nhiêu là việc Chúa thẩm phán, tôi không tự đánh giá mình và cũng chẳng quan tâm đến lời thiên hạ (dù là ai) thị phi khen chê cả! Chỉ sợ mình vô ý làm buồn lòng anh chị em mà thôi.
Tôi cũng xin trở lại thời kỳ ở Âu Châu mà trên kia tôi trình bày dưới nhãn quan của một người tuy ở vào hoàn cảnh du học sinh, nhưng mục đích chính là tìm một phương hướng tu trì chứ không phải là du học! Trình bày như trên - không phải tôi phủ nhận hoàn toàn cái văn minh Âu Tây, tôi chỉ nhắm vạch rõ sự không phù hợp giữa tâm hồn tôi với một khía cạnh duy khoa học kỹ thuật quá mức của nó. Tuy nhiên cũng nên nói rõ rằng điều mà tôi học được ở Âu Tây không phải là học trong Đại học Sorbonne (ngoại trừ cái cung cách làm con người trí thức của các giáo sư) mà là trong túc tiếp xúc với những con người cụ thể trong sự tương giao hàng ngày, nhất là qua cách sống đạo của một số tín hữu Âu Tây; có những bà bồi phòng, có những anh làm công nhân, có những bạn sinh viên không chuyên thần học đã cho tôi thấy Kitô giáo quả là một niềm tin sống động (foi vécue), chứ không phải chỉ là một tôn giáo (religion), một hệ thống tư tưởng hay một nền tuân lý mà thôi. Hình như người Công giáo Việt Nam chỉ mới có lòng sùng đạo (religieux, pieux), có thể là quảng đại, sẵn sàng hy sinh tài sản, thì giờ, sức lực, nhưng mới chỉ là giữ đạo chứ chưa thể hiện đạo, nghĩa là chỉ đặt nặng về phụng tự (culte) và tuân lý giữ tuật chứ ít thấy có một đời sống nội tâm thiêng liêng sâu sắc (vie intérieure, spirituelle profonde), thậm chí ngay trong các tu viện cũng vậy. Ví dụ, dù nơi một nữ giáo viên Việt Nam có bằng tấn sĩ văn chương đi nữa cũng khó lòng tìm thấy một đời sống bên trong như nữ thi sĩ Marie Noel.
Tôi có quen một quả phụ sống hoàn toàn một mình; chồng bà bị tử nạn, và người con trai độc nhất thì hy sinh trong kháng chiến chống Phát xít Đức; bà sống hằng ngày bằng nghề may vá thuê, thêu thùa, tuổi đã ngoài 60, trình độ học vấn chưa hết tiểu học nên ít đọc sách thiêng liêng, nhưng đời sống phong phú, nội tâm bà rất sâu xa phong phú. Chúa Giêsu không chỉ ở trong nhà thờ hoặc ở trên trời, mà gần như trong bầu không khí mà trong ấy bà sống, là nguồn mạch lưu thông trong từng tế bào của con người bà, như người bạn liên lỷ đồng hành với bà, khi bà may vá thêu thùa cũng như khi bà đi mua thực phẩm, khi rót rượu pha trà, dọn bánh mời khách tới thăm. Đối với bà, Chúa Giêsu không phải là một phạm trù “đạo đức” kiểu sùng mộ (piété) mà là một thực tại gần như tự nhiên thấm nhuần toàn bộ cuộc sống, ăn sâu vào con người toàn bộ một cách nhuần nhuyễn, gần như một bản năng tự nhiên; có thể nói đời sống biến thành Kitô tính, chứ không phải là Kitô giáo. Nơi phần đông Kitô hữu Việt Nam, kể cả nơi các linh mục và tu sĩ, Kitô giáo vẫn còn như cái gì khoác ở ngoài vào, thậm chí khiến người ta có cảm tưởng nó đè lên con người tự nhiên; còn nơi bà cụ ấy nó gần như một sự sống hồn nhiên như mạch suối phát chảy tự đáy sâu bên trong tỏa ra bên ngoài không có phân biệt cái gì là tự nhiên, cái gì là siêu nhiên ở nơi cụ, vì siêu nhiên được sống một cách gần như tự nhiên, rất êm ả, nhẹ nhàng, vui tươi, hồn nhiên; đời sống theo tinh thần Chúa Kitô như là tự phát chứ không có gì như phải gò ép, gắng gỏi, khắc khổ mới được. Mà những người tín hữu như vậy khá nhiều, xin dùng một hình ảnh hơi quá mức một tí, tín hữu Việt Nam đôi khi như cá ướp muối, tốt đấy nhưng đôi khi có cái gì cứng cỏi, nặng nề, hơi gò bó trong khuôn khổ của tôn giáo, còn số tín hữu Âu Tây nói trên như cá bơi lội trong nước của niềm tin. Đó là bài học quý giá nhất của tôi trong 9 năm trôi dạt ở Âu Tây. Tín hữu Việt Nam hình như chỉ mới ở mức độ sùng mộ (pieux) đạo đức (honnêteté morale) sốt sắng (ferveur religieuse). Phải chăng về mặt này anh em bên Tin Lành khá hơn? và một số tín đồ Phật giáo, cũng như các nhà nho xưa có lẽ cũng khá hơn? Nói tóm lại, chiều sâu người tín hữu Việt Nam còn chưa đạt đến; phải chăng từ nay đó là hướng cần phải lưu tâm hơn trong mục vụ?
Còn về đời sống xã hội tôi thấy có hai ưu điểm:
1. Tôn trọng tự do cá nhân, ít muốn mọi người rập khuôn, chấp nhận sự bất đồng ý kiến một cách dễ dàng, dù có biện tuận nhưng cũng ít gay gắt như muốn thắng cho kỳ được để áp đặt ý mình lên kẻ khác.

2. Con người được luật lệ rõ ràng bảo vệ; quyền tư pháp khá tự lập cho nên nhiều vụ án cá nhân và cơ quan nhà nước, phía được kiện lại là tư nhân! Sau nữa, ít có chuyện hách dịch cửa quyền (cửa quyền hiểu theo nghĩa rộng. Ví dụ, cô bán hàng sén trong một dịp hàng hóa thì ít, người mua thì nhiều, vẫn cứ vui vẻ khiêm tốn, chứ không hách dịch, lên mặt trịch thượng với khách hàng) và ngược lại, người ở thế hạ phong cũng ít quị lụy tuồn cúi; bình đẳng dân chủ quả là có thấm nhuần phong tục tập quán của xã hội (đương nhiên đôi khi lại đi quá trớn, rơi vào cá nhân chủ nghĩa, và vô chính phủ – anarchie). Dầu sao, đối với một người vốn sống ở một nền văn hóa xã hội phong kiến nông nghiệp mới thoát khỏi chế độ thuộc địa, thì cũng phải thấy đó là một kinh nghiệm có giá trị. Và điểm cuối cùng là: những người cùng hành nghề với nhau vẫn khen phục nhau, công nhận giá trị cao của nhau một cách dễ dàng (phải chăng là họ khiêm nhường hơn ta, ít lòng đố kị hơn ta?) ít chấp vặt, ít thù dai! ! Xin đặt câu hỏi sau đây (hỏi thôi chứ không dám kết tuận): có phải chăng như vậy là nhờ ở chỗ đã thấm nhuần Kitô giáo lâu đời?

19. TỈNH MỘT CƠN MÊ
Trên đây tôi có viết “giấc mơ dài từ 51-75”. Lấy năm 51 vì lý do tôi vào Nam; nhưng thực tế, thì từ năm 51-54, tôi sống trong dòng tu, tách biệt khỏi thế tục, cuộc sống tôi những năm ấy ở Nha Trang chẳng khác gì những năm ở Vinh (có khác là đời sống vật chất, nhất là bữa ăn, có khá hơn một tí; tôi có đèn điện để học bài, đọc kinh; thỉnh thoảng được di chuyển bằng xe có động cơ), cuộc sống thực sự thay đổi là từ ngày tôi bị động viên cưỡng bách tòng quân năm 54, cho đến ngày quân đội chính phủ miền Nam rút khỏi Đà Lạt năm 75; hai mươi mốt năm trời khởi đầu bằng hai sự việc thế trần, có liên hệ với nhau do tình thế của đất nước; sự kiện tôi bị động viên, sự kiện tôi đi học tập cải tạo. Sự kiện tôi bị động viên hoàn toàn trái ngược với ý muốn, trái với bản chất con người tôi, phá ngang cả một hướng đời - Bởi vì, nếu không bị động viên thì cuối năm 54, tôi đã khấn trọn đời trong dòng Phanxicô, tôi sẽ như các anh em cùng vào tập tu với tôi năm 51 ở Vinh, sẽ tuần tự tiến lên và nay mai sẽ nhắm mắt trong bộ áo tu màu nâu của vị Thánh nghèo khó! Đành rằng, năm 56 tôi có trở lại đời tu, rồi đã rời bỏ, năm 63 trở lại một lần nữa rồi lại rời bỏ. Sau cuộc giải phóng năm 75, tôi vừa có lời ướm hỏi, gợi ý xa xôi với Tòa Giám mục Đà Lạt thì bị chận đứng vì học tập cải tạo, một việc cũng hoàn toàn bất ngờ, có cái gì kỳ lạ, mà chưa ai giải thích rõ ràng là vì lý do nào; vì bấy giờ, một là đi học tập vì lý do chính trị, hai là không; chứ đã giải ngũ năm 1956 mà đi học tập với tư cách sĩ quan là sai chính sách!!
Trong lần rời khỏi dòng Phanxicô năm 56 và lần rời khỏi dòng Biển Đức năm 63 là do tôi quyết định, nhưng bị động viên năm 54 và bị đi cải tạo năm 75 là hoàn toàn do sự kiện bên ngoài! Tôi tuôn tự hỏi tôi đã đánh mất ơn kêu gọi hay tôi đã rõ ràng là không có ơn kêu gọi tu trì mà vẫn ngoan cố đeo đuổi, nên không hết lòng dấn thân trọn vẹn trên con đường sinh hoạt văn hóa thế trần (không làm xong luận án triết học, không chịu viết giáo trình, không chịu trước tác???). 21 năm trời dang dở, chẳng làm nên bất cứ công việc nào cả! Hay là? Có một linh mục bạn nói, ơn kêu gọi của cậu là suốt đời dang dở!!! Hoặc như linh mục Nguyễn Bình An nói: “hay là anh sẽ như Benoit joseph Labre”, tu dòng nào cũng không được, cuối cùng lang thang và hành khất???
Hành hương thì quả tôi có viếng: Lộ Đức hai lần, Lidiơ hai lần, vương cung thánh đường Thánh Tâm ở Montmartre và nguyện đường Nữ tử dòng bác ái ở Ruu Du Bac nhiều lần, nhà thờ La Vang một lần, nhà thờ Fatima Bình Triệu, dòng Cát Minh ở thành phố Hồ Chí Minh cũng khá nhiều lần, nguyện đường Đức Mẹ hiển thắng ở Paris hai lần, nguyện đường “Corpus Christi” của nhà mẹ dòng Thánh Thể khá nhiều lần, nguyện đường của nhà mẹ dòng Lazaristes ở Paris vài lần, nhà thờ Đức Bà Chartres ở Pháp hai lần, thánh đường thánh Benoit trên bờ sông Loire một lần.
Còn hành khất thì, từ năm 1975, thực tình cũng có nhiều lần đã đến nhà người quen chờ bữa ăn để được mời ăn, vì đã hết cái ăn ở nhà! Và tuy không trực tiếp ngửa tay xin ai, nhưng nếu không có một số ân nhân thỉnh thoảng bố thí thì có lúc “thật là đói rét”, quần áo tôi mặc hiện nay thực tế cũng hoàn toàn là do của bố thí! Và mặc dầu, hiện nay tôi cố gắng xây dựng vườn cây ao cá, mong tự lực cánh sinh, nhưng có lẽ chỉ được phần nào thôi, chứ rồi cũng một phần nhờ vào khách thập phương. Chính vốn liếng làm được vườn cây ao cá cũng là do ân nhân giúp đỡ! Tuy nhiên, Benoit Joseph Labre là tình nguyện hành khất; còn tôi là bị dồn vào thế kẹt! Vả lại, cũng do mấy năm làm ra tiền không biết dành dụm, vung tay quen thói bốc trời, thậm chí, như tôi đã ghi trên, sau năm 1975 còn mắc nợ kha khá!
Tôi xin đi đến kết tuận; năm 75 tôi như đứa con hoang đàng về nhà cha, sau khi phung phá bao nhiêu của cải mà Chúa đặt vào tay tôi; vật chất có, trí tuệ có, thiêng liêng có, trở về với hai bàn tay không, theo nghĩa đen cũng như nghĩa bóng! Đôi túc tôi tự nghĩ, ví dụ cái đêm 30-3-75 dưới đường mương, một viên đạn lạc xuyên qua ngực, đưa tôi ra khỏi đời này thì tôi sẽ thưa với Chúa làm sao? Và nếu cứ kéo dài cuộc đời nửa nạc nửa mở “hâm hẩm” như trước 75 cho đến mãn đời thì cũng bị Chúa mửa ra mà thôi! Càng ngày tôi càng thấm thía trong câu kinh cảm tạ “Chúa đã cứu tôi khỏi chết tươi ăn năn chẳng kịp”, quả là ơn vô cùng trọng đại! Mỗi lần đọc câu ấy ta nên ngưng lại suy gẫm hồi lâu, để xem ta thoát cái đại họa ấy bao nhiêu lần, một mặt để ý thức thêm về ơn Chúa đã cứu thoát ta trong quá khứ, mặt khác để đề phòng cảnh giác nghiêm túc hơn cho tương lai: một chuyến xe lật, một ngọn gió độc, một cơn dịch tả v.v… đủ đưa ta ra trước mặt Chúa một cách bất ngờ. Chính Chúa đã căn dặn về điều vô cùng quan trọng ấy rất nhiều lần! Xin thú nhận là suốt 21 năm trời, từ 54 đến 75, tôi quả đã quên bẵng đi lời nhắc nhở của Chúa về việc “tuôn tỉnh thức và cầu nguyện”, xin ghi lại bài học ấy để anh chị em độc giả cũng ôn lại kẻo quên, kẻo vô cùng nguy hiểm tai hại!
Có vị linh mục an ủi tôi rằng: “không đâu, có lẽ anh đã đi theo đúng con đường dang dở như Chúa dắt anh đi đó!” Có lẽ là vì thương tôi, vị ấy an ủi tôi để tôi an tâm: “Chứng cớ là anh tuôn tuôn khao khát một đời tu trì chiêm niệm thần hiệp, tại anh không tìm ra đó thôi; và biết đâu Chúa gọi anh theo một kiểu tu trì mới mà anh phải dày công tìm kiếm! Có thể đó là một hình thức tương tự như của Benoit Joseph Labre, nhưng kín đáo âm thầm hơn, một kiểu “ẩn tu” ở giữa đời, “ẩn tu” trong chính lòng mình!”. Lý do ấy, theo tôi nghĩ, không phải là lý do thực sự đã đưa đời tôi chìm nổi dở dang trên 20 năm trời. Tôi nghĩ rằng 20 năm trôi dạt dang dở của tôi, cũng chẳng khác gì 40 năm của Dân chúa sau khi vượt qua Biển Đỏ, còn phải lạc lõng qua sa mạc, mới có thể gột cho thật sạch những gì đã huấn tập lâu đời trong đất Ai Cập! Dưới dạng này dạng kia, chính tôi cũng còn chờn vờn, nghiêng ngửa như dân Do thái: khi thì thờ bò vàng, khi thì đòi trở lại Ai cập, tiếc nuối củ hành củ tỏi, vòi vĩnh chim cút và man-na. Môsê thì nghi ngờ gõ lên tảng đá ở Mê-ri-ba 2 cái thay vì 1 cái như Chúa bảo. Còn tôi cũng đã nhiều lần chần chờ như vậy! Môsê không được vào đất hứa, thì tôi không được dâng mình cho Chúa với lời khấn trọn đời hay với cái bước dấn thân bước qua ngưỡng chức phó tế, âu là “đáng đời”! Và làm sáng tỏ thêm sự “Công chính”, sự “Thánh thiện” của Thiên Chúa không thể thoả hiệp với cái “nửa vời”, với cái “lợn cợn”. Rồi còn từ 1975 cho đến cuối đời, nếu tôi biết bền đỗ với “cuộc trở lại thứ hai” và được Chúa ban cho làm được chút gì phụng sự Chúa và phục vụ anh em, thì đó là Chúa bày tỏ “lòng xót thương vô hạn” của Chúa, và “quyền năng vô cùng” của Chúa. Chúa xót thương nên không chấp 20 năm “lợn cợn” của hồn tôi; Chúa quyền năng nên đã biến đổi một điều lẽ ra đã hoàn toàn hỏng, đáng vất đi, thì lại vẫn sửa chữa lại được, có thể dùng tạm vào một việc gì đó để không đến nỗi hoàn toàn vô dụng. Chúa vẫn cư xử như thế để chúng ta tuôn tuôn cậy trông và phó thác, dù chúng ta có lỡ sa chìm đến mức nào đi nữa, như Thánh Gioan đã dạy: “Nếu lòng ta có lên án ta, thì lòng Chúa còn rộng rãi hơn lòng ta”.
Sau khi đã khẳng định chân lý ấy, tôi xin được phân tích phô bày sự “lợn cợn” của tôi, và dự đoán: phải chăng Chúa đã tỏ quyền năng của Ngài bằng cách biến chính cái “lợn cợn” đáng lẽ phải vứt bỏ đi ấy trở thành có thể hữu dụng chút nào đó chăng?
Tôi nghĩ rằng lý do căn bản sâu xa nhất là ở điểm này: trong hai câu “Ai mệt nhọc hãy đến cùng Ta”, và “Ai theo Ta, hãy vác thập giá mà theo Ta”, hình như tôi chỉ thực sự nghe câu thứ nhất, còn câu thứ hai chẳng khác nào lý thuyết suông thôi! Quả vậy, tôi chỉ chạy đến với Chúa để tìm an ủi (dù là an ủi thiêng liêng, thì cũng chỉ là an ủi cho mình), chứ tôi chưa hề tự nguyện nhỏ một giọt mồ hôi nào vì danh Chúa cả! Các sự đau đớn toàn là do bên ngoài đưa đến chứ không phải là tôi tự đi tới đón gặp chúng, vì để tìm gặp Chúa, hình như Chúa phải dùng đến chúng để hầu như buộc tôi phải “giáp mặt”, “đụng trận” với chúa! Vì nếu không thì tôi cứ mải mê chạy theo, đuổi bắt những hoa những bướm ở dọc đường mà quên đi mục đích thuở ban đầu là gặp Chúa! Nói tóm lại suốt 20 năm, tôi vẫn tìm chính mình tôi (recherche de soi camouflée) dưới dạng này hay dạng khác, dù là đang tìm một đường tu trì, chứ không phải là thực sự tinh tuyền tìm Chúa (recherche de Dieu). Nói cách khác, hồn tôi, lòng tôi còn quá nhiều lợn cợn không thật tinh thuần (pureté de coeur).
Vả chăng, âu đó là quy tuật: từ một thế giới xa lạ bước vào Nước Chúa, làm sao cho hết “lợn cợn” ngay được, nhất là những cái lợn cợn khá tinh vi! Quả vậy, như tôi đã nói ở trên kia: Danh, Lợi, Sắc không mê hoặc được tôi! Nhưng một cái nguy hiểm hơn, cái “tôi” vẫn còn chiếm hữu chính mình tôi. Danh, lợi, sắc chẳng qua là ngoại vật tương đối! Còn chính cái “tôi” mới là vô cùng độc hại, vì nó tuôn tuôn dính liền, bám sát bản nhân mình. Sau đây tôi xin mô tả phân tích cái tôi ấy để anh chị em được thấy phần nào kẻ thù chung của chúng ta. Cái tôi của mỗi người mỗi khác, nhưng giống nhau ở chỗ nó đều là cái tôi “không chịu nhường ngôi cho Thiên Chúa và tha nhân”.
A . Trước hết là trong vấn đề tu trì :
Về mặt tri thức tuận lý, tôi vẫn biết “đi tu” hiểu theo Kitô giáo là đáp lại, chạy theo tiếng gọi Tình yêu Thiên Chúa đến nỗi rứt bỏ mối dây ràng buộc, dính bén, luyến ái. Những điều mà người ta rứt bỏ là những giá trị thật sự (vì mọi thụ tạo tự nó đều là tốt) mà người ta muốn khước từ Tình yêu, để có thể rảnh rang mà yêu thương, như thể làm bằng chứng cho sức mạnh của tình yêu mình dành cho Thiên Chúa, nói cách khác người ta muốn hy sinh những giá trị ấy, dâng nó lên cho Thiên Chúa như những của quý giá làm vật tế lễ, chứ không phải là khinh chê như những vật vô giá trị. Ví dụ, Thánh nữ Têrêxa ở thành A-vi-la rứt bỏ sự trìu mến của gia đình, nhất là “những anh em họ” cùng trang lứa, quấn quít bên mình. Phan-xi-cô Xa-vi-ê rứt bỏ sự nghiệp Đại học Hàn lâm ở Paris. Tê-rê-sa Hài Đồng rứt bỏ tình phụ tử vô cùng khắng khít, sâu đậm đối với thân phụ. Còn phần tôi! Tôi chưa hề cảm nghiệm một sự rứt bỏ nào như thế. Những sự thế gian đã rời khỏi tôi trước khi tôi tìm Chúa! Chẳng hạn:

1. Về gia đình: Thực sự từ năm 46 trở đi, tôi không còn nhận gì từ gia đình và gia đình cũng không còn chờ đợi gì được ở tôi nữa: hoàn cảnh gia đình đã xô tôi ra khỏi gia đình rồi! So sánh trường hợp tôi với trường hợp linh mục Nguyễn Văn Thích (con của cụ Thượng Nguyễn Văn Mại và linh mục Bửu Dưỡng (con cụ Thượng Ưng Trình) thật khác xa! túc hai vị ấy rời bỏ gia đình thì gia đình còn ở bậc quyền quí cao sang! Suy gẫm lại, tôi tìm đến cộng đoàn Công giáo phần nào cũng như con chim khi bị bão tố phá vỡ tổ ấm của tôi (là gia tộc và xóm làng kiểu trước 45) đi tìm một tổ ấm khác còn tồn tại (và tôi biết sẽ còn tồn tại mãi trong cơn bão táp!)

2. Về học vấn: đâu có phải tôi rời bỏ một sự nghiệp Đại học đầy hứa hẹn như linh mục Nguyễn Văn Hòa (dòng Đa Minh) để đi tu; trái lại, khi tôi đặt chân đến Sorbonne, tôi đã chán ngay cái học sách vở rồi! Chứ nếu ngay sau khi đậu tú tài mà tôi “chộp” được món quà “Sorbonne” thì chắc gì tôi đã dám hy sinh cái học vị tiến sĩ, thạc sĩ triết học để đi tu? Đàng này, ngược lại có thể là tôi đã không biết “vâng theo ý Chúa” để cố gắng đạt cho xong cái bằng tấn sĩ, thạc sĩ triết; như linh mục Nguyễn Bình An nhấn mạnh khi khuyên tôi ở lại Pháp ghi danh học Đại học (trong khi ở một trường hợp tương tự, thân phụ của thánh nữ Tê-rê-sa Hài đồng đã biết nghe lời cha linh hướng, sống đầy đủ bậc vợ chồng, đem lại cho Hội Thánh một vị đại Thánh và 4 nữ tu thánh thiện!).

3. Về danh lợi: Tôi không rời bỏ địa vị trần gian để theo chúa, bởi vì Cách mạng 45, đảo chính 63 v.v… đã cho tôi thấy mọi sự là hư không, vanitas vanitatis vanilatum rồi! Biết đâu, đáng lẽ ra tôi phải cố gắng nhận lấy một chức vị nào đó dù là ớn ngấy (như Thánh Lu-i IX trên ngai vàng vậy? Thánh Thomas More chẳng là một vị thượng quan đó sao?

4. Về nữ sắc: Truyền thống Nho giáo coi việc lập gia đình là chủ yếu để nối dõi tông đường, cho nên nếu vì xã hội xáo trộn đảo điên mà không chịu lập gia đình thì chỉ là trốn tránh trách nhiệm chứ không phải là hy sinh cao quý gì cả! Sống độc thân có cái khó khăn là phải tự chế, nhưng cũng chỉ là “cho mình” đấy thôi, chẳng phải là “rứt bỏ” luyến ái vì Chúa, vì tha nhân…

Suy cho cùng, trên thực tế, về cảm nghiệm bản thân, tôi đã đi tìm đời tu theo tinh thần “hiền triết”, “đạo gia” ngoại giáo, tìm giải thoát khỏi mọi vấn vương hệ lụy “cho mình”, chứ không có gì là hy sinh làm của lễ tế hiến dâng cho Thiên Chúa để phục vụ cho Hội Thánh và tha nhân cả! Ngày nay, càng suy gẫm tôi cảm nghĩ rằng có lẽ điều Thiên Chúa đòi hỏi nơi tôi là hy sinh chính cái mộng tu trì kiểu ngoại giáo ấy. Chẳng vậy mà tôi hễ cứ nhào vào dòng tu nào là y như bị dội ra! Một số người thấy rõ tâm tư tôi nên gọi tôi là “trích tiên” (moine manqué), có lẽ tôi quá ham, quá mê đời tu kiểu ngoại giáo (thoát tục, tị thế) nên Chúa đã khước từ.
“Phải chăng, đáng lẽ tôi phải biết như thế để bỏ cái ham mê ấy mà cố gắng tạo một sự nghiệp văn hoá thế tục trần gian. Tôi chỉ hỏi thế thôi, chứ với sự giải thể Viện Đại học Công giáo Đà Lạt năm 75 thì cũng chưa rõ ý Chúa mầu nhiệm muốn gì, bởi vì như tôi đã ghi ở trên, kể từ năm 73, tôi đã tìm cách bắt tay vào tuy có hơi muộn nhưng cũng là chưa muộn màng lắm! Dầu sao, đến năm 75, thì lịch sử đã sang trang! Viện Đại học Đà Lạt nay là một trường đại học của một nền giáo dục xây dựng trên nền tảng lý thuyết Mác-Lê, Giáo Hoàng Học viện nay là cư xá của công nhân viên chức thuộc viện Nghiên cứu hạt nhân!
“Mua vui cũng được một vài trống canh”, suy nghĩ, tán gẫu về đời mình, quả là lếu láo! Thái độ phải có là quỳ gối cúi đầu thờ lạy Thiên Chúa mà dâng lên lời của Gióp: “Lạy Chúa, con đã nói vớ vẩn, đáng ra con phải đưa tay và bịt lấy miệng con!” (Góp 40, 4). “Con xin rút lời con lại… Và sấp mình ăn năn trên đống bụi tro” (Giop 42, 6).
B . Thái độ của “con cưng” :
Có câu rằng: “Hãy coi chừng những kẻ được ơn trở lại, họ dễ đi đến chỗ hợm mình!” Tôi nghĩ mình đã rơi vào khuyết điểm trầm trọng ấy. Trước hết là vị trí của gia đình tôi trước 45 khá cao trong xã hội, bản thân tôi cũng được tiếng là học giỏi, hạnh kiểm tốt, lại được ơn tòng giáo trong một hoàn cảnh đặc biệt của vùng khu 4 năm 1948, nên gia đình, Hội Thánh, kể cả dòng Phan-xi-cô, dành cho tôi một sự chiều chuộng, cưng nuông, dần dần tôi rơi vào chỗ hợm mình, tự đặt cho mình như có cái gì đặc biệt, khác người và “hơn người”! Tôi nghĩ rằng mình đã được “chọn” cách riêng thì chắc là sẽ được Chúa đưa đi theo một con đường nên Thánh đặc biệt. Vì thế cho nên, thay vì tuân giữ những gì chung cho tất cả nhà tập và học viện, tôi đã tự ý tò mò tìm đọc riêng rất nhiều sách dẫn đàng thiêng liêng, trong lúc trình độ thiêng liêng còn quá non nớt. Cái mớ kiến thức sơ sài về triết lý đông tây, làm cho tôi lầm tưởng tôi đã đi khá xa trong đời sống nội tâm!
Tôi đã ngấu nghiến đọc Tanquerey, Dom Marmion, Lallement, Gatry, Condren, Gioan Thánh giá, Jacques Ollier, Bérulle. Tôi đã bội thực về mặt này. Tình trạng càng tệ hại hơn nữa vì nó còn thêm phần hổ lốn thập cẩm là những hiểu biết sơ khai của tôi về Nho, Lão, Phật. Tôi đã có những ước mơ thần hiệp quá sớm, quá vội, vượt quá sức mình, chạy theo những điều mình đã tự ngấu nghiến, không có người hướng dẫn. Có thể nói nơi tôi đã xảy ra hiện tượng gần như là “tẩu hoả nhập ma”!
Đây cũng là kinh nghiệm cho những người được Chúa chọn một cách hơi ngoại lệ, ở những bước đầu, dễ phạm vào cái lỗi “chưa đi đã tưởng mình có sức chạy”. Nhất là trên đường thiêng liêng Kitô giáo thì việc đi như thế nào. Đi đến mức nào, là tuỳ ý Chúa ban ơn kêu gọi, chứ không phải do ý muốn riêng, không phải hễ cứ đọc, cứ học cho nhiều rồi luyện tập là thế nào cũng được và muốn vươn lên đến bậc nào cũng được như thể trong các thần hiệp ngoại giáo tự nhiên (mystique naturelle). Sự hợm mình ấy trong bản chất là cả một truyền thống lâu đời của các “Đạo” giải thoát theo trí lự tự nhiên của con người, mà tiêu biểu nhất là dị thuyết “Ngộ đạo” (Gnosticisme) đã từng tác hại trầm trọng ở các thế kỷ đầu của Hội Thánh ở vùng Cận Đông mà một vị tài đức cao thâm như Origène hình như cũng có mắc phải ít nhiều. Thuốc chữa là một sự khiêm nhường thật sự thâm sâu rộng lòng. Và thuốc chữa ấy thường chỉ có Chúa mới đem lại được cho kẻ mắc phải bằng cách cho vấp ngã nặng nề, rơi vào tận đáy vực sâu, để biết thân, biết phận mà kêu lên lời cầu: “Từ đáy vực sâu, tôi kêu lên cùng Chúa”. Ơn ấy Chúa đã ban cho tôi với những sự cố xảy ra trong hai năm 75 và 76. Cho nên tôi gọi đó là sự trở lại thứ hai của tôi (ma 2e conversion). Năm 75 cùng với năm 49 là hai năm “Đại hồng phúc” của đời tôi.
C. Cuối cùng là : Tệ nạn “duy trí” và “duy cảm” đời sống nội tâm ở nơi tôi có một sự thiếu quân bình: Trí năng và cảm năng thì cao và dồi dào, ngược lại, thể chất và ý chí thì yếu nhược. Như trên đã nói, từ trước 45, tôi học giỏi và mê học. Sau năm 49, tôi không mê học về kiến thức thế trần, nhưng mê học về các chủ trương linh đạo, và lại tự học, tôi đọc ngốn ngấu bao nhiêu là sách viết về đời sống thiêng liêng, thuộc về mọi hệ phái, kể cả thần học! Và tôi đã lầm tưởng rằng nắm được lý thuyết là đủ, và kèm theo những cảm xúc thiêng liêng là đạt rồi! Trong 20 năm trời, tôi chỉ sống đời tu về mặt lý trí (intellectuel) và cảm xúc (affectif) nhiều hơn là một cách thiết thực dựa trên nền tảng ý chí.
Xin trưng ra một việc: tôi đọc rất nhiều sách vở, nghiền ngẫm ở trình độ khá cao về lý thuyết, nhưng tôi không mấy thực hành những điều đã học. Nói cho dễ hiểu thì lý thuyết tương đối khá, còn thực hành thì gần như số không! Suốt 20 năm trời, đời sống thiêng liêng của tôi cứ như những trận mưa rào, chẳng giữ được bao nhiêu nước, chẳng được bao nhiêu hoa quả! Hay ví như nồi nước, cứ từng đợt sôi lên sùng sục rồi lại nguội đi, cứ như thế, cho nên chẳng nấu chín được thực phẩm gì cho đúng phẩm chất. Kết quả chỉ là tích lũy được một mớ kiến thức lý thuyết về đời sống tâm lý tôn giáo, như kiểu tác phẩm “cảm thức tôn giáo của nước Pháp” (Le sentiment religieux en France) của Lm. Henri Bremond. Tóm lại, tôi chỉ là kẻ tự học (autodidacte) về môn thần nhiệm học (Théologie mystique), tự học một cách vô kỷ luật, không thầy, không trường, chẳng kiểm tra thi cử gì cả, mà cũng chẳng thực tập thí nghiệm gì cả! Có thể nói là đã rơi vào cái đại hoạ “đa thư loạn tâm”! Cái đà này mà không có những biến cố năm 75–76 chận đứng lại thì chưa biết tuột dốc xuống vực thẳm nào! Có thể tôi sẽ kết thúc như nhân vật “Linh mục Cénabre” trong tác phẩm của văn hào Bernanos: L’imposture và La joie. Lm. Cénabre thì bị té ngã và mất trí khôn sau khi đọc được hai chữ “Lạy Cha”; còn tôi thì, sau khi tỉnh mộng cậu ấm theo kiểu Vương Quan, tỉnh mộng tiến sĩ, thạc sĩ triết học, lại rơi vào một cuộc “mộng du thần hiệp” mà ơn chúa với những biến cố 75-76 đã đánh thức tôi tỉnh dậy.
Một cái tệ hại của xu hướng “thần hiệp tự nhiên” là cái yếu tố săn tìm “cảm thức thần hiệp” để hưởng thụ như một thứ khoái lạc cao thượng tinh vi (sentir l’union divine au plan psychique), thưởng thức sự thần hiệp ở mức độ “tâm thức” và xem đó như là kết quả tất yếu đạt được do kỹ thuật tu tuyện (như kỹ thuật yoga chẳng hạn) chứ không phải là một ân sủng mà Chúa chỉ ban cho ai tùy Thánh Ý Ngài, nhất là Chúa cũng chỉ ban để làm dấu chỉ khuyến khích nâng đỡ lúc cần thiết, cho thêm vững mà bước đi trong bóng tối của đức Tin đức Cậy ở cuộc đời lữ thứ này mà bản chất vẫn còn là xa cách Mặt Chúa: Sự kiện đối diện tỏ tường mà chỉ có thể có được ở đời sau mà thôi. Đáng lẽ ra, đọc Thánh Gioan Thánh giá tôi phải hiểu như thế, nhưng trước 75 tôi chỉ hiểu về mặt trí tuệ lý thuyết chứ thực tế thì tôi vẫn săn tìm cảm thức “thần hiệp” theo kiểu ngộ đạo (gnostique) tự nhiên như vậy. Đó chính là điều làm cho tôi không được sự ổn định bằng yên trong đời sống nguyện gẫm suốt 20 năm trời không chuyên nhất; tiếp tục một giai đoạn săn tìm cảm thức không đạt, chán rồi bỏ cuộc; bỏ cuộc một thời gian, thấy tiếc nhớ, lại tiếp tục; tiếp tục rồi chán bỏ, rồi lại tiếp tục… Cứ như thế mãi cho đến sau ‘75 mới tỉnh ngộ (nhưng chưa biết đã lành hẳn chưa? Và bao giờ thì lành hẳn! ).
Điều cứu tôi khỏi chìm hẳn là thái độ phó thác theo tinh thần của Thánh nữ Tê-rê-sa Hài đồng: dù có gì đi nữa, tôi vẫn có thái độ “lăn xả vào Lòng từ bi thương xót và Quyền năng vô cùng của Thiên Chúa”, vào sự cầu bầu của Đức Mẹ và đương nhiên của Thánh Nữ thành Li-di-ơ mà tôi tin chắc là luôn luôn gìn giữ tôi qua mỗi bước chìm nổi của cuộc đời về mặt tự nhiên cũng như siêu nhiên, có nhiều lúc trên gầm trời siêu nhiên của tôi chỉ còn lấp lánh một ngôi sao nhỏ ở Li-di-ơ mà thôi, còn nữa thì chỉ dầy đặc sương mù!
Sự kỳ diệu là ở chỗ này: Cơn mộng du thần hiệp cũng đã đem lại một vài sở đắc, mà khi hồi tỉnh cũng có thể có công dụng, đó là một kinh nghiệm sống về một cuộc đời đơn độc. Chính vì thế mà ngay từ đầu tôi đã có ám chỉ đến 40 năm trong sa mạc của Dân Chúa sau khi vượt qua Biển Đỏ. Sau khi rửa tội và ra khỏi năm nhà tập, tôi như được đưa vào một sa mạc cô liêu trong tận đáy tâm hồn: một mình, không bạn, không thầy, vật lộn với đủ thứ, mà chỉ có một lòng tin vào sự phù trợ đặc biệt của bà chị thiêng liêng là Tê-rê-sa Hài đồng, dĩ nhiên là ngoài Thiên Chúa và Đức Mẹ ra!
Trên kia tôi đã dùng kiểu nói “Lạc bước miền Nam”. Hai chữ “lạc bước” ở đây không bao hàm đánh giá về xã hội, chính trị của miền Nam (mà tôi vốn sống ngoài lề, như ngoài lề bất cứ chế độ trần gian nào kể từ ngày tôi được ơn trở nên con cái Thiên Chúa trong Hội Thánh Công giáo), nhưng chính là lạc bước trong cơn mộng du thần hiệp mà tôi đã phác hoạ qua vài nét chính. Trong cơn mộng du khá dài ấy có thể có một điểm thuộc về lý do ngoại tại, khách quan: Các hình thức dòng tu cổ điển ở Âu Tây với quy chế chặt chẽ, với qui mô rộng lớn không phù hợp khao khát sâu xa của hồn tôi vốn như hướng tới một hình thức “Động tiên”, “Am mây”, “Lều cỏ” mà tôi nghĩ rằng có lẽ xưa kia tiên tri Elia cũng như về sau này các vị sáng lập tiên khởi ở trên đỉnh núi Cát Minh (trước khi dòng Cát Minh chưa phải di tản sang Âu Tây vào thế kỷ 12) đã sống, mà tinh thần còn phảng phất trong tác phẩm của Thánh Gioan Thánh giá. Và tôi cũng được nếm qua mùi vị chỉ chỉ có mấy tháng ở dưới mái tu viện nhỏ trên bờ con suối nhỏ ở một vùng quê khá hẻo lánh ở miền Bắc nước Pháp. Thời gian ấy là một cuộc thử nghiệm quá ngắn ngủi, mà lúc trở về Việt Nam tôi đã thiếu sáng kiến hoặc thiếu quả quyết tự thực hiện lấy một mình thử xem sao; thay vì như thế, tôi đã để mình bị lôi cuốn vào một sinh hoạt văn hoá giáo dục nửa vời (về phía tôi) hơi nặng tính cách tài tử trong một xã hội có số phận mong manh và vắn vỏi để rồi tất cả đều bị “cuốn theo chiếu gió” trong cơn lốc đã thổi mạnh trên đất nước Việt Nam này gần nửa thế kỷ vừa qua!
Rồi trong cơ chế xã hội mới thực ra tôi vẫn sống bên lề, trôi dạt từ trại cải tạo Sông Mao, hai năm lao động làm vườn sản xuất, hai năm ở Mặt trận Tổ Quốc, năm năm ở Ủy ban Khoa học Kỹ thuật, cho đến ngày hôm nay vẫn là bên lề và trôi dạt: Ở nhà tập thể cơ quan, trồng cây nuôi cá tại khu rẫy của một sinh viên cũ nhường cho, ghé tạm vào để nương náu tuổi già. Chỉ có cái khác là không còn “mộng du” nữa, mà hình như được nối tiếp lại những ngày đầu của ơn Thánh Tẩy của những năm ’49 – 50, dưới một chế độ chính trị và xã hội cũng như thời gian ấy! Một câu hỏi nẩy ra trong thâm tâm tôi: Phải chăng giữa đời sống thiêng liêng của tôi với chế độ chính trị và xã hội ấy có một cái gì gắn chặt sâu xa? Nói trắng ra là thế này: Chúa Giêsu mà tôi, yêu Hội Thánh mà tôi ẵm nhận làm gia đình thiêng liêng, chính là một Chúa Giêsu, một Hội Thánh tôi được gặp gỡ giây phút đầu tiên trong cái khí quyển của khu 4 năm '45 - 49. Hình như sau '75, tôi được hồi sinh về thiên liêng vì tôi gặp lại được hình dáng của Chúa Giêsu và hình dáng của Hội Thánh mà tôi đã gặp thuở ban đầu khi tôi cúi đầu trên giếng nước rửa tội! “Cái thuở ban đầu lưu tuyến ấy!”, cái hình ảnh đáng yêu ấy hình như có phần mờ nhạt khi tôi phải sống trong một chế độ khác với thời điểm 1945-49, tôi xin dùng một hình ảnh: Tôi yêu một thiếu nữ lúc cô ta còn là một thôn nữ - áo tứ thân, khăn mỏ quạ, tóc đuôi gà, miệng ăn trầu cắn chỉ; sau tôi cùng cô ấy ra thành thị, cô ta - uốn tóc, mặc áo Lemur, tô son điểm phấn v.v… Tự nhiên tôi như phai nhại mối tình đầu (có thể là do tôi chạy theo các cô thành thị khác, mà cũng có thể cô ta bớt vẻ kiều diễm dưới lớp y trang thành thị); thế rồi nay tôi lại được cùng cô ấy trở về nơi thôn dã, tôi như lại được sống lại mối tình đầu - lúc chúng tôi trao duyên gởi phận, bên bờ ao, có cành khế hoa tím rụng rơi trên những cánh bèo! - Có phải thế chăng, hỡi cô thôn nữ tôi yêu? Chỉ ở nông thôn, nét kiều diễm của cô mới còn nguyên vẹn và tình tôi mới trở lại vẹn nguyên chăng? Ôi! Ai biết được mầu nhiệm của Tình yêu??!! Và nếu trên kia tôi mượn lời Gióp, thì ở đây tôi xin mượn lời của Gio-an Thánh giá mà rằng:
“Tôi lặng yên trong quên lãng
Cúi mặt nhìn xuống người yêu
Tất cả đều ngưng đọng lại.
Và tôi cứ như vậy
Buông thả mối ưu tư,
Giữa những cành hoa huệ, tôi đã bị lãng quên rồi” .
(Khúc cuối của bài thơ “Lên đỉnh Cát Minh”)
Từ cuối đêm 26 rạng ngày 27 tháng 8 năm 1976, đêm đầu tiên tôi trở về lại Đà Lạt sau 16 tháng cải tạo, tại nhà Hòa Lạc của Đại học Đà Lạt, tôi quỳ gối phỏng ý bài thơ “Lên đỉnh Cát Minh”, ghi lại những dòng sau đây:
“Đêm nay mới thật là đêm
Bao năm lạc bước êm đềm về đây
Về đây sau những tháng ngày
Đau thương phúc lạc tràn đầy cả hai
Bắt đầu tất cả đêm nay:
Bình an, phúc lạc, an bình, bình an” .
Và sau mấy câu thơ ấy, tự nhiên tôi thay đổi chữ ký.
Trước thì: [chỗ này có chữ ký]
Nay đổi sang như sau: [chữ ký]
Sự thay đổi tự nhiên bột phát đêm hôm ấy có phải chăng là dấu hiệu tôi bước sang một giai đoạn mới, hoàn toàn mới của cuộc đời? Sự thay đổi mà trước kia đã bao nhiêu người khuyên tôi, vì họ cho chữ ký cũ là rất xấu và rất nguy, nhưng tôi đã nhất định không chịu nghe. Đêm ấy tự nhiên, gần như một cách vô thức, vô định ý, tôi đổi chữ ký, một việc làm mà tôi không hiểu do đâu, mà chính tôi cũng lấy làm ngạc nhiên!
Và quả thực, cuộc đời tôi đổi mới hoàn toàn.

20. HÀNH HƯƠNG HÀ NỘI
Lại xin tiếp tục sau khi giai đoạn ở trại học tập Sông Mao trở về Đà Lạt, rời khỏi cuộc sống tự do bên ngoài, lúc Sài Gòn chưa giải phóng và trở lại Đà Lạt khi hai miền Nam - Bắc đã thống nhất hoàn toàn mới một Quốc Hội duy nhất, một Nhà Nước duy nhất, đang bước những bước đầu đưa miền Nam lên Xã hội chủ nghĩa; rời khỏi vị trí một giáo sư Đại học trong xã hội, bắt đầu tập nĩa đất trồng rau, với tâm trạng của một người chưa có quyền công dân, không nói thì cũng biết là sự thích ứng đòi hỏi rất nhiều nỗ lực và gặp khó khăn như sức khoẻ, tâm lý, suy tư, tiếp xúc với xã hội, cũng như những nhu cầu sinh hoạt về mọi mặt. Tuy nhiên, bù lại thì có được một điều an ủi là Đất nước thống nhất và gia đình đoàn tụ. Trên kia đã nói qua về vấn đề “thống nhất”, nay xin sang vấn đề “đoàn tụ”.
Sau này thống nhất, người trong gia đình mà tôi đã gặp mặt đầu tiên là Cẩn (bạn cũ và là em rể tôi) cùng đi với đứa con gái của anh ta, gọi tôi bằng cậu, vào thăm tôi tại trại cải tạo Sông Mao. Tiếp đến là anh Viện tôi và đứa em gái áp út của tôi, cũng vào thăm tôi tại Sông Mao. Hai cuộc gặp gỡ ấy, tuy bản chất là vui mừng, nhưng bề ngoài thì chẳng mấy bình thường. Tôi còn nhớ đứa cháu gái cứ trố mắt nhìn tôi dưới dạng một ngụy quân học tập cải tạo. Thật khó tả! Cậu ruột nó đấy, bạn thân ngày xưa của bố nó đấy! Nhưng lại là sĩ quan ngụy, đánh thuê cho ngụy đấy! (Đó là chưa nói: Công giáo trí thức cỡ lớn đấy!). Còn cô em gái thì cứ ôm mặt khóc, tôi phải tìm cách nói đùa chọc cho cô ta cười lên, để bớt nỗi thê thảm! Chỉ có với anh Viện là tương đối thoải mái. Sau ngày trở về lại Đà Lạt, anh Viện là người đầu tiên đến thăm tôi tại trường Đại học Đà Lạt. Điều đáng nói nhất là trong một buổi tọa đàm do trường tổ chức tại phòng khách nhà Viện trưởng cũ. Tôi ngồi nghe anh Viện nói chuyện, mà cứ như trong mộng. Thật khó ngờ được rằng lại có cái ngày anh Viện tôi đến thuyết trình cho anh em cán bộ trường Đại học Đà Lạt, ngồi tại chính cái phòng khách ấy! Và lẽ ra, ít nhất tôi cũng được đón anh tôi với tư cách giáo sư duy nhất ở lại viện Đại học, lúc toàn ban giáo sư di tản, thế nhưng, lại ngồi nghe anh như một anh ngụy quân đi học tập về chưa có quyền công dân! Tôi thương mình thì ít mà thương anh thì nhiều! Chẳng biết thâm tâm anh ra sao, nhưng tôi thấy anh có thương tôi nhiều mới lên thăm tôi để hai anh em chúng tôi phải sống những giây phút khá oái oăm như vậy! Sau này, so sánh thái độ của một số người có ít nhiều chức vị ở Bắc đối xử với bà con ngụy quân ngụy quyền đi học tập cải tạo, tôi lại càng thấy anh tôi quả là thương tôi và hiểu tôi lắm!
Và vì có nhiều người vẫn cứ hỏi về sự gặp gỡ trao đổi giữa hai anh em chúng tôi, nhân tiện đây tôi xin ghi lại sơ lược vài hàng về tương quan giữa tôi và ông anh cả của tôi: Nguyễn Khắc Viện. Tuy khác mẹ, nhưng nhiều lúc chúng tôi quên hẳn điều ấy. Anh Viện hơn tôi 10 tuổi. Từ thuở bé, gia đình tôi đã dành cho anh một sự mến phục hơi đặc biệt, vì anh học rất giỏi, có sức khoẻ, môn thể thao nào cũng khá, tính tình vừa khẳng khái, vừa hiền hoà, sống một cuộc đời rất thanh bạch, quả là một trang thanh niên kiểu mẫu. Từ trước, anh đã có cái mộng trở nên một bác sĩ kiểu như Albert Schweitzer. Sau khi sang Pháp du học, trong tình thế cuộc đệ nhị thế chiến, tiếp theo là cuộc chiến tranh Đông Dương, anh xin gia nhập đảng Cộng sản Pháp, và được Hồ chủ tịch tin dùng. Vì bệnh lao phổi rất nặng (chỉ còn 2/3 của một lá phổi duy nhất), anh ở lại Pháp với chức năng tổng thư ký hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp cho đến năm 1964, bị Pháp trục xuất về Hà Nội. Từ khi anh du học Pháp, năm 1938 cho đến năm 1956, lúc tôi sang Pháp, tôi là người đầu tiên trong gia đình gặp lại anh. Qua bao nhiêu thay đổi về thời cuộc, về gia đình, về bản thân mỗi người, thì giữa hai anh em chúng tôi: một là đảng viên Cộng sản, một là tu sĩ dòng Phanxicô; điều nặng nề nhất là hình ảnh người cha bị chết trong trại cải tạo năm 1954. Tôi đến thăm anh, lúc ấy ở một gác trọ nhỏ ở Paris, bày biện sơ sài như phòng trọ của một sinh viên nghèo du học, bữa ăn đầu tiên giữa hai anh em rất đạm bạc, có điều là hai anh em trao đổi rất tự nhiên, như chẳng có gì là ngỡ ngàng, ngạc nhiên cả! Chúng tôi không hề đả động gì chuyện tư riêng của nhau, và cả hai đều tránh đả động đến việc thân phụ tôi bị làm nạn nhân của cải cách ruộng đất. Anh tôi không hề có một câu hỏi, một lời gì về việc tôi tòng giáo và vào Nam cả! Anh chỉ gợi ý rất tế nhị cho tôi thấy rằng thế nào rồi cuối cùng chế độ Cộng sản cũng sẽ toàn chiếm nước Việt Nam, vì thế tôi cũng như Giáo Hội Việt Nam cần đi đến chỗ:
1) Sống phù hợp với văn hoá dân tộc.
2) Sống phù hợp với chế độ Cộng sản.
Anh thường khuyên tôi nên liên lạc với Liên đoàn thợ thuyền Công giáo, để hiểu về phong trào đấu tranh của giới thợ. Anh rất am hiểu về Công giáo, về Giáo Hội, anh cũng đã từng đọc Gioan Thánh giá. Anh có xác tín của người mác-xít cho rằng khi mọi vấn đề trần thế được giải quyết tốt đẹp (điều mà anh tin rằng sẽ được thực hiện trong tương lai thì tự nhiên tôn giáo sẽ không còn). Có lẽ anh thuộc về những người Mác-xít cho rằng tôn giáo tự nó sẽ tiêu vong, không cần phải trực tiếp hạn chế làm gì. Có thể anh không đồng ý về những vụ khiến người ta suy nghĩ (có thể đúng mà cũng có thể sai) rằng có chủ trương hạn chế, cấm đoán hoặc bách hại tôn giáo, bởi vì cuối cùng chẳng có lợi gì về bất cứ phương diện nào, bất cứ theo quan điểm nào, mà chỉ gây ngộ nhận, gây chia rẽ, tạo đau khổ, phạm đến những con người cụ thể.
Một đôi khi tôi thấy anh phê bình chỉ trích Giáo phẩm không theo đúng tinh thần Tin Mừng và còn quá chịu ảnh hưởng ngoại lai. Nhưng hình như anh tránh né đề cập vấn đề “tôn giáo” với tôi; cho nên phía tôi cũng có phần tránh né không đả động gì đến vấn đề “ý thức hệ”; anh em gặp nhau chỉ trao đổi về những vấn đề cụ thể: về phía anh thì vẫn xem tôi như đứa em, có thể vấp phạm những điều dại dột có thể thiệt nhân, cho nên anh có nhiệm vụ chỉ dẫn để tránh khỏi những sai phạm có hại ấy. Phần tôi, cũng nghĩ mình là em, mà anh ấy lại là người có trình độ cao về nhiều mặt, cho nên, cũng chỉ hạn chế vào những điều mà anh có thể và có ý muốn giúp đỡ tôi; để cuối cùng anh em, dầu sao cũng vẫn giữ được sự hài hoà, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng lập trường của nhau, và ít nhiều mến thương, tin tưởng, kính nể nhau. Chúng tôi thấy không cần đi sâu vào vấn đề làm gì, vì cả hai đều biết rằng chúng tôi đã chọn - ai đường nấy đi không phải là hời hợi, mù quáng hay vì lợi vì danh gì, chẳng cần phải làm cái việc vô bổ là bàn giải khuyên can thuyết phục gì nhau nữa cả! Hiểu nhau quá rồi, cố gắng giữ lấy tình anh em, tình đồng bào, tình người giữa hai con người tạm gọi là “trí” là đã quý và không phải đã dễ dàng! Và có ai hỏi tôi về sự đánh giá của tôi đối với anh, tôi cũng chỉ cười, vì tôi nghĩ rằng mỗi con người là cả một huyền nhiệm, ai cũng có những đỉnh cao những lũng thấp, những tài đức, những khuyết điểm, những nỗi niềm, và rồi ai cũng có những cái “một mình mình biết một mình mình hay!”, và đứng trước cái “chỗ ấy” thì ta nên cất mũ cúi đầu im lặng, nguyện cầu, vì ngưỡng cửa ấy chỉ có Thiên Chúa mới có quyền và có khả năng bước vào.
Từ năm ‘76, tôi vẫn thỉnh thoảng gặp lại anh, anh em vẫn nguyên tình thân ái, vả chăng cả hai cũng càng ngày càng đến tuổi già, có lẽ sẽ đến lúc nhìn về quá khứ với một sự cởi mở, bao dung nào đó, hơi triết lý nào đó, bởi vì cuối cùng, thì mọi sự cũng chỉ có một thời, rồi sẽ qua đi! Cốt giữ lấy tình người là quan trọng. Nhất là anh ấy chỉ là một cán bộ văn hoá, còn tôi chỉ là một người không có một quan hệ trực tiếp nào về mặt thế trần, cũng như không có một chức vị gì ở trong Giáo Hội.
Vào cuối năm 1977, nhờ sự can thiệp của anh Viện tôi, tôi được phép ra Hà Nội thăm mẹ già và bà con ở miền Bắc! Nói lên nỗi xúc cảm của tôi khi cầm tấm giấy thông hành đặc biệt Đà Lạt – Hà Nội, lên xe ca ra Bắc, thật là việc khó! Hà Nội nghìn năm văn vật, bên kia sông Thạch Hãn (mà cuối năm 74 tôi đứng ở bờ phía Nam nhìn về quê cũ tưởng như không bao giờ còn thấy được nữa!) Đèo ngang! Núi Hồng! Sông Lam! Và con tàu Thống Nhất qua những nhà ga: Mỹ Lý, Thuận Lý, Ngân Sơn, Chu Lễ, Đò Lèn, Phủ Lý v.v… Và hình ảnh mẹ già đã trên 70, sau 30 năm xa cách với bao thăng trầm biến đổi!
Bước xuống ga Hàng Cỏ sau mấy ngày đêm đi đường, tôi cứ như đi trong giấc mơ! Lại gặp lúc Hà Nội vào thu, lá vàng bắt đầu rụng trên hè phố! Trời Hà Nội vẫn là trời Hà Nội: có lẽ từ Ức Trai – Bạch Vân, Tố Như và trước nữa, rồi Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Nhất Linh và kể cả Vũ Khắc Khoan, Vũ Hoàng Chương, ai đã yêu Hà Nội 36 phố phường thì khi đến Hà Nội dù thời nào, chế độ nào cũng phải có tâm tình của kẻ hành hương. Và dù chủ thuyết nào, tín ngưỡng nào, cũng biết ở đó có lăng – nơi an nghỉ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một con người kiệt chúng của thế kỷ 20, đáng cho giống nòi hãnh diện. Quả là may, qua những vụ Mỹ ném bom cuối cùng chỉ có phố Khâm Thiên bị nặng ngoài ra, Tháp Rùa, Văn Miếu, chùa Trấn Quốc, cột cờ, chùa Một Cột, cầu Long Biên vẫn còn. Mùa thu năm đó tôi say sưa với ý nghĩ rằng về mặt thế trần, tôi được nhìn cảnh trời thu Hà Nội thế là đủ rồi, các điều khác chỉ là chuyện phụ. Tâm tư tôi về mặt thế trần chỉ đơn giản có thế. Hà Nội - Sài Gòn phải được nối liền cái đã, các việc khác tính sau! Tôi cho rằng Đức giáo hoàng Phaolô VI cũng nghĩ như vậy mà thôi! Mặc dù biết rằng rồi sẽ có cả trăm nghìn việc khó khăn, nhưng dù sao thì nước Việt Nam phải là “một” cái đã! Đi giữa lòng mùa thu năm 77, tâm hồn tôi tràn ngập niềm vui vì ý nghĩ ấy! Tôi ra Hà Nội đây, vượt qua Thạch Hãn và Bến Hải: giấc mơ ấp ủ từ năm ‘54 nay đã là sự thật!
Và Hà Nội: vẫn có nhà tạm, nơi Chúa Giêsu ẩn ngự trong bi tích tình yêu, có các linh mục, có Hồng y TGM hiệp thông cùng Đức Giáo Hoàng, Đấng kế vị Thánh Phêrô! Hà Nội: sáng chiều vẫn có lời “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”. Không những lời chí thánh được lập lại, mà chắc rằng còn có những lời nguyện cầu âm thầm lặng lẽ của những tâm hồn trung thành với Chúa trong gian lao thử thách, mà không ai biết ai hay, đang tiếp dẫn ơn cứu độ xuống đất nước, và có thể tràn chảy đến tận cùng thế giới! Hà Nội: nơi mà nếu Têrêxa Hài đồng không bị chứng nan y cản trở, thì có lẽ đã được phái sang lập dòng và gởi lại di hài cho năm châu bốn bể đến hành hương thăm viếng! Tôi cảm thấy rằng Hà Nội có từ Lý Công Uẩn và sẽ còn mãi mãi với non sông vạn kỷ chứ đâu có phải của một thời nào! Đó là tâm tư của tôi khi đứng chiêm ngưỡng tượng Đức Maria cầm lưỡi đòng dí đầu con rắn dữ xuống đất đen, trước Vương cung Thánh Đường Chánh toà Giáo phận thủ đô Hà Nội.
Ai biết được dưới những bức tường rêu phủ của những tu viện, những Thánh Đường vắng vẻ đìu hiu, Thiên Chúa đang vùi những hạt giống gì cho hẩm nát để chuẩn bị cho mùa gặt mai sau! Máu Thánh Chúa mỗi ngày dâng lên từ một số bàn thờ rất ít do những bàn tay run rẩy của những vị Linh mục già sắp về với Chúa mà không chắc có người kế tục, giá trị ngần nào trước tôn nhan Thiên Chúa Cha, ai mà lường được!
Cho đến nay, hai vị Giám Mục đã được tòa thánh phong tước vị Hồng Y vẫn là ở Hà Nội, Hội đồng các Giám mục Việt Nam vẫn thường họp tại Hà Nội, đó là những sự kiện khách quan làm cho ta phải suy nghĩ nhiều và cầu nguyện càng nhiều hơn nữa. Tôi tin chắc rằng vị nữ tu xưa kia có ý định sang Hà Nội, ngày nay di hài ở Li-di-ơ, những hoa hồng từ bàn tay Ngài tuôn xuống, ắt vẫn còn dành khá nhiều cho Hà Nội. Và máu của vị tử đạo mà Ngài yêu mến cách riêng “Théophane Vénard” cũng đổ ra thấm xuống bãi cát bên bờ sông Hồng trôi về biển cả! Và Hà Nội, nay mai sẽ là nơi an nghỉ của một số nữ tu đã sống mấy chục năm trời trong một khung cảnh mà một nữ tu ở thành phố Hồ Chí Minh chỉ trú ngụ có một tuần đã cảm thấy “lạnh thấu buốt tâm can xương tủy”. Do đó, khi đến đưa lá thư của một người bạn gửi cho một nữ tu ở Hà Nội, tôi muốn qùy xuống ôm hôn cái bàn chân đã đứng vững trong những bức tường tu viện ấy trong mấy chục năm qua, và tôi chợt nhớ tới lời một linh mục Pháp thuộc dòng tu từ Bắc di cư vào Nam năm 54 tâm sự với tôi rằng: “Tôi tiếc rằng mình không phải là công dân Việt Nam để được ở lại miền Bắc với các Đức Cha, các linh mục và các tu sĩ nam nữ ngoài ấy!”
Và tín hữu ngoài ấy! tôi không thể không ghi lại đây hình ảnh hai cụ ông cụ bà Vũ Thế Hùng, song thân của Lm Vũ Khởi Phụng: Đẹp làm sao, tổ ấm của một cặp chim già sống chung thủy với nhau, cũng như chung thủy với Chúa, qua bao gian nan thử thách! Cái thằng tôi mãi rong chơi khắp Paris, Thụy Sỹ, Louvain… nay về gặp hai cụ dắt nhau đi dự lễ trên đường phố Hà Nội, mà cảm thấy mình xấu hổ! Quả như là tôi đã nói trên kia: “Sự tỉnh khỏi cơn mộng du!”, tôi chỉ biết có một đôi bạn là hai cụ Vũ Thế Hùng, chứ ở Hà Nội có bao nhiêu tín hữu như vậy: Témoignage Chrétien, Information Catholique lnternationale, Osservatore Romano, la Croix… làm sao biết được danh tính? Hội Thánh Việt Nam đâu phải chỉ có linh mục X, Y, Z hoặc giáo sư M, N, T, V được đăng tên trong báo, được các đài đủ loại phát thanh ầm ĩ, Hội Thánh Việt Nam còn có những tâm hồn như tôi tôi nói trên đây, mà đó mới thật là nền móng. Những kẻ được biết tên biết tiếng có thể chỉ là nóc nhà, là mái cao, qua cơn gió mạnh có thể bị bốc đi, còn nền móng vẫn đứng yên bám chặt vào lòng đất của mọi miền trên đất nước Việt Nam nay đã có gần 500 năm giáo sử. Hai cụ ông cụ bà Vũ Thế Hùng không biết đó thôi. Sự hiện diện của hai cụ ở Hà Nội làm cho niềm vui của tôi lần đầu tiên ra Hà Nội năm 77 tăng lên gấp bội chẳng kém gì so với sự hiện diện của mẹ già tôi còn sống để đón chờ tôi về thăm. Thử tưởng tượng nếu năm 77, tôi ra Hà Nội mà không có Tòa giám mục, không có linh mục, không có thánh lễ, không có tín hữu thì tôi sẽ ra sao? Tôi có thể vui đoàn tụ gia đình, vui đất nước thống nhất một cách trọn vẹn được không? Biết lấy gì mà tạ ơn những người tín hữu ở lại Hà Nội năm 1954!
Hà Nội đối với tôi năm 1977 là như vậy đó. Dĩ nhiên Hà Nội còn là nơi mẹ già tôi và phần đông anh chị em ruột thịt, bà con nội ngoại, thầy cũ, bạn cũ, học trò cũ của tôi cư ngụ sinh sống, làm việc, vui buồn, sướng khổ, và nay mai sẽ trút hơi thở lìa. đời. Ôi! Mẹ già! Mẹ già tôi! Trước năm 45 đã từng vào cung DIÊN THỌ hầu tài bàn Đức Từ Cung!, đã cần kiệm để giúp thân phụ tôi giữ được thanh liêm trong lúc làm quan! Và đã từng bị trói suốt một ngày trời để bắt nhận tội xúi giục con ăn trộm buồng chuối trong thửa vườn mà trước đó vài ngày mình còn là chủ nhân sở hữu! Mẹ già tôi! Đã hơn 20 năm qua, với hai bàn tay trắng theo nghĩa đen, nuôi con khôn lớn sau khi chồng bị đấu tố, chết trong trại học tập và bị tịch biên toàn bộ tài sản, không ai dám thuê mướn, giúp đỡ hay chào hỏi, phải rời bỏ quê nhà “đi tha hương cầu thực” theo nghĩa đen! Mẹ tôi! sao lại không tự tử năm 54 như hai bà cô của tôi, như bà cụ thím của thân phụ tôi, như ông dượng chồng bà dì tôi, như biết bao nhiêu người khác đã làm trong hoàn cảnh tương tự! Thần lực nào đã giữ hai làm răng của người lại để khỏi cắn lưỡi mà chết đi cho rảnh nợ đời khi bị trói suốt một ngày vì vụ buồng chuối trên kia? Đã hết đâu! Trên 70 tuổi rồi sau khi con cái có chút sự nghiệp, thì trong niềm vui đất nước thống nhất, lại có thằng con trai đầu lòng đi học tập cải tạo với tư cách là ngụy quân, đã theo giặc cầm súng bắn vào đồng bào!!! Tôi chỉ đọc và suy niệm về “khổ giá”, chứ mẹ tôi mới thật bước đi trên con đường “khổ giá”!
Cũng may là trong thời gian học tập tôi không bị ruột dư, thương hàn, thổ tả, dịch hạch mà chết đi, còn được sống trở về Hà Nội mà thăm mẹ già; chứ nếu tôi chết đi như bao anh em cải tạo khác, thì mẹ tôi sẽ hai lần khóc; khóc chồng chết trong cải tạo năm 54, và khóc con cũng thế năm 75-76 (tạ ơn Chúa đã tha cho mẹ con gánh nặng thứ hai này!), những cái nhục nhã xót xa khi nghe tin tôi đi học tập và cái lo sợ tôi sẽ như thân phụ tôi, cũng đã đủ cực lòng người như thế nào! Ai biết được, vì bà dám tâm sự cùng ai!!! Biết hỏi ai? Sao? Con tôi có làm tay sai cho phòng nhì Pháp không? Cho xịa không? Tay con tôi có bóp cò súng nhả vào quân đội nhân dân kháng chiến không? vv… Họa chăng có Đức Mẹ Maria khi nghe tin Chúa Giêsu bị bắt, mới hiểu lòng dạ mẹ tôi khi nghe tin tôi bị đưa đi học tập cải tạo vì lý do sĩ quan ngụy! Ai cho người biết chắc rằng tôi không phải như ông Phan Huy Quát, Hà Thúc Ký, Đặng văn Sung, Tôn Thất Thiện, Hà Vĩnh Phương, là những cậu ấm con quan mà mẹ tôi đã biết trước năm 45, hay cũng phải là cây bút chống cộng sắc sảo như Nguyễn Mạnh Côn, Võ phiến v.v… Có thể anh Viện tôi, vì đã hiểu rõ tôi, may ra có thể trấn an được, nhưng người có tin không? Hay lại nghĩ rằng chẳng qua anh ấy dấu sự thật cho người an tâm, cho nên giây phút đầu tiên mẹ con gặp nhau, tôi chỉ vỏn vẹn một tiếng “Mẹ” rồi im lặng mắt hơi rướm, mà người đã nói với tôi câu tôi đã thuật lại trên kia! Người chỉ thương tôi lưu lạc, chứ không hề nghĩ tới nỗi khổ của người. Ôi lòng mẹ thương con!
Sau câu tôi thưa lại: “Vâng, con đi chơi lạc đường, may anh Viện dẫn về, chứ không thì chẳng biết đâu mà tìm!”, nhìn ánh mắt của mẹ tôi, tôi biết rằng người đã tìm được nơi tôi hình ảnh đứa con 40 năm về trước, học trường tây con quan đầu tỉnh, mà vẫn đi chân đất, đội nón lá, tuy có hơi già vì trên 50 tuổi rồi! Chứ không có gì là ngụy quân ngụy quyền ác ôn hay ngụy trí thức thâm độc, cả đến u sầu ủ dột như kẻ ở tù cũng không! Trái lại, vẫn vui vẻ hồn nhiên tươi mát. Hầu hết người thân của tôi ở Bắc gặp lại đều ngạc nhiên và bỡ ngỡ như vậy! Tưởng đâu cái ông sĩ quan ngụy, khoa trưởng Đại học văn khoa, trưởng ban triết trường “Đại học Ngô Đình Thục” ra sao, chứ vẫn là cái thằng Dương hơi gàn gàn thuở nào! Một số bạn cũ (và cả học trò cũ) của tôi có chức vị ở miền Bắc trông oai vệ hơn nhiều. Và họ càng ngạc nhiên khi biết rằng tài sản lớn nhất của tôi là một máy radio 4 băng cũ mua lại giá rất rẻ, và một máy đánh chữ; còn thì chỉ là giấy viết dở mà tôi lượm lặt trong các kỳ thi do sinh viên viết bậy gom góp lại để làm giấy nháp, và vài trăm cuốn sách đem ra bán ký gói hàng may ra chỉ đủ sống vài tuần! Và họ tưởng tôi ở nhà dòng với kinh kệ, chắc là đạo mạo nghiêm nghị, ai ngờ lại là một cây tiếu lâm, và đùa giỡn với các cháu bé lên 4 lên 3 rất là ăn ý! Sau này gặp lại, tôi thấy tôi quả là một câu hỏi đặt ra cho họ: khó xếp loại tôi quá, chẳng thứ gì ra thứ gì cả! Thậm chí có kẻ cho tôi là tay đóng kịch đại tài! Bề ngoài nói nói cười cười, nhưng bên trong là cả một nỗi niềm uẩn khúc không đáy!! Có! Nỗi niềm của tôi là nỗi niềm thông dự vào mầu nhiệm Giết-sê-ma-ni mà Pascal đã in sâu vào hồn tôi từ những năm 42 - 44, là lúc mà gia đình tôi, còn gọi được là “vinh hoa phú quí” và tôi là một “cậu ấm con quan” thuộc loại học giỏi, hạnh kiểm tốt, thầy yêu, bạn mến; nỗi niềm ấy thì sẽ còn đó cho đến trọn đời tôi! Còn ngoài ra, việc trần thế thì tôi là cái lều tranh trống không, gió lộng muôn phương, quả tình không có hướng! Không phải là “hoa trôi man mác” như Kiều, mà là mặc cho gió trời lộng thổi, nhưng Tê-rê-sa Hài Đồng, hoàn toàn phó thác cho cánh Thần Ưng muốn “kênh” đi đâu thì tùy ý.

21. HỘI THÁNH VẪN MUÔN ĐỜI
Đọc qua những dòng tôi viết về tình hình thời sự năm 1975, người ta có cảm tưởng như tôi là “người của miền Bắc nằm vùng”, như một số bạn bè ở miền Nam đã… nghi tôi là do anh Viện tôi gài về miền Nam năm ‘65, hoặc như một số anh em sinh viên cũ của tôi nói: “Nay thầy mới để lộ mặt là người của miền Bắc”. Tôi có giấu ai đâu về sự kiện tôi là người xứ Nghệ (Chúa Giêsu cũng chẳng giấu Ngài là người xứ Ga-li-lê-a, Phao lô cũng không giấu cái dòng dõi Pha-ri-sêu của mình), gia đình tôi đều ở miền Bắc, chữ “miền” đây là hiểu theo nghĩa vị trí địa lý: Núi Tản, sông Hồng, núi Hồng, sông Lam, động Hương Tích, có từ khi Bà Trưng chưa khởi nghĩa. Cam Bố Hạ, nhãn Hưng Yên, bưởi Phúc Trạch, chè Hương Sơn v.v… có từ nghìn xưa, và sẽ còn mãi mãi! Còn Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn; Tây, Nhật, Mỹ v.v… sẽ nối đuôi nhau hưng, thịnh, suy, tàn. Miền Bắc của tôi là hiểu theo nghĩa miền ruột thịt muôn đời của Việt Nam muôn thuở. Bắc Nam hai miền muôn thuở phải là một. Cắt đôi là Việt Nam chết! Việt Nam chết thì chế độ này, chế độ kia thì có ý nghĩa gì? Cho nên thống nhất hai miền (bất cứ hình thức nào) là điều tiên quyết: không thống nhất được theo kiểu A (dù anh thích A hơn B), anh cũng phải vui lòng nhận kiểu B để thống nhất cái đã; nếu anh thấy trong thực tế, muốn thống nhất chỉ có kiểu B mà thôi, chứ kiểu A hoàn toàn vô vọng, thì anh có tiếc kiểu A thì cũng là vớ vẩn! Còn anh nói thà chia đôi mà chết chứ không thể để cho kiểu B thành sự mà sống cái đã, thì anh quả là phản nước hại dân, vì chết mất thì còn gì là A, là B nữa!
Nếu tôi không lầm thì có lẽ Đức Phaolô VI đã nghĩ như thế về Việt Nam, cho nên Ngài chờ cho Việt Nam thống nhất, dù thống nhất theo kiểu nào, rồi mới phong Hồng Y tiên khởi. Hai miền Nam-Bắc, chứ không phải hai chế độ Nam-Bắc: Miền là muôn thuở, chế độ là nhất thời: “xã tắc thứ chi”. Và cái chung là: tình người, tình đồng bào, tình gia đình, tình bằng hữu, tình thầy trò vv… Những cái đó mới là chất sống, chế độ chỉ là khung sống! Chất sống cần phải được bảo đảm cái đã; khung sống hợp thì tốt, không hợp thì thích nghi mà sống! Nếu không còn chất sống, thì khung sống mà làm gì? Đức Phao lô VI đủ thông minh để thấy rõ Việt Nam chỉ có hòa bình trong điều kiện nào, mà ngài vẫn tuyên bố phải hòa bình đã! Hòa bình vô điều kiện, bởi vì ngài biết không hòa bình, không thống nhất thì Việt Nam sẽ không còn, mà Việt Nam không còn thì Hội Thánh VN cũng tiêu ma! Do đó phải còn cái đã, mọi sự khác dù gian nan đến đâu cũng tạm gác lại sau hay. Sau đó có thể là hàng trăm năm: Nước VN, dân VN là vạn đại, Hội Thánh VN là muôn đời! Vài trăm năm cũng chỉ là chốc lát, nôn nóng, hấp lấp làm gì?!
Quan nhất thời, dân vạn đại (tôi xin nói thêm: Hội Thánh muôn đời). Bằng an, vui vẻ là vì vậy! Còn chất sống thì do mình tạo ra dù ở bất cứ khung sống nào. Cha ông chúng ta đã sống đức tin dưới đủ mọi chế độ: nô lệ, nông nô, phong kiến, dân chủ, quân chủ vv… Con cháu chúng ta sẽ sống đức tin dưới những chế độ gì trong tương lai, ai biết được! Người Hà Nội vào thăm anh em, bà con, bạn bè ở Sài Gòn; người Sài Gòn ra thăm bà con bạn bè ở Hà Nội; Tổng Giám Mục Sài Gòn ra thăm Hồng Y Hà Nội, Hồng Y Hà Nội vào thăm TGM Sài Gòn; lúa Minh Hải ra Lạng Sơn, chè Thái Nguyên vào Cà Mau: chất sống là chủ yếu! Còn nếu ai gạn hỏi sâu xa hơn, tôi xin đặt ra câu tự hỏi sau đây về chế độ thế trần ở Việt Nam này: có phải chăng ở tận đáy lòng tôi vẫn còn là người con của một ông quan cuối cùng triều Nguyễn, mà ông vua cuối cùng của triều Nguyễn đã “thừa thiên mệnh” trao ấn kiếm cho chế độ nào? Ta cần suy nghĩ cho thật sâu sự kiện này: tại sao năm 1945 Chủ Tịch Hồ Chí Minh chịu nhận ấn kiếm từ tay Bảo Đại; còn ngày 30-4-1975, các chiến sĩ chiếm Dinh Độc Lập không chịu làm lễ nhận bàn giao? Có một vị Giám Mục Việt Nam đã không đồng ý với ông Ngô Đình Diệm khi ông Diệm, nhảy từ ghế thủ tướng lên ghế tổng thống – bởi vì, đối với vị giám mục này, ông Diệm đã sai trái khi hất người đã đặt mình lên làm thủ tướng chiếm ngôi! (còn Bảo Đại trước khi thoái vị có hỏi: “Hồ Chí Minh là ai?” khi biết đó là Nguyễn Ái Quốc, ông đã tỏ ra thoải mái: “Alors! Je suis tranquille. Ça vaut le coup”, nghĩa là “tôi an tâm! đáng cho tôi thoái vị!” Đó là chỉ mới nói về tương quan giữa ông Diệm và Bảo Đại, còn ở miền Nam từ 1963 trở đi, các cuộc đảo chánh thay ngôi đổi vị, đều dựa trên đống máu của ba anh em ông Diệm, ông Nhu, ông Cẩn đã bị chính những người do họ đặt lên chức vị, làm đổ ra. Ngôi nhà chế độ Miền Nam xây dựng trên nền tảng như vậy. Đó là chưa nói đến sự chiếm đóng của quân viễn chinh Pháp và Mỹ đã để lại những hậu quả gì? Tôi mới chỉ suy nghĩ về tương quan giữa người Việt với nhau trong cái chế độ đã sụp đổ ngày 30-4-75. Hình như có Linh mục Nguyễn Thế Thuấn cũng có những suy nghĩ tương tự (linh mục Thuấn chỉ là một vị chân tu, chuyên tu, không hề có hoạt động chính trị nào cả).
Tôi xin thành thật thú nhận rằng đã từ năm ‘65 về VN tôi đã thấy như vậy, nhưng tôi đã không tỉnh thức mà ăn chay cầu nguyện, không phải để cứu vãn nó, nhưng để nó chết trong những điều kiện có lẽ thuận lợi hơn cho sự tồn tại và thăng tiến của dân tộc, cho sự triển nở của Hội Thánh! Thay vì như thế tôi đã sống có lẽ quá vô trách nhiệm, có tính hời hợt tài tử như tìm một thứ lãng quên với ít nhiều an tâm ngụy tín. Do đó mà tôi gọi những năm từ ‘56 -75 là một cuộc “mộng du”. Nhiều lúc tôi tự hỏi nếu Chúa gọi tôi ra trình diện Ngài trước 75, tôi sẽ ra sao? Đành rằng phía Ngài, lượng từ bi là vô hạn, nhưng phía tôi, tôi phải xét mình nghiêm túc, và như vậy thì chỉ còn biết đấm ngực: Mea culpa! mea culpa! mea maxima culpa! Nhận lỗi là thái độ cần phải có!
Lẽ dĩ nhiên, những suy nghĩ trên đây chỉ là nhằm vào đối tượng là chế độ miền Nam trước 1975 chứ không nhằm đối tượng cá nhân những con người với những tương quan tốt đẹp, vẫn tôn trọng quý mến, dù những con người này ở vào chức vị nào, kể cả trong hàng ngũ tướng tá bộ trưởng của chính quyền cũ Miền Nam, miễn là về mặt cá nhân họ là những con người có tư cách, phẩm giá. Người xưa nhiều lúc đã khóc, lấy vương bào phủ lấy thủ cấp của đối thủ đã bị đánh gục, chôn cất theo vương lễ, quả đáng cho ta noi gương; huống chi tôi là một kẻ không hề dính líu đến vấn đề chính trị, thì đối với giá trị cá nhân của bất cứ bên nào, tôi vẫn giữ lòng kính trọng trong khách quan, công trực và khiêm tốn. - Mea culpa! Mea culpa! mea maxima culpa! Tôi đấm ngực bản thân tôi, chứ ngực ai là việc của người ấy, liệu đấm ngực hay vỗ ngực là việc riêng của họ và Thiên Chúa, Đệ tam nhân dù là ai, cũng không được xía vào một cách phạm thánh.
Xét về giá trị cá nhân thì Bảo Đại làm sao bằng được hai ông Dương Văn Minh và Nguyễn Văn Huyền! Chủ tịch Hồ Chí Minh thì vượt xa những người chiếm đánh dinh Độc Lập! Thế mà Hồ chủ tịch chịu nhận ấn kiếm, còn Giải phóng không chịu nhận bàn giao. Tôi có một tư tưởng duy thiên mệnh về chế độ thế trần: “potestas a Deo”! Chúa Giêsu nói với Phi-la-tô như vậy. Quyền của ông là do trên, chứ bản thân ông đâu có quyền gì trên tôi! “A Deo” không phải vì tài đức hơn, nhưng vì đó là “mệnh trời” giao cho, như giao lưỡi gươm vào tay đao phủ hầu trừng trị kẻ ác, vậy thôi! Còn tại sao mệnh trời lại như thế, ai muốn biết, xin cứ “bắc thang lên hỏi Ông Trời”, Léon Tolstoi trong chương kết luận tập truyện “Chiến tranh và Hòa bình” cũng có tư tưởng như vậy. Vị anh hùng cái thế Quang Trung cũng có nói: “Thắng bại là do Trời cho, chứ có phải là do tài đức của ai đâu!” (Xin nhắc lạ: tôi chỉ tâm sự trình bày quan niệm của mình, chứ không có ý biện minh sai đúng hơn thua). Và tôi còn nhớ mãi, năm l946, dưới ánh đèn dầu phụng lù mù, sau một bữa cơm tôi bàn về thời thế, nhân phụ tôi cầm cái khay trà xoay một vòng rồi nói: “Thiên mệnh xoay như cái khay, chúng ta như những chén nước trong khay, cưỡng làm sao được con ạ!”. Thuở thanh niên chịu ảnh hưởng của các nhà tư tưởng chính trị trước Cách mạng Pháp, tôi nghĩ rằng tư tưởng chính trị của tự do tư sản là đúng là hay, nhưng càng có kinh nghiệm sống ở đời qua bao nhiêu biến cố, tôi lại có cảm tưởng quan niệm của Nho giáo sâu xa hơn và thiết thực hơn. Nhiều khi tôi tự hỏi: chắc hẳn nơi anh Viện tôi tự tiềm thức cũng có cái gì tương tự, nên anh dã theo phục vụ Hồ Chủ Tịch một cách dễ dàng, và nhìn chung sau năm 1945, con cái các gia đình Nho giáo phong kiến, theo xu hướng Việt Minh, nhiều hơn là đám con cái tư sản thành thị (đó là tôi nói về lớp gọi là trí thức thời đó). Hình như phong kiến Nho giáo ít thiên về lợi nhuận, ít cá nhân chủ nghĩa hơn tư sản, nên gần với Xã hội chủ nghĩa hơn (có phải thế chăng?). Và luôn tiện cũng ghi thêm: Hình như với truyền thống phong kiến Nho giáo dễ đi vào Công giáo, còn tư sản tự do thì dễ chuyển sang Tin Lành (hình như thế thì phải!). Những dòng trên đây chỉ có tính cách phiếm luận cho vui để gợi ý suy nghĩ hơn là biện luận đúng sai. Xin bạn đọc xem như cuộc đàm đạo về Đông Chu Liệt Quốc sau buổi tiệc trà, giữa một số cụ già, chứ không phải tranh luận ở nghị trường.
Có thể nói trong những ngày sống ở miền Nam, tôi rất hoang mang vì chưa hiểu “thiên mệnh ra sao”. Từ năm 1975 tôi ổn định tâm tư, vì tôi thấy từ 45 đến 75 hình như thiên mệnh đã có “thiên thư”, ấn kiếm đã có từ tay vị vua cuối cùng - trao cho những người phất cờ khởi nghĩa Cách mạng mùa thu, chiếc khay trà xoay đủ vòng mặc cho các chén nước quay cuồng rối loạn ở trong khay! Tư cách cá nhân của Bảo Đại không là gì nhưng vị trí của ông ta khi trao ấn kiếm có một trọng lượng lớn; cũng như, giá trị cá nhân của Cai-pha không là gì, nhưng khi ông tuyên bố: “một người phải chết thay cho toàn dân” - thì vẫn được linh ứng, bởi vì ông đang đứng ở vị trí là tư tế thượng phẩm; và na ná như giá trị cá nhân của Borgia không ra gì, nhưng ở vị trí Giáo Hoàng Alexandre VI vẫn được ơn vô ngộ giữ gìn.
Một khi thiên mệnh về mặt thế trần đã rõ, tôi thoát một cơn khắc khoải kéo dài từ hiệp định Genève! Thái độ chính trị của tôi sau năm ‘75 là thế, mà tôi nghĩ bức thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cũng không có gì khác hơn. Trên đây là tôi dựa vào Nho giáo mà tự phân tích về mặt tâm lý tự nhiên của tôi (không xét đúng sai); còn muốn thẩm định đúng sai thì phải lấy tiêu chuẩn ở Lời Chúa, trong thư gởi tín hữu Roma 13, 1-7 về vấn đề chính quyền trần thế. Mà trần thế là chốn lưu đày, là nơi khách trú, là vương quốc của “đầu mục thế gian này” chứ không phải là Nước Trời! Vương đạo thời “Nghiêu Thuấn” chỉ là chuyện ươc mơ của lòng người: mơ bao giờ chẳng đẹp, nhưng không thực. Thế gian như quán trọ một đêm, thiếu tiện nghi, khiến khách lữ hành khó ngủ, mộng mị lung tung: ác mộng có, thần mộng có; nhưng đều là mộng cả! Lúc trời hừng sáng tỉnh dậy thì như tích xưa “nồi kê chưa chín”. Thế gian mưu bá đồ vương chẳng qua như đứa trẻ chạy bắt giành nhau chiếc bong bóng thổi từ bọt xà phòng. Suy gẫm kỹ các thánh vịnh 43, 72, 93 (Hy Lạp: TV. 42, 71, 92) sẽ rõ “Thiên mệnh” là gì! Đọc Kinh Thánh cho kỹ cũng nắm được lẽ thịnh suy ở trần gian: Ninivê, Babylon, đế quốc Roma đệ I, đệ II, đệ III nối đuôi nhau rơi rụng, ngay cả thành thánh Yêrusalem cũng không được miễn trừ, huống là…
Người ta kể lại rằng ở một tu viện nọ, một tu sĩ dòng Trappe không hề biết từ 1914 đến 1947, Châu Âu đã trải qua hai cuộc đại chiến máu lửa ngập trời! Câu chuyện ấy thực hư ta không biết, nhưng cũng giúp ta thêm suy gẫm về sự đời! có lẽ vị tu sĩ ấy đã thấy tất cả lịch sử nhân loại qua sách Khải Huyền. Trong thâm tâm tôi, tự đáy lòng, đáy tâm hồn, có cái gì tương tự: từ giây phút buổi sáng mai ngày 9-1-1949 cúi đầu nhận bí tích thánh tẩy, tôi đã trở nên công dân của Nước Trời vĩnh cữu! Mọi biến cố ở cái nước trần thế này (mà tên đầu mục là ai ta cũng biết rồi) chỉ như gió thu xao động mặt hồ mà thôi. Tôi nghĩ các tín hữu tiên khởi, sau khi Chúa lên trời, tụ họp nhau mỗi chiều thứ bảy đợi chờ Ngài giáng lâm trong giờ canh thức, củng cố tâm trạng như vậy. Cuộc đợi chờ của Hội Thánh cũng vậy, một đêm canh thức dài triệu năm hay ngắn lại vài giờ có khác gì, vì Thánh vịnh có câu: “Đối với Thiên Chúa, nghìn năm cũng tựa một ngày, một ngày cũng tày nghìn năm”. Tham dự thánh lễ chúa nhật, hay thánh lễ mỗi ngày, ta vẫn có câu:… cho tới khi Chúa lại đến. Trên thân cây Nến Phục Sinh cũng có ghi: nguyên thủy và cứu cánh, quá khứ, hiện tại và tương lai: Đức Kitô hiển trị muôn đời! Thái độ rũ bụi… còn các Lê-vi-a-than trần thế có vùng vẫy tung hoành cũng chỉ một thời! Thái độ rũ bụi chân rời khỏi một số thành trì, chỉ là thái độ tượng trưng cho bất cứ thành trì nào ở trần thế, thái độ ở chính nội tâm cần phải có chứ không phải chạy đi đâu cả. “Ngủ nghỉ ăn nói” mà như thể “không ngủ nghỉ ăn nói”, có phải chăng là vậy?
Suy cho cùng, dù có gì đi nữa: năm 1924, kẻ viết dòng này ở đâu; và năm 2025 cũng sẽ về đâu? Những gì xảy ra giữa hai cái mốc ấy cũng sẽ về đâu? Không có ơn Chúa soi sáng mà nhà thơ nào đó đã có câu:
“Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”
Mà nếu không lầm thì tác giả là một vị Thái thượng hoàng đã nhường ngôi cho con, cắt tóc lên chùa.
Có bi quan yếm thế quá chăng? Có thiếu tinh thần nhập thế quá chăng? Dầu sao, Ngôi Hai xuống thế là để lên trời, kéo tất cả lên theo chứ đâu phải cứ đóng lều mãi ở thế gian này. Và hiện nay ở thế gian này thì Ngài là miếng bánh nhỏ bé nằm trong chiếc hào quang lăn lóc trên cát, cạnh thi hài của Charles de Foucauld, một kẻ đã trọn đời tận hiến cho Ngài, bị một phát súng có lẽ lỡ tay, của một em bé 15 tuổi có nhiệm vụ canh giữ ngài cho bọn thổ phỉ vào trộm cướp ẩn viện của ngài. Đó, có thể nhìn lịch sử nhân loại và vũ trụ chỉ qua một sự cố nhỏ nhoi (cái chết của Charles de Foucauld) chẳng có trọng lượng gì đối với các chiến trường, các nghị trường, các thương trường, kể cả các pháp trường và bất cứ cái gì… trường! Cũng như cái chết của một nữ tử 24 tuổi vào chiều tối 30-9-1897, có trọng lượng gì so với thời thế của một giai đoạn khá phồn thịnh của Âu tây! Lúc cáo biệt vị bá phụ dòng Solesmes, sau tuần cấm phòng, Charles de Foucauld được ban cho lời dặn cuối cùng sau đây: “Cha chỉ xin con nhớ luôn cho rằng - mọi sự sẽ qua đi, chỉ lòng Chúa xót thương là luôn tồn tại!”
Từ năm 1975 trở đi, tôi sống với đồng bào, với gia đình, với bằng hữu, người ta sao mình vậy, cũng cùng chung những vui buồn vinh nhục, đói no, thiếu đủ, ở cái đất Đà Lạt thân thương này; làm những việc cần thiết về sinh hoạt như lao động, giải trí, hoạt động văn hóa xã hội một cách chân tình cởi mở, cũng có khi nóng giận, ngoa ngoắt, nhưng thực ra hồn tôi thì như cô mục đồng trong tác phẩm của Gioan Thánh Giá dặn lại bạn bè rằng: “nó đã mất hút ở đâu rồi!”. Tết năm Ất Sửu, năm sinh của tôi, trong bài thơ dán trước cửa cáo từ khách… đến chúc xuân, tôi có câu:
“Hàng xóm cho hay chủ vắng nhà”
Rồi đây, nếu có phương tiện, tôi sẽ còn đi về giữa Đà Lạt – Hà Nội (vì mẹ già còn sống, phải ra thăm viếng) Đà Lạt – Tp. HCM, Đà Lạt – Nha Trang, Đà Lạt – Huế… đi thăm bà con bằng hữu; đồng bào Đà Lạt sẽ thấy tôi khi ở phố này, lúc ở quán cà phê nọ, lúc xuống rẫy làm vườn, khi đi dự hội họp mít tinh. Sống thì phải thế, chứ tôi chỉ muốn được như ông thánh Benoit Joseph Labre, ngày đêm quỳ phủ phục chầu Thánh Thể, vì đó là nơi NGÔI HAI THIÊN CHÚA ĐANG NGỰ Ở GIỮA CHÚNG TA MỖI NGÀY CHO ĐẾN TẬN THẾ (Cánh chung). Mọi sinh hoạt chỉ là hiện tượng bên ngoài, cho trọn thân phận làm người và là “người Việt Nam” được Chúa đặt vào một địa điểm một thời điểm, một khung sống: kinh tế, văn hóa, chính trị xã hội nhất định, như cái vườn ươm để sinh hoa kết quả cho mùa gặt muôn đời, dù có trải qua mưa nắng, ấm lạnh, gió sương, (có khi làm rụng lá gãy cành), sâu bọ chim muông, súc vật phá phách, tay người cắt xén, thì một sợi tóc trên đầu con rơi xuống cũng không ngoài ý Cha. Mầu nhiệm Tử nạn - Phục sinh, vẫn tiếp diễn qua mọi sự cố về bản thân, gia đình, đất nước, nhân loại mà Hội Thánh với thân phận lữ hành, là chứng tích, là bảo chứng là tượng trưng: Hội Thánh được đặt trên nền đá Phêrô mà cửa Hỏa ngục không làm gì nổi.
Cuối cùng, cuộc đời ai cũng vậy - phải vậy, bản chất là vậy: một cách nào đó đều phảng phất những nét của CON NGƯỜI mà Philatô đại diện quyền thế gian đã đưa ra giới thiệu cho muôn thế hệ chiêm ngắm và noi gương mình, để tìm cho được chân tướng của mình. Mọi chi tiết vụn vặt: vinh nhục, vui buồn, sướng khổ… Chỉ là nét phụ! ECCE HOMO, NÀY LÀ NGƯỜI! Ai là người thì hãy tìm mình trong CON NGƯỜI ấy. Ai muốn hiểu ai đi nữa, thì cũng nhìn qua CON NGƯỜI ấy thì sẽ rõ, trong tâm tình ăn năn thống hối thâm sâu, với ý thức sự đốn mạt khôn cùng của mình, tôi nghĩ rằng: Một Kitô hữu viết chuyện đời mình (dù là một đời đĩ điếm, trộm cướp) hễ còn tin vào Ngài, thì một cách nào đó cũng là viết chuyện đời Ngài mà thôi. Bởi vì chính Ngài đã lãnh nhận, thông dự tất cả những ai tin Ngài (và những ai chưa biết Ngài) vào trái tim cực thánh của Ngài để cho lưỡi giáo đâm thâu chảy đến giọt máu hòa nước cuối cùng: trái tim mà từ thuở 14, 15, tôi chưa biết gì, đã được ngài thương tỏ ra dưới một hình thức vô cùng bé mọn: trên một tấm ảnh hình thường kiểu Saint Sulpice phần thưởng của một giáo sư linh mục thừa sai trao cho một em bé ngoại giáo có điểm giáo lý cao, - em bé ấy, vài tháng trước đó đã quả quyết “không bao giờ” tòng giáo! Em bé ấy - ngày nay 61 tuổi, một mình ghi lại dòng chữ này: thay vì “Jamais” (không bao giờ) chỉ xin thêm một chữ A: “à jamais” = cho đến muôn đời (không bao giờ thôi). Kỳ diệu thực ra chỉ ở chữ A ấy mà thôi, còn các chi tiết tiểu sử chỉ là hoa hòe hoa sói, để mua vui một vài trống canh, nào có trọng lượng bao nhiêu!
Trước 1975 tôi cứ tưởng là sẽ làm chứng về Ngài qua những việc gọi là từ thiện (mà viên Tyfomycine ở trại cải tạo đã lột mặt nạ ra), nhưng hình như qua đó mọi người chỉ thấy: “chỉ là anh!”. Từ năm 75, tôi không còn là gì nữa, tôi quì lạy xin Đức Mẹ giúp tôi càng ngày càng trở nên “không”, mờ hẳn, nhạt nhòa hẳn, xóa hẳn để Mẹ in lên một vài nét của con Mẹ, để mong sao khi gặp tôi, trao đổi với tôi, anh em thoáng thấy được một vài nét của “Thánh Nhan Ngài”, dù có bị méo mó hoen ố ít nhiều (mà nhiều hơn ít), để mai sau tôi được xếp vào bên hữu của Ngài dù là hạng bét, bét ở đây vẫn còn hơn ở thế gian bội phần. Đầu thế gian có thể dịch là Prince de ce monde (prince = prin-cep: caput - đầu, Thủ lãnh & Đầu mục thế gian này; Prince de ce monde là ai, thì Đức Mẹ biết rồi, vì cái Đầu ấy đã bị gót chân liễu yếu của Mẹ đạp dập nát rồi, còn cái đuôi có ngo ngoe vùng vẫy cũng chỉ một thời đó thôi!” Các con đừng sợ, Ta đã thắng thế gian!” xin Mẹ giữ con đừng dại dột mê theo hoặc sợ hãi quị lụy thế gian với tên Thủ Lãnh của nó, đầy chước độc mưu thâm, đến nỗi kẻ lành cũng có thể bị đánh lừa bởi cái áo “sự sáng” khoác ngoài của nó! Sau này tôi sẽ kể lại một vài điều học được về những mưu chước của nó mà không có sự phù trợ đặc biệt của “Người Nữ” đã đạp dập đầu nó thì tôi nghĩ rằng khó lòng mà thoát khỏi.

22. CƯ SĨ
Năm 1983, vì tôi hay đau yếu, các anh ở Ủy ban Khoa học Kỹ thuật cho tôi được tìm cách chuyển công tác về miền xuôi: sau một thời gian tưởng như có khả năng phục vụ tại Đại học Sư phạm Tp. HCM hoặc Huế, nhưng cuối cùng không thành, tôi lại tiếp tục ở Ủy Ban Khoa học Kỹ Thuật, cho đến ngày 28-2-86 thì được nghỉ hưu và tôi lấy quyết định ở lại Đà lạt, cơ quan chấp nhận cho tôi tiếp tục cư trú tại gian phòng dành cho tôi tại khu tập thể của cơ quan, tọa lạc tại số nhà 32 A Đào Duy từ, phường Đà Lạt là nơi tôi ghi những dòng “hồi ký” này. Một sự tình cờ đưa tôi đến chỗ được một sinh viên cũ (cũng làm nghề dạy học và cùng được nghỉ việc cùng lúc) dành cho tôi vài băng đất nơi miếng rẫy của anh, tại ấp Tân Thành, phường 2, ở dưới một thung lũng cuối đường 3 tháng 4, dầu dốc đèo Prenn, phía tay trái, quốc lộ 20 (kể từ Đà lạt đi xuống). Tôi trồng cà phê, hồng, táo, dâu, rau và một ao cá, một giàn su su, chuẩn bị an hưởng tuổi già.
Cuộc đời của tôi như thế là kết thúc khá êm ả nhẹ nhàng: một viên chức về hưu, ngày ngày đi lễ đọc kinh, đi lại thăm viếng anh em thân thuộc trong cảnh đạm bạc nhưng an bình. Có trà dư tửu hậu thì làm thơ nói chuyện đời (như kiểu bình luận Tam Quốc), chuyện đạo, chuyện triết học, văn chương, thảnh thơi thơ túi rượu bầu! (rượu thì không có, chỉ có nước chè xanh do người bạn vãn niên là anh Phạm Phú Thành, trước là giáo viên trường Trần Hưng Đạo, nay thì làm cùng cơ quan, thỉnh thoảng cho vài nắm nấu uống, có đường thì cho đường, hay cho cà phê mà gần đây giá tăng lên vùn vụt).
Về phần cá nhân, tôi tự thấy mình quả được đầy đủ về mọi mặt, từ vật chất đến thiêng liêng! Nhưng, cùng sống với đồng bào, với anh em tín hữu, tôi thông dự với tất cả những nỗi niềm của họ trong sự hiệp thông của tình người, tình đồng bào, tình đồng đạo. Những vui buồn, mong ước, khát vọng của họ, tôi đều thông dự sâu xa, ngày đêm dâng lên Chúa lời nguyện cầu tha thiết với sự kiên trì trông đợi. Dù sao thì tất cả đều là Ân sủng, và chúng ta không thể đòi đi bước trước, trước đường lối của Chúa Quan Phòng, như lời thánh Vinh Sơn Phaolô đã dạy. Về mặt tâm lý, tôi cùng anh em chia sẻ với tất cả những nỗi niềm của anh chị em qua những điều mắt thấy tai nghe trong cuộc sống hằng ngày, vất vả kiếm cơm ăn áo mặc, thuốc thang, sách vở, hương nến thắp bàn thờ, giờ giấc, nơi chốn phụng tự… . Mà như phần trên đã nói, trần gian này đâu là thực sự vừa lòng toại ý! Phần riêng tôi, tôi vẫn không biết lấy gì mà tạ ơn Chúa đã ban cho tôi Ơn vô cùng lớn lao - là đã được Tin vui, tôi chỉ mong tất cả mọi người cũng được ơn như vậy, chẳng những được hạnh phúc đời sau, mà ngay đời này cũng được hưởng niềm vui hiện hữu (la Joie d’exister) nhờ ơn Sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa Tình Yêu ban cho nhưng không. Thánh Têrêsa Hài Đồng có nói rằng: lên Trời rồi Ngài vẫn không yên nghỉ, và vẫn góp sức vào việc làm cho mọi người biết đón nhận tình yêu thương xót của Thiên Chúa, đang muốn đổ xuống tràn đầy cho ai vui lòng đón nhận, tôi chưa được hưởng phúc Thiên Đàng như ngài, nhưng đã được phúc biết Tin vui, tôi cũng chỉ có một nguyện vọng ấy mà thôi! Còn mọi sự khác, thì làm người ai chẳng muốn điều này, điều nọ; nhưng được thì cũng hay, không thì cũng chỉ là tương đối, mà biết đâu trong sự mầu nhiệm của thiên Chúa, không được lại càng hay hơn, mai sau về Trời mới rõ! Những ngày còn lại, tôi hoàn toàn phó thác trong Tay từ ái Quyền năng của Thiên Chúa Tình Yêu, theo tinh thần của Thánh Têrêsa Hài Đồng mà tôi vẫn tin là ngôi sao đã dắt dìu tôi qua bao nhiêu sóng gió để có ngày hôm nay sắp cập bến yên hàn.
Nói vậy, nhưng đó chỉ là nguyên tắc, là ước nguyện chứ trong thực tế, một cuộc đời như tôi khác nào như một dòng sông quả không biết bao nhiêu khúc, chảy tới không biết bao nhiêu vùng, đón nhận, giao tiếp với bao nhiêu nguồn tư tưởng, dính dự vào bao nhiêu sự việc, về mặt tâm lý, thật khác nào như một bát thập cẩm “tạp pí lù” mà trong ấy, Kitô-tính tuy là phần chủ yếu, là yếu tố tổng hợp, nhưng sự tổng hợp ấy chưa được hoàn toàn nhuần nhuyễn, đôi khi từng mảng vẫn rơi ra như sống biệt lập, gây xung khắc rối loạn nội tâm; có đôi lúc suy nghĩ, cảm xúc như một ông đồ nho, có đôi lúc gần như một kẻ nương náu cửa thiền, thỉnh thoảng lại gần như người trí thức tư sản vô tín ngưỡng, không hiếm khi tưởng như cán bộ xã hội chủ nghĩa. Và ngay trong Kitô-tính cũng không thuần nhất: khi thì hướng về lý tưởng “ẩn tu”, khi thì ao ước được trở thành một Gabriel Marcel chẳng hạn! Nói ra mà xấu hổ, có khi muốn là Linh mục, nhậm chí là giám mục nữa kia!!! Có lúc lại nghĩ rằng dòng họ mình chưa có ai là Công giáo, giá như mình có con cháu là Công giáo, thì sẽ có người mang họ Nguyễn - Khắc mà thờ phượng Chúa, phục vụ Hội thánh. Lắm lúc tâm tư như cả một chiến trường, các xu hướng lôi kéo đủ mọi nẻo! Rồi những vấn đề của xã hội, của Hội Thánh Việt Nam trong Xã hội chủ nghĩa, suy nghĩ về một nền Thần học Viễn đông, một kiểu tu thích hợp với văn hóa Việt Nam, với Xã hội chủ nghĩa. Thậm chí có lúc hoài nghi đến cả sự trung thực của niềm tin của bản thân mình (chứ không phải về giá trị Chân lý khách quan và Nội dung đức tin), đến vị trí của Kitô giáo trong lịch sử Nhân loại, nhất là sự căng thẳng giữa hai xu hướng nhập thế và siêu thăng, lịch sử tính và cánh chung tính. Rồi chính bản thân: miếng cơm manh áo, mái nhà, khi ốm đau, lúc nhắm mắt; lại thêm tương quan với gia đình, phường khóm, chính quyền địa phương, với xứ đạo với giáo phận, với các anh chị em tín hữu thuộc mọi loại khi họ đến thăm viếng trao đổi về đủ mọi vấn đề! Và nặng nề nhất là cái cảm thức đã lãng phí đời mình với bao nhiêu là Ân sủng Chúa ban cho về mọi mặt. Tính sổ lại suốt cuộc đời gần như một cuộc ngao du tài tử không có gì tệ mạt lắm, nhưng cũng không có đóng góp gì nên thân cho gia đình, đất nước và Hội Thánh cả! Gần 10 năm dạy Đại học mà cũng không có nổi một giáo trình biên soạn hoàn thành! Bây giờ còn nói chuyện mua vui một vài trống canh nữa! Xin các bạn đọc, ai là tín hữu Kitô, hãy thương tôi, ngừng lại cầu nguyện cho tôi để Chúa dủ lòng thương tha thứ; Chúa đã đặt vào tay tôi khá nhiều vốn liếng về mọi mặt, mà tôi đã lãng phí hoàn toàn! Nay tôi biết Chúa Quan phòng đầy xót thương, đã chẳng nỡ để tôi mất linh hồn, nhưng theo Chúa, đâu phải chỉ để khỏi mất linh hồn, mà để góp phần vào cơ nghiệp chung! Nếu không được trang bị bởi bài học hoàn toàn phó thác vào Tình yêu thương xót vô cùng của Thiên Chúa do Thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu đã in sâu vào tâm khảm thì tôi đến phải ngã lòng!! Và nếu không tin vào sự che đậy nhờ Tà áo tuyết trinh của Đức Mẹ Maria, thì tôi chẳng biết còn mặt mũi nào mà ra trình diện Chúa giờ đây. Tôi càng ngày càng thấy sự sâu xa thấm. thía của lời kinh: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử”. Đó là mảng bè cuối cùng cứu vớt dành cho những tấm linh hồn đã chìm tận đáy sâu vực thẳm được ngoi lên. Có nhiều lúc tôi thấy lời kinh nào cũng không thành thực, chỉ có lời kêu cứu đến Đức Mẹ là còn chân tình. Và rõ ràng chỉ có Giá Máu cực trọng của Con Đức Chúa Trời mới đền bồi cân xứng mà thôi! Những tín điều trong sách bổn mà các em bé lên 10 đọc thuộc lòng, mãi đến nay tôi mới thấy là lời chân lý vàng ngọc, mọi suy tư biện luận chỉ là tiếng phèng la trống rỗng cho rộn ràng giảng đường lý thuyết trừu tượng và cảm xúc mau qua mà thôi! Bây giờ mới rõ Con Chiên gánh tội thiên hạ phải gánh những gì, và mình đã đặt lên vai Con Chiên ấy những gì. Chả trách nào Ngài phiền não đến toát mồ hôi máu, dưới bóng những cây dầu vườn Giệt-si-ma-ni! Và những lời suy niệm của Pascal bây giờ mới thật là hiểu thấu: “Chúa Giêsu quằn quại cho đến tận thế” và, “Hỡi con, Ta yêu hơn con mê đắm những điều gớm ghiếc ấy” – “Ta giành riêng giọt máu này cho con đó!”. Ôi, gánh nặng của một linh hồn lội lỗi! Chỉ có Tình yêu Thiên Chúa mới vác nổi mà thôi. Thì ra, cây thánh giá Ngài vác lên đỉnh núi Sọ chính là linh hồn của tôi đó mà thôi! cái cảm thức tội phạm về mặt thiêng liêng ấy kéo theo cái cảm thức tội phạm đối với gia đình và xã hội. Tôi đã rời bỏ gia đình, rời bỏ địa phương, trong một tình trạng không lấy gì làm vui tươi, đã gỡ mình khỏi mọi ràng buộc là để được tự do phụng sự Chúa trong một đời tu hành. Thế nhưng rồi lý tưởng tu hành không thực hiện được, chỉ suốt đời ngao du tài tử, thành ra sự tháo cởi khỏi ràng buộc gia đình và xã hội, chỉ là một sự trốn tránh! Do đó, sau năm 1975, gặp lại gia đình, gặp lại người cũ ở miền Bắc, tôi như bị đè nặng bởi một mặc cảm tội lỗi nào đó! Phụng sự Chúa cũng không! Phục vụ gia đình và xã hội cũng không! Và có lúc tôi nghĩ rằng thay vì nêu gương sáng đối với gia đình và người cũ ở miền Bắc, tôi đã làm gương xấu phần nào chăng? Và lắm lúc tôi có cảm tưởng những việc làm của tôi sau ‘75 phải chăng là – múa may quay cuồng, tìm bù trừ vớt vát một cách vô vọng, ví như tục ngữ có câu: “ăn năn thì sự đã rồi!”; “C’est trop tard, mon vieux!” – Có đáp lại “mieux vaut tard que jamais!”, thì cũng là vớt vát phần đuôi. Nếu không có gương người trộm lành được thứ tha vào phút chót, thì hai chữ “trop tard” làm sao cất nổi! Và rồi sẽ đến cái giây phút cuối cùng của đời tôi. Chỉ còn biết cầu xin Đức Mẹ như trong kinh kính Mừng để tôi còn được sáng suốt mượn lời hai vị thánh nữ Tê-rê-sa mà thưa lên với Chúa rằng: “Dù một mình con có phạm tất cả tội lỗi của Nhân loại, từ A-dam cho đến người cuối cùng, thì con cũng cứ sa vào lòng thương xót vô cùng vô tận vô biên của thiên Chúa! (Tê-rê-sa thành Li-di-ơ), và “Lạy Chúa, con chỉ là kẻ bội nghĩa bạc tình vong ân, đáng hư mất đời dời, nhưng điều an ủi con là con càng tệ bạc thì lại càng làm sáng tỏ rạng ngời lòng xót thương vô cùng vô tận vô biên của Chúa!” (Tê-rê-sa thành A-vi-la).
Và như vậy mai sau tôi cậy trông sẽ được cùng các vị như Ma-đa-lê-na, Marguerite Cortonne, Louise de la Vallière, Marie de Jésus (sáng lập dòng Cát-Minh Paris), mượn lời của chính Đức Nữ Đồng trinh Vô nhiễm mà rằng:
“Linh hồn tôi ngợi khen Chúa…
 Vì lòng xót thương của Người đến muôn thuở muôn đời! ”
Sự kỳ diệu chính là chỗ ấy: những linh hồn tội lỗi ấy mà cuối cùng còn được cảm tạ tán dương Lòng thương xót Chúa chứ nói gì đến những linh hồn thánh thiện như Gio-an tông đồ, Tê-rê-sa thành Li-di-ơ, Cla-ra, Lu-i Gông-da-ga, Đa-minh Sa-vi-ô, Maria Gô-rét-ti…
Tất cả những dòng tôi viết lên đây cũng chỉ muốn làm chứng lỗi một điều này: như tôi mà còn được vậy, huống hồ là anh chị em đâu đến nỗi như tôi, xin hãy vững lòng tin tưởng cậy trông đến với Chúa Giêsu, đến với Mẹ Ngài, rồi Hai Đấng sẽ ban cho được yêu mến Ngài muôn thuở. Amen.
Như tôi dã trình bày trên kia, nếu năm l975, tôi không được đưa đi học tập cải tạo, thì tôi sẽ phục vụ Hội Thánh có lẽ là dưới hình thức một nhân viên của Tòa Giám Mục Đà Lạt (có thể là có chức linh mục, mà cũng có thể là dưới dạng thức “người nhà Đức Chúa Trời” theo kiểu các kẻ giảng thuở đầu tiên của Hội thánh Việt Nam). Nhưng việc tôi bị đưa đi học tập cải tạo làm xáo trộn hẳn những dự định của tôi. Thành ra tôi lại tiếp tục sống cuộc đời của một tín hữu “đơn độc”, với ít nhiều khao khát một đời sống thiêng liêng có nồng độ cao, thiên về chiêm niệm ngay giữa đời với bao nhiêu là nghịch cảnh. Tình cờ, tôi được thông dự với rất nhiều anh chị em tín hữu khác cũng rơi vào tình trạng tương tự, do những biến cố năm 75 mà ra. Hiện nay rất nhiều tâm hồn ở vào tình trạng “dang dở” như vậy, khác nào kẻ đi trong đêm tối, mà không biết bao giờ bình minh ló dạng. Chỉ có khác ở chỗ lôi gần như có một kinh nghiệm về tình trạng “dang dở” ấy kéo dài khá lâu, từ năm 1954, nghĩa là trên 20 năm đằng đẵng, còn các anh chị em ấy thì đột ngột bị rơi vào tình trạng ấy, tình trạng của một thành phần đông đảo của Dân Chúa, mà lại là một thành phần tạm gọi là khá “ưu tú”, dáng lẽ ra có những chức năng, những vị trí đáng kể trong việc phục vụ Hội Thánh cũng như xã hội. Sau nữa, mỗi khi có dịp gặp gỡ trao đổi, tôi cũng có được phần nào để đóng góp cùng các anh chị em đang chung một lối sống trong cảnh mịt mù lạc lõng ấy. Có thể tạm ví như tôi là một kẻ lữ hành dã dầy dạn gió sượng, nay hoàn cảnh đưa đẩy, trên con đường lữ thứ bỗng gặp một số anh chị em đột xuất bị hất ra giữa dặm trường mưa gió, chưa quen đối phó với cảnh lang thang lạc lõng bơ vơ, thì trước hết là “đồng cảnh tương thân”, cùng cảm thông chia sẻ, sau là cố gắng trao lại những bài học đã thâu nhận được trên 20 năm qua giữa cuộc đời “một mình”, “lạc lõng”, “bơ vơ”, nhưng không đến nỗi sa chìm lạc lối. Và rồi, tự nhiên trong đáy tâm hồn tôi như có một cái gì vô cùng an ổn, có một cái gì như được triển nở âm thầm, rất kín đáo, rất e dè ngượng ngập, nhưng khá êm ả tươi mát an vui.
Đời “cư sĩ” vô danh về qui ước, về thể chế; chưa dám gọi là đời “độc tu”, vì không có cái ràng buộc chặt chẽ hiến dâng, với sự chấp thuận của Giáo quyền chính thức; nhưng có dáng dấp một đời tu được cộng đoàn nói chung nhìn thấy và tán đồng một cách mặc nhiên, với một tác dụng “chứng tá” tiềm tàng, bàng bạc, vô hình, có một sức gợi ý (suggestif) và mời gọi nào đó, ngay cả đối với những anh chị em ngoại giáo (kể cả những anh chị em xa, rất xa về nhân sinh - vũ trụ quan) vẫn có một tác dụng như một câu hỏi được dặt ra. Cái giấc mơ “am mây”, “lều cỏ”, với một “thiền sư”, “đạo sĩ” dưa muối nâu sồng, tuy không thực hiện được một cách cụ thể về hình thức, nhưng hình như thoang thoảng phảng phất vẽ lên được vài nét thoáng qua, như một sự mò mẫm tìm kiếm ướm thử, như một bản nháp, còn nguệch ngoạc lem nhem, nhưng có thể dần dần hiện lên vài nét rõ ràng, tuy chưa xác định hẳn!
Đôi lúc tôi thấy như một làn gió nhẹ thoảng qua với một đốm lứa lóe lên tận dáy tâm hồn, mà tự hỏi: phải chăng 20 năm dang dở, do sự tái tạo toàn năng của Thiên Chúa, lại trở nên như 20 năm tìm lối đường? Một cái gì còn dang dở chưa thành, nhưng không phải không có khả năng có được người tiếp tục dể sẽ thành. Nếu ví hồn tôi như một tổ chim, thì tàn gió ấy, đốm lửa ấy có cái gì mong manh, bấp bênh, có phần non yếu, như một chú chim mới nở, yếu ớt ngại gió sương, e có khả năng gặp nhiều điều không thuận lợi bên cạnh những chờ mong hứa hẹn, không có gì là bảo đảm chắc chắn trăm phần trăm! Đôi lúc nhìn lại đời tôi, tôi thấy như một gốc cây tàn tạ… nhưng rồi hình như bên một cành nách nào đó, hình như, chỉ hình như thôi, có một mầm non rất yếu ớt dang như có khả năng nứt chồi, với rất nhiều đe dọa bị héo khô, nhưng cũng có khả năng tăng trưởng; và nghe đâu đây có tiếng nhè nhẹ nứt mầm như vậy ở nhiều gốc cây khác, chưa tàn tạ, nhưng bị chặt ngang hông một cách phũ phàng trong lúc còn vươn lên đầy nhựa sống! Gốc cây tàn tạ, có giúp gì được cho những thân cây vững chắc bị chặt ngang lưng một cách thô bạo phũ phàng chăng? Trăm sự cũng nhờ Lượng Thánh trên ban!
Sau 30 năm xa cách, mẹ tôi đã phần nào nhìn thấy nơi tôi hình ảnh của người con lưu lạc trở về gặp mẹ, khi đầu đã có tóc hoa râm! Còn cha linh hồn của tôi khi tôi ở Pháp trở về Việt Nam, ngài liên tưởng đến Benoit Joesph Labre! Hai hình ảnh rất khác xa nhau: một bên là lưu lạc giang hồ nơi chốn bùn nhơ; một bên là hiến dâng cuộc đời hành hương khắp các nơi Thánh địa, với tâm hồn gần như băng tuyết! Tự kiểm lại đời mình, tôi nghĩ rằng có thể mẹ tôi, người mẹ thể xác, Anh sáng đức tin, nhưng đã thấy rõ được bản chất “lưu lạc giang hồ” giữa chốn bùn nhơ của đứa con lãng tử. Đó là xuất xứ của cái “tôi” đầy tội lỗi từ trong lòng mẹ như lời Thánh vịnh 50! Còn linh mục Pacifique Bình An, con cái vị Thánh khó nghèo, đã nhìn tôi xuyên qua cặp kính thánh thiện của ngài như ban phép giải tội, làm ngơ, xóa nhòa những vết bùn nhơ hoen ố, mà cố tìm cho ra những nét nào khả dĩ thâu nhận được vào kho lẫm muôn đời, nên đã phóng lên cái tấm màn rách nát hoen ố là thực tế đời tôi - cái hình ảnh tuyệt vời - của vị Thánh hành hương khất sĩ, như ban cho tôi lời kêu gọi cổ vũ, nâng đỡ khích lệ, an ủi, xoa dịu, như lời bà mẹ hiền vừa tắm rửa cái thân đầy ghẻ chốc của con mình, vừa an ủi: “Cố lên, mai sau khôn lớn con sẽ được trở nên cường tráng, lành mạnh!
Bên cạnh bà chị đã dạy cho tôi bài học phó thác vô điều kiện từ năm ‘75 đến nay, hình ảnh Thánh Benoit Joseph Labre hiện lên trong tâm tư tôi, như một sự phù trợ, một đỉnh non cao chót vót để cho tôi có nơi mà ngước mắt, trông lên, mặc dầu chân còn lún sâu dưới bùn lầy của vực thẳm. Ít nhất cũng có chỗ mà ngước mắt trông lên, trông lên như một lời tha thiết kêu cầu từ đáy vực sâu, như một sự cậy trông: Thánh nhân bầu cử cho mai sau, được đứng vào hàng cùng rốt của những kẻ đui què, mẻ sứt, la lết bên lề đường đầy bụi bặm rác rến, bỗng được người của Nhà vua gọi vào dự tiệc. Nhưng rồi áo đẹp ở đâu? Áo đẹp nào đáng để che đi cái thân cùi hủi hoen ố lở lói này? Áo ở đâu? Tôi bỗng sực nhớ, ngày 09-01-1949, sau khi tôi chịu phép rửa, cha xứ Nghĩa Yên đã khoác vào đầu tôi chiếc áo Đức Bà núi Cát Minh, mà nói: “Mặc áo này, con sẽ được ơn chết lành”. Thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng là nữ tu dòng Đức Bà núi Cát Minh! Tôi tin rằng tà áo của Đức Mẹ sẽ phủ lên hồn tôi khi ra trước mặt Chúa để nhận phép lành, như Gia-cóp đã nhờ mẹ cực khôn cực ngoan lấy da bọc lên mình để nhận phép lành của cha mình vậy. Và đi ngược dòng lịch sử, hình như suốt 2000 năm lịch sử Hội Thánh, không phải không có một dòng nước thiêng liêng theo dạng lờ mờ phảng phất tiềm tàng như vậy, mà những bông hoa trổi trang nhất là thánh Duon (thế kỷ l2), thánh Roch (tk l3), Thánh B. J. Labre (tk l8), và xa xưa có thể kể tên tiên tri Yê-rê-mi-a, Ê-li-a và trên hết là tổ phụ A-bra-ham, suốt đời lưu lạc, từ khi rời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn ở đất Lưỡng Hà! Lạc lõng, bơ vơ. Lữ hành, dang dở, nửa vời. Có thể chăng đây cũng là một khía cạnh nào đó chắt chiu trong cái thời đại mà hầu như không có lối, phải chăng đây cũng là một khía cạnh của chính Tình Xót Thương vô cùng của chính Tình yêu Thiên Chúa tái tạo? Và trong cái thời đại mà Nhân loại hầu như cũng lơ vơ lạc lõng giữa trăm ngàn vạn nẻo đường dường như không có lối, và phải chăng như thế cũng là một cách để thông dự “bước phong trần” chung? “Bắt phong trần phải phong trần!” đường đời gió bụi có một lữ hành hát bài “Kẻ lưu đày” của Lamennais (Emile): có thể chỉ là dạng của kiếp người muôn thuở. Trên đường lữ thứ ấy, rồi chỉ còn dấu chân lạc lõng in lại trên cát bụi, chỉ trong chốc lát, rồi gió cuốn mưa sa sẽ xoá nhòa không dấu vết!
Năm 1985, trong một cuộc tái ngộ của một số anh em bè bạn tụ họp sau gần 10 năm ly tán, trong tiếng đàn nhạc vui buồn, đáp lời yêu cầu của các bạn, tôi đã ngâm mấy câu thơ sau đây:
Trái tim Mẹ là chiếc thuyền bát nhã
Vớthồn con phiêu bạt biển trầm luân,
Trái tim Mẹ là trùng dương bát ngát
Nơi chảy về muôn suối lệ của trần gian,
Trái tim Mẹ là ngọc tuyền lai láng
Nước cam lộ xoa dịu mảnh hồn đau,
Trái tim Mẹ là nguyện đường mầu nhiệm
Nơi hồn con chiêm ngưỡng Chúa Tình Yêu.
Mẹ là chiếc mâm vàng đôi đũa ngọc,
Con là hoa hèn cỏ mọn tiến dâng lên.
Và cỏ mọn hoa hèn nên đẹp mắt
Đấng muôn trùng khứng nhận đời con!
“Kể chuyện đời mình” nói là mua vui một vài trống canh, nhưng trong thâm tâm là gói ghém cỏ mọn hoa hèn, liều lĩnh đặt vào chiếc mâm vàng có đôi đũa ngọc, với lòng cậy trông sẽ được Đấng Muôn Trùng khứng nhận trong Lượng thương xót vô cùng vô tận vô biên. Amen.

23. LỜI KẾT: ĐƯỜNG CHÚA ĐƯA TÔI VỀ
Đã gọi là “mua vui” thì tôi xin mời các bạn, ta giả sử như sau: Thân phụ tôi đậu đại khoa, làm quan đến Nhất phẩm đời vua Minh Mạng (là thời thịnh trị nhất của nhà Nguyễn) và như thế thì tôi lúc 61 tuổi có thể cũng là một cụ Nghè, một cụ Thượng hồi hưu? có phong ấp giữa sự kính nể của nhân dân, con cháu sung vầy, sống trong một thời tạm gọi là có vài nét của Nghiêu Thuấn xa xưa! Đứng về mặt tâm lý tự nhiên, đó là giấc mơ thâm sâu nhất trong tiềm thức tôi, chảy trong huyết thống tôi, có lẽ bắt đầu từ cụ tổ Nguyễn Khắc Vặn, đời Lê Trung hưng, cả một cây gia phả Nho gia mà thân phụ tôi là đóa hoa cuối cùng, “nở bất phùng thời” như lời vua Thành Thái nói với người trong sân rồng, lúc thi Đình. Một giấc mơ tiêu biểu một sự tàn lụi, mà năm 1945 chỉ là giây phút cuối cùng chứ có lẽ đã bắt dầu từ khi vua Hàm Nghi bị bắt và cụ Phan Đình phùng mất đi, để lại một phong trào Cần Vương tan rã. Sau đó có lẽ đã nỗ lực bừng lên một lần nữa phong trào Kỳ ngoại hầu Cường Để, với hình ảnh đẹp đẽ của cụ Phan Bội Châu, nhưng hoàn toàn bị dập tắt hẳn dưới gót sắt của phát xít Nhật! Chiếu thoái vị của Bảo Đại chỉ là một dư âm của một bóng ma trên cửa Ngọ môn.
“Nghiêu Thuấn”, “tu tề trị bình”, “chí ư chi thiện”, đó là cái mầm lý tưởng đã được gieo vào đáy tâm hồn tôi! Nhưng khi biết suy nghĩ thì cái mầm ấy đã chết hẳn rồi. Tất cả những gì bi quan yếm thế tận đáy tâm hồn tôi có thể bắt nguồn từ đó. Thế giới lý tưởng của Nho giáo có thể ví như vườn địa đàng, mà người con của thân phụ tôi bị đuổi ra vĩnh viễn như A-đam vậy. Mà kẻ phạm tội phải chăng là triều thần thời Tự Đức đã không nghe lời cụ Nguyễn Trường Tộ? Cũng không chắc là nếu cụ Nguyễn Trường Tộ được nghe theo thì tại nước Việt Nam ngày nay có một nền văn hóa tổng hợp hài hòa được lý tưởng Nghiêu Thuấn và văn minh cơ giới Âu Tây hay không (không chắc lắm, vì xem như Nhật Bản bây giờ thì cuối cùng hoàn toàn là một dạng văn minh cơ giới hóa rơi vào quỹ đạo của tư bản Mỹ). Nhưng với sự suy vong của nhà Nguyễn, là nền văn hóa cơ giới Âu Tây hoàn toàn thắng. Cái tuyệt vọng của các nhà Nho trên nước Việt Nam này đã thấm vào hồn tôi qua giọng ngâm thơ trầm buồn của thân phụ tôi trong ánh hoàng hôn ở thành nội Huế. Tôi gần như hoàn toàn dị ứng với nền văn hóa Âu Tây. Chính vì thế mà Pascal trở nên lôi cuốn đối với tôi, và thái độ hờ hừng với thế cuộc cũng do đó mà ra. Bởi vì cái nền văn hóa Âu Tây hiện nay đang bành trướng khắp thế giới (dưới bất cứ dạng nào) thật khác hẳn với các nền văn hóa ngoại giáo ( païen) như văn hóa cổ đại trước công nguyên, hay các nền văn hóa khác trước lúc chủ nghĩa thực dân và đế quốc lan rộng. Các văn hóa này có cái gì đó vô tội (innocent), trinh nguyên (vierge) có khi lên cao nhờ ánh sáng lý trí tự nhiên (Khổng, Lão, Ấn Độ giáo, Phật giáo, Platon, Aristote) có giá trị lành mạnh (sain) một cách tự nhiên. Còn cái văn minh Âu Tây sau thế kỷ 16 là văn minh của thời Phục Hưng ở châu Âu, một nền văn minh đã phản Chúa, bỏ Chúa, trở lại với cổ đại, sau hơn 1000 năm được nuôi dưỡng bởi Kitô giáo. Nó không có sự hồn nhiên vô tội trinh nguyên (pré-adamique) như các văn hóa ngoại giáo tự nhiên (pa ï en), nhưng ngược lại, nó có mầm mống phản thần (Anti-théisme) của một kẻ phản Chúa! Nó không còn là minh triết (sagesse) tự nhiên vô tội mà là cái “khôn ngoan” của ma quỷ, như thánh Phaolô đã mô tả! Phản ứng của các nhà Nho thời Tự Đức không phải là không có lý do của nó. Ngay cả vụ án Galilée cũng vậy. Bên trong cái khoa học kỹ thuật, có một chất độc như quả cấm vườn địa đàng là quả của sự biết, cái “biết” của Xảo Trí (intelligence satanique) chứ không phải của Trí Huệ Nhân loại tự nhiên (Sagesse naturelle humaine), lại càng không phải là Thánh Trí (Sagesse divine).
Sự thất bại của một ước mơ Nghiêu Thuấn, thật ra không phải đợi đến năm 45, năm 75 hay là bất cứ năm nào, bất cứ một biến cố nào mới làm thất vọng những tâm hồn vốn khát khao một cái gì hoàn hảo. Chỉ nói ngay tại Việt Nam, ngày trước các nhà Nho cuối triều Nguyễn có cả một chuỗi nhà nho rút lui ẩn dật vì thấy cuối cùng điều mơ ước của mình thấy không đạt: La Sơn Phu Tử, Hải Thượng Lãn Ông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Chu Văn An và Tô Hiến Thành (dưới một dạng nào đó), kể cả một người đã thành đạt lẫy lừng như Nguyễn Trãi. Và ngay từ ban đầu, cụ Khổng chu du khắp thiên hạ, thấy vương đạo chẳng ai chịu thi hành, cuối cùng đành rút lui về dạy học! Đối thoại giữa Mạnh Tử và Lương Huệ Vương về nghĩa và lợi có thể có một giá trị muôn đời. Xét theo thời thế hiện tượng bên ngoài thì cuối cùng, ở trần gian này, lợi vẫn thắng nghĩa, bạo tàn chà đạp nhân ái. Do đó, cả một dòng tư tưởng yếm thế mà hình ảnh là Sào Phủ và Hứa Do, ẩn dật lánh cõi đời ô trọc để ít là giữ lấy phẩm hạnh của bản thân mình: “Độc thiện kỳ thân”. Suy cho thật kỹ, có lẽ một nhà Nho bất dắc dĩ, sinh bất phùng thời, treo ấn từ quan, mây ngàn hạc nội mới là giấc mộng đầu tiên tự đáy tiềm thức của tôi: Đào Tiềm, Bạch Vân, Hạnh Am, Tố Như, các nhà Nho như Võ Liêm Sơn, Võ Bá Hạp, Nguyễn Mai (chắt đích tôn của cụ Nguyễn Du) và một số các cụ tú, cụ cử, cụ phó bảng, cụ nghè không ra làm quan vẫn như có sức hấp dẫn lôi cuốn tôi. Trước 45, các thày Tạ Quang Bửu, Cao Xuân Huy, Đào Duy Anh ở Huế, Đặng Thái Mai ở Hà Nội, không phải không có ít nhiều dáng nét nhà Nho (hiểu theo nghĩa rộng: kẻ sĩ) bất phùng thời ra dạy học. Và tôi tự hỏi, trừ 30 năm 45-75 mà dân tộc ta bước lên đài vinh quang của cuộc kháng chiến lẫy lừng trong đó kẻ sĩ được phùng thời (mà dại tướng Võ Nguyên Giáp có lẽ là tiêu biểu), nhưng từ 75 trở về sau rồi sẽ ra sao? Xin dành cho lịch sử trả lời. Tôi chỉ xin đặt câu hỏi thôi, và hình như hình ảnh Phạm Lãi là câu giải đáp!
Đó là nói về lý tưởng xã hội Nghiêu Thuấn với “vương đạo” còn lý tưởng con người cá nhân theo đạo thánh hiền thì: Khổng Tử, Chu Công là thuộc về quá khứ hoàng kim: còn suốt hơn 2000 năm qua, ở Viễn Đông chỉ có 2 vị là được hậu thế tôn vinh lên bậc “hiển thánh”: Quan Vân Trường ở Trung Quốc và Trần Quốc Tuấn ở Việt Nam. Cụ Khổng cuối cùng chỉ được hai người học trò giỏi mà thôi! Thế nhưng dưới gót ngựa của 2 vị hiển thánh ấy, suy cho cùng, bao nhiêu là xương máu! Có Vương Đạo, có Thánh hiền đi nữa, trần gian cũng đầy nước mắt mồ hôi và xương máu. Huống chi là khi bá đạo và tiểu nhân lên nắm mối giềng thiên hạ! Giấc mơ đại đồng của cụ Khổng phải chăng là giấc mơ địa đàng đã vĩnh viễn khép cửa, và chỉ mở ra khi Con Người trở lại? Xin thú thực ở đây rằng: hình ảnh nhà Nho bất phùng thời cũng làm cho tôi không mấy tin tưởng về tác dụng thiết thực của các thông điệp của các vị Giáo Hoàng về vấn đề xã hội trần thế. Khác nào lời rao giảng của Yoan Tiền hô giữa sa mạc. Thiên hạ không chặt đầu cho là may lắm rồi! Bởi vì phe nào cũng sẽ bất bình và đổ lỗi cho là người nằm vùng của phe kia. Cũng tựa như Tổng Giám mục Paris bị tử nạn khi liều thân ra can ngăn cuộc tương tàn trong biến cố Paris công xã.
Biết thế nhưng rồi, như trong bài thơ vịnh cuộc đời của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, tôi đã có câu: “Tình dân nghĩa nước ai không nặng”. Cho mãi đến năm 75 tôi vẫn cứ bồn chồn về thời cuộc. Kể cũng thật vô tích sự! Bồn chồn một cách vô vọng, vô tác dụng, chỉ mong được tất cả không cảm cho rằng: ít nhất tôi cũng như nhân vật Trajan trong cuốn “Giờ thứ 25” thấy mọi người bị mưa tuyết dãi dầu, mình đứng yên dưới mái nhà không đành, nên cũng ra đứng ngoài trời, ít ra là cùng chung số phận với anh em. Năm 65 tôi về Việt Nam, hầu hết bạn bè ở Pháp, ngay cả vị giáo sư bảo trợ luận án tiến sĩ cũng bảo tôi là điên! Rõ ràng “Cây cao bóng mát không ngồi, em ra đứng nắng trách trời không im”. Thay vì an bình trong một viện tu trên bờ hồ Leman, hay một ghế dạy học ở Pháp hoặc một công tác ở Unesco như một số bạn bè, lại khăn gói về Việt Nam để chẳng làm nên tích sự gì cả về bất cứ bình diện nào! Có chăng là còn để lại cái gì trong hoài niệm của một vài sinh viên đang khuya gõ cửa vào xin trú ngụ qua đêm rồi sáng mai lại rũ áo ra đi, hay của một bạn cùng trại học tập, chia đôi miếng đường tán cuối cùng, một viên Tyfomycine cuối cùng (với một đêm nguyện cầu phấn đấu như đã thuật lại trên kia) và cuối hết là những dòng mua vui tẻ nhạt này? Paul Claudel hình như có lời kinh xin Chúa ban cho được như hạt bụi trên quãng đường xa khách hộ hành đạp chân lên, bước qua đi không hề hay. Đúng, miễn là không đến nỗi như cái gai hay viên đá nhọn đâm thủng chân khách qua đường là tạm được. Nếu Chúa ban cho như gốc cây quán nước, khách ghé lại dừng chân chốc lát rồi lại ra đi, thì cũng là quá sức hèn mọn của mình rồi, chỉ nhờ ơn Chúa ban mới được đó mà thôi.
Giấc mộng Nghiêu Thuấn không thành, và động Phi Lai cũng không cầm chân được, nên rồi lại lủi thủi rời khỏi thiên thai (giây phút rời bỏ dòng Biển Đức trở về cõi tục) để trở lại cuộc đời lưu lạc, để như Từ Thức thấy mình lạc lõng bơ vơ làm thân một “moine manqué”, - manqué: “lỡ tàu”, bất phùng thời. Nhưng thời ở đây là thời vạn kỷ thiên thu của một cõi trần đã tách lìa cùng Thiên Chúa, không còn mong một cuộc tao phùng nào nữa!
“Cửa động đầu non đường lối cũ,
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!”
Mà trần gian có gì lôi cuốn hấp dẫn tôi đâu? Tại sao tôi lại từ giã non tiên để trở về cõi tục như vậy? Hình ảnh Trajan trên kia chẳng qua chỉ là tự biện minh và tự an ủi! Âu cũng chỉ còn biết nhắm mắt phó thác cho Lượng từ bi vô cùng vô tận vô biên của Thiên Chúa mà thôi!
Rồi lại một giấc mộng thứ hai mà tôi tạm đặt tên là giấc mộng “Kim Kiều”. Đối với nhà Nho nào đó (và có lẽ đối thân phụ tôi cũng thế? ). Ái tình là zéro. Nhưng đối với cậu bé đã đọc trộm “tiểu thuyết thứ bảy” và các tiểu thuyết trữ tình của phong trào lãng mạn, từ “giọt lệ thu” của Tương Phố, cho đến “Bướm trắng” của Nhất Linh, đã khóc sướt mướt khi đi xem tuồng cải lương “Tắt lửa lòng” do nữ danh ca Năm Phỉ đóng vai Lan, đã thuộc từng đoạn dài của “Đoạn trường tân thanh”, cộng thêm vào những vần thơ của Lamartine, những đoạn văn của Chateaubriand, đã đọc đi đọc lại bao nhiêu lần “Paul et Virginie”. Atala et René” thì ái tình lại được tuyệt đối hóa dưới dạng “thất tình”, toàn là những mối tình bất khả; Ái tình là tất cả mà kết quả lại là zéro! Trong tiềm thức tự nhiên và ngoại giáo (païen) đã như in sâu cái cảm thức hôn nhân và tình yêu là mâu thuẫn! Đúng hay sai về phương diện tâm lý, thể lý, triết lý và thần học thì không nói tới, nhưng tâm hồn tôi là như vậy. Một cảm thức (đúng hơn là quan niệm) hoàn toàn platonique về ái tình! Tâm chứng của tôi có lẽ phần nào bắt nguồn từ đó. Lúc được tiếp cận với chân lý Kitô giáo về ái tình và hôn nhân trong bí tích hôn phối thì quá trễ, và hoàn cảnh gia đình, xã hội lại không thuận lợi cho việc lập gia đình, cho nên mãi đến nay - việc tôi sống độc thân cũng là một cái gì dang dở? không phải là tự nguyện hy sinh một hạnh phúc vì tình yêu Thiên Chúa, cũng không phải là sợ gánh nặng thê nhi (trái lại, nhiều lúc tôi hối tiếc không có kẻ thừa kế để dòng họ Nguyễn Khắc có kẻ thờ phượng Chúa mai sau); nhưng hình như trong tiềm thức (hay siêu thức?) vẫn có cảm thức rằng ở trần gian này không thể có tình yêu hoàn hảo, cũng tương tự như ở trần gian này không có vương đạo; Nghiêu Thuấn chỉ là huyền thoại, thì Kim-Kiều có tái hợp cũng chỉ là “đổi duyên cầm sắt ra duyên cầm kỳ”. Lời reo vui của Adam phút đầu tiên được thấy Eva cuối cùng kết thúc là một lời đổ lỗi chối quanh: “Tại người nữ mà tôi ăn quả cây cấm”.
Bức ảnh Thánh Tâm với Yoan Tông đồ dựa ngực mà tôi được lãnh thưởng thuở 14, 15 khi còn là ngoại giáo, và mối tình giữa Phanxicô nghèo khó và Chúa Giêsu, giữa Têrêxa Hài Đồng với Chúa Giêsu, như chỉ cho tôi thấy mộng Kim-Kiều chỉ thực hiện được và đã được thực hiện trong trái tim của Con Người Nadaret đã bị lưỡi giáo đâm thâu. Và tôi học thuộc lòng đoạn cuối của bài “Hiến dâng cho tình yêu xót thương của Thiên Chúa” mà Têrêxa Hài Đồng đã đọc vào lễ Chúa Ba Ngôi năm l895; không phải tôi dám tự dâng mình như Thánh nhân, nhưng để ngước mắt nhìn lên một ánh đuốc soi đường. Và từ đó tôi luôn bị ám ảnh bởi một cuộc đời tu trì chiêm niệm và nguyện gẫm (oraison) là nền tảng cho linh đạo dòng Cát Minh; Đó là nguyên nhân của những bất ổn trong những năm ở dòng Phanxicô sau khi mãn thời gian nhà tập. Và đây là cả một sự lệch bước sa lầy kéo dài có thể nói là từ năm l951 đến năm 1984: trên 30 năm trời, mà trên đây tôi đã tạm gọi như là lệch bước “ngộ đạo” (gnosticisme) và đời thần hiệp (mystique) một cách ít nhiều vô thức!
Chúng ta biết rằng tình yêu lý tưởng (platonique) một mặt vẫn là duy kỷ (amour de concupiscence) vẫn là Eros, là một chuyển vận khao khát có vẻ hướng thượng từ dưới vươn lên cao, nhưng cuối cùng cũng chỉ là tìm thỏa mãn cho mình (dù là mình tâm linh cũng chỉ là mình bằng cách chiến hữu một đối tượng lấp đầy một khao khát của mình). Tình yêu này hoàn toàn duy kỷ và vị kỷ! Do đó, tính cách hướng thượng ở đây rất đáng đề phòng, chính vì nó có tính cách cao thượng. Như câu Ngọc nói với Lan trong “Hồn bướm mơ tiên”: “yêu trong tâm hồn trong lý tưởng”, nghe qua thì cao đẹp biết bao! Nhưng tình yêu ấy thật ra cuối cùng cũng chỉ là một “hưởng thụ” trong tinh thần nhưng vị kỷ. Xin dùng một từ hơi thô tục: là một cuộc “thủ dâm” tinh thần tay đôi mà đơn độc! “thủ dâm tinh thần” vì cuối cùng, đương sự tìm thoả mãn vị kỷ trong sự xúc cảm thiêng liêng đầy an ủi ngọt ngào (consolation spirituelle, douceur spirituelle) và luôn muốn được hưởng thụ (jouir) qua một sự cảm xúc tự thức thực nghiệm (expérience sentie, vécue, directe, consciente) cuối cùng trở thành một sự dính bén, ham hố, hưởng thụ, hoàn toàn là một dục vọng, cho dù là thiêng liêng cũng chỉ là dục vọng, là một sự “tham lam thiêng liêng” (gourmandise spirituelle). Tâm hồn cuối cùng cũng chỉ đi tìm khoái lạc dù là khoái lạc thiêng liêng. Tự nó thì không có gì là xấu, cũng như bất cứ khoái lạc vật chất nào, tự nó không là xấu: ăn ngon, hiếu tri, thẩm mỹ, khoái cảm ái ân – đều là do Thiên Chúa tạo ra cho con người sử dụng để tự thể hiện chính mình. Thế nhưng, nếu bám víu một cách ham hố, hưởng thụ một cách duy kỷ và vị kỷ thì đều là một thứ “thủ dâm” cả. Và còn nguy hiểm hơn cả thủ dâm phần xác, vì nó tế nhị, tinh vi khó lật tẩy cho lộ diện ra. Tham ăn, dâm dật thì ai cũng biết là xấu: còn tìm kiếm bám víu sự “ngọt ngào an ủi thiêng liêng” với thái độ hưởng thụ duy kỷ, thì khó lòng nhận diện. Tệ hơn lại còn bị lầm tưởng rằng vậy là yêu mến Chúa: Quả là thần sự tối khoác áo thần sự sáng một cách tinh vi.
Đọc Têrêxa Hài Đồng và Yoan Thánh giá, đáng lẽ ra tôi phải ý thức điều ấy mà cảnh giác, thế nhưng cái nếp “tình yêu lý tưởng” (amour platonique) đã quá ăn sâu vào tiềm thức nên có thể nói: tôi như bị một tấm màn che mắt không cho thấy. Tôi tự hỏi có phải vì tấm màn che mặt quá dầy mà Chúa phải để cho tôi “trầy da tróc vẩy” trên 30 năm trời, như dân Chúa lạc lõng 40 năm trong sa mạc, mới chọc thủng tấm màn ấy chăng? Tôi đã hiểu câu: “Ai khát hãy đến” một cách “xác thịt” (xác thịt được hiểu theo nghĩa Kinh Thánh: chair et esprit, “charnelle” chứ không hiểu theo Platon: corps et âme). Do đó mà tôi gọi 30 năm ấy là một cuộc “mộng du”. Thay vì mộng Nghiêu Thuấn & Kim Kiều, tôi đã theo đuổi mộng “thiên thai” ngụy trang dưới tà áo của Đức Mẹ núi Cát Minh.
Nhưng đây lại là PHÉP LẠ VÔ CÙNG VĨ ĐẠI: Tà áo Đức Mẹ núi Cát Minh, dù bàn tay tội lỗi của tôi đã dùng làm ngụy trang, vẫn đủ quyền năng cứu rỗi hồn tôi. Những hoa hồng do bàn tay Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng đã ngắt từng đóa lót dưới chân Chúa Giêsu, từ những bước ngày thơ ấu cho đến chặng đường cuối lên núi Sọ, cuối cùng cũng mở mắt tôi ra cho tôi thấy mình đã lạc đường. Và giây phút ấy là đêm 30-3-1975 lúc tôi nằm dưới đường mương sau nhà Hòa Lạc, nhìn trường Võ Bị của chế độ cũ miền Nam: mìn nổ, đạn nổ, lửa bốc lưng trời, như một giờ tận thế. Do đó, tôi đã gọi năm 75 là cuộc “trở lại thứ hai” của tôi tưởng không quá lời! Và hình như đối với nhiều tâm hồn khác, năm 1975 cũng là năm của một cuộc trở lại thứ hai, và đồng thời cũng là năm của nhiều cuộc trở lại thứ nhất, như tôi đã được sống trong những năm 45-49 về trước (sau 75 cũng có nhiều người tòng giáo như tôi năm l949).
Có một điều rất lạ, là cuộc trở lại lần đầu của tôi đã do tự một mình tôi mò mẫm và nhờ biến cố khách quan như xô đẩy, thì cuộc trở lại lần thứ hai cũng vậy: tôi đã gặp nhiều Linh mục giàu kinh nghiệm về đời sống nội tâm, mà không có một vị nào nói cho tôi thấy điều tôi phân tích trên. Nói thế bởi lẽ chính tôi đã đọc Têrêxa Hài Đồng và Gioan Thánh giá cách đây trên 30 năm, đã bao nhiêu lần đọc đến đoạn các Ngài nói về “dính bén” những cái thiêng liêng, thế mà tôi đâu có nhận ra mình còn vương nặng phải cái tật ấy - cái “tật” làm cho đời sống thiêng liêng của tôi cứ “lợn cợn” mãi!
Cái “tật” bám víu ấy có thể giải thích được như sau: đối với những người đạo dòng, thì từ thuở bé đã được sinh sống trong một thế giới của “Đức tin” thuần túy, có thể nói không có màu sắc “thần hiệp” (mystique); rồi nếu được ơn gọi cách riêng mới từng bước đi vào đời thần hiệp, nếu không thì cũng vẫn sống trong thế giới đức tin thuần túy tin (phúc cho những người không thấy mà tin). Còn tôi thì có thể nói rằng sự tìm kiếm của tôi đã được Thiên Chúa đáp lại bằng một sự tỏ mình trực tiếp; cho nhận thấy Ngài, gặp được Ngài, nếu không phải là thần hiệp thực thụ, thì cũng được nếm một sự cảm thụ trực tiếp nào đó chứ không phải là đức tin thuần túy - trần trụi (foi pure toute nue). Tình trạng “Á-thần-hiệp” ấy được kéo dài trong những ngày tháng từ sau khi chịu phép Rửa cho đến hết năm nhà tập. Hết năm nhà tập, bị kéo ra khỏi môi trường ấp ủ để theo đuổi chương trình của học viện, tôi cảm thấy như bị “thôi nôi”, cứ nuối tiếc mãi cái thời kỳ trăng mật và cứ tìm kiếm khắp nơi, đúng là nạn nhân của cái tật tham ăn thiêng liêng! Sở dĩ mấy tháng sống ở tu viện nhỏ tại miền Bắc nước Pháp, trước lúc sang tu viện chính ở Thụy Sĩ, tôi cảm thấy được an ổn vì lòng tham lam thiêng liêng ấy được thỏa mãn! Nói cách khác tôi cứ muốn được thấy, được cảm xúc (sentir) được thực nghiệm (expérience directe) chứ không chịu bước vào thế giới đức tin thuần túy, sống trong sự chờ đợi và yêu mến hiến dâng (agape). Thời gian ấy, tôi cứ đi tìm tới từ linh đạo này sang linh đạo khác, chẳng qua là đi đuổi tìm một kỹ thuật, một cách thụ động gần như máy móc chắc ăn (méthode sure 100%) tự nó sẽ đưa tôi đến tình trạng “thần hiệp” trực tiếp ngay ở đời này và liên tục vĩnh viễn. Nói cách khác, tôi muốn phá cửa địa đàng để sống mãi cái tình trạng như trước thời tội tổ tông: chiều nào Chúa cũng ngự xuống vườn, cùng dạo chơi với tôi trong làn gió chiều mát nhẹ.
Có thể dùng hình ảnh sau đây để lý giải sự lệch bước của tôi: đôi tân hôn sau thời kỳ trăng mật thì phải đến lúc rời xa nhau để lo việc xây dựng gia đình: người chồng thì đi xa mưu sinh, người vợ thì tảo tần trưa sớm. Tôi không biết như vậy, mà cứ muốn kéo dài thời trăng mật trong phòng hoa chúc, kéo dài mãi mãi đêm tân hôn và ngày vui tiệc cưới, chứ không biết rằng: tình trạng ấy chỉ có khi nào Ngài trở lại đưa tất cả vào cõi trời mới đất mới, mới thể hiện một cách vẹn toàn, liên tục và vĩnh cửu. Có thể nói, tôi cũng như Madalena, sáng sớm Phục sinh, chỉ muốn nắm lấy, đeo đẳng lấy Chúa, mà không biết rằng, không được đụng tới Ngài (hoặc không được cầm Ngài lại) phải rời xa Ngài mà đi loan tin Phục sinh cho anh em (hoặc là đời hoạt động ở trần gian, hoặc là đời hiến dâng trong sự đợi chờ thuần túy tin-cậy-mến tình nguyện). Thái độ của dân Israen hay vòi vĩnh trong 40 năm lưu lạc ở hoang địa cũng vậy. Đó là xu hướng tự nhiên của bản năng thần hiệp nhân loại thuần túy, chưa được siêu nhiên hóa trong Đức Kitô (tendance mystique naturelle purement humaine, pas encore purifée, surnaturalisée dans le CHRIST).
Do đó ngày nay nhìn lại, tôi nhận định như sau: Đành rằng dạng các dòng tu cổ điển Tây phương không phù hợp với tâm hồn Á đông và Việt Nam của tôi, có làm cho sự không ổn của tôi thêm phần trầm trọng, nhưng nguyên nhân chính cho sự bất ổn của tôi là xu hướng “thần hiệp tự nhiên” nói trên; vì thế mà phải có một sự thanh lọc lâu dài mới hết lợn cợn khỏi những tật đã ăn sâu: Tình yêu lý tưởng (platonique), duy tâm cực đoan (désincarné), duy kỷ (égocentrique) tham ăn thiêng liêng (gourmandise spirituelle; érotisme spirituel), chủ nghĩa nội tại (immanentisme), chủ nghĩa kỹ thuật thiêng liêng (technicisme spirituel) thiếu hẳn chiều sâu siêu nhiên (surnaturel) và siêu việt tính (trancendance) và ân sủng tính (don gratuit) của đời chiêm niệm Kitô giáo đích thực. Khát vọng tu trì của tôi do đó không đạt kết quả như đáng lẽ phải có, và trở nên dang dở, không vẹn toàn triển nở mãi cho đến sau cuộc trở lại 1975.
Thế rồi tôi bị vất trở lại thế trần cùng với tình trạng dang dở và lợn cợn. Giả như tôi được vào Sorbonne ngay từ năm 1945-46 thì có thể tôi đã trở nên một trí thức vào hạng khá. Nhưng sau khi đã nếm qua cái hương vị đời tu trì mà trở lại trần tục, tôi khác nào như Từ Thức lúc rời khỏi thiên thai trở về trần thế, đi đâu cũng thấy mình lạc lõng mang thân phận “trích tiên”. Và đó là cũng một cảm thức, một quan điểm còn quá nặng mùi ngoại giáo. Trong cái nhân sinh và vũ trụ quan đa dạng, phong phú và biện chứng của Kitô giáo giữa các phạm trù “vật”-”tâm”, “thế gian”-”thiên quốc”; “thế gian”-”vĩnh cửu”; “hoạt động”-”chiêm niệm”, tôi đã có thái độ cắt chia (séparer) thay vì phân biệt (distinguer) đúng đắn để có một sự bổ túc hài hòa; tôi là kẻ có xu hướng “hoặc, hoặc” thay vì “vừa, vừa” (“aut, aut” thay vì “et, al”).
Cách sống tài tử của tôi trong những năm sinh viên và giáo sư là bắt nguồn từ một quan niệm bi quan nửa vời dựa trên một quan niệm “phi hóa vũ trụ” (acosmique) và cuối cùng gần như phủ nhận, nếu không nói là trách cứ vào chính sự sáng tạo của thiên Chúa, và kết quả có thể đi đến thái độ phản loạn “non serviam” tôi xin phân tích rõ như sau: trong những ngày tháng quá đau khổ trước lúc được chịu ơn Thánh tẩy tôi đã có lúc lồng lộn hét to: “Créateur! Si tu existes, je te hais!”: “Tạo Hóa, nếu ngươi có, ta căm thù Ngươi!” Nhân vật Ivan trong cuốn “Anh em nhà Karamazov” cũng có thái độ tương tự. Và mặc dù sau khi rửa tội, tôi tin rằng tạo vật được dựng nên là do tình yêu Ân tứ, và tự nó, mọi sự đều là tốt lành, nhưng tận đáy tiềm thức thì có phần nào vẫn còn sót lại khả năng cái cảm thức “Hữu là khổ thậm chí còn là cái ác, là sự dữ”. Thời gian 56-65, tuy phong trào dấn thân có phần nào lôi cuốn tôi, nhưng chỉ ở bình diện tri thức và có phần nào “đua đòi” anh em, chứ bản thân tôi thì vẫn rất nặng cái tâm thức coi đời là bể khổ, tình là giây oan, rũ áo phủi bụi, mặc cho thế sự xoay vần.
Tôi xin tạm phân tích hai quan niệm tu hành. Nói chung, quan niệm ngoại giáo cũng như Kitô giáo đền nhằm một mục đích là đưa con người từ một tình trạng sa dọa (chute) nào đó lên một tình trạng gọi là “nên Thánh”. Thế nhưng, quan niệm về sa đọa và về nên Thánh của hai bên có sự khác biệt nhau rất sâu xa. Theo các quan niệm ngoại giáo, thì:
Hoặc là cho rằng chỉ có cái Tự Tại (Le Soi - không nói Đấng Tự Tại, vì thực ra có thể nói chữ Đấng đã bao hàm một “Ngã vị chủ thể”) duy nhất và thuần túy; còn mọi hữu thể đa tạp, là kết quả của một sự sa đọa gần như là tất yếu, hoặc do một tai nạn tình cờ (accident) rơi rớt phân tán, và như thế đó là sự dữ, cho nên đi đến hậu luận là mọi hữu thể ngoài cái Tự Tại ra đều là không nên có, không đáng có; vậy tu hành là phải “giác ngộ”, ý thức sự sa đọa ấy để đi ngược lại chối bỏ, từ khước, phủ nhận cái hiện hữu đa tạp, ô trọc, để trở về cái Tự Tại Uyên Nguyên duy nhất thuần túy: Sinh là khổ!
Hoặc cho là thực ra chỉ có cái Tự Tại là có thật, mọi hữu thể khác chỉ là ảo giác, tu hành là tỉnh ngộ khỏi cái ảo giác ấy, do đó mà gọi là “giác ngộ” (illuminé). Như người ngủ mê nằm mơ, chỉ cần thức tỉnh là được.
Do đó tu hành gần như là kỹ thuật để đạt một kết quả tất yếu. Và như vậy, các hữu thể được phân loại từng lớp theo chiều ngang, kiểu như các tầng địa chất: cái ô trọc ở dưới, (ví dụ: các nhu cầu thể lý như dinh dưỡng, truyền sinh), cái thanh tao ở trên (ví dụ: trí thức, chiêm niệm vv.. ) tu hành là rời bỏ cái thấp vươn lên cái cao như kiểu kỹ thuật lọc nước hoặc cất tinh dầu! Và càng ngày càng thanh tao, thanh cao hóa đến như nước hoàn toàn bốc hơi, hòa tan, trở nên không, như hư vô hóa vào cái Tự Tại; tu hành là thoát khỏi cõi thế được coi như là nấm mồ khỏi trần gian được coi như là nhà tù.
Theo Kitô giáo nói riêng và các tôn giáo bắt nguồn từ Kinh Thánh thì khác hẳn: mọi hữu thể tự nó đều tốt lành, đều được sáng tạo theo mẫu Sự Hữu Tuyệt Đối, đều không dự cách nào đó vào những tuyệt hảo tính (perfections) của Thiên Chúa. Sự sa đọa là do sự lựa chọn sai lầm của cái hữu thể có ý thức tự do (thiên thần và con người), và từ đó kéo theo luôn cả mọi tầng hữu thể khác. Do đó, tu hành không phải là vươn từ các hữu thể ô trọc, giải thoát khỏi tù ngục, bay lên cõi thanh cao, mà là, bất cứ ở cấp hữu thể nào cũng phải xoay chiều, hướng về Thiên Chúa: có một cách ăn, ngủ, làm tình, nguyện gẫm tốt lành thánh thiện nếu hướng về Thiên Chúa và tha nhân; có một cách ăn, ngủ, làm tình, nguyện gẫm xấu xa tội lỗi nếu vo tròn đóng kín. Xin cụ thể hóa như sau: vào nơi hành lạc, đó là tội lỗi thì đã rõ, mà ngay cả mải mê cầu kinh nguyện gẫm để tìm an ủi dịu ngọt thiêng liêng vị kỷ trong lúc bổn phận là phải lau chùi, băng bó những vết thương đầy máu mủ hôi thối đến lợm tởm, ói mửa, cũng là tội lỗi! Thế nhưng, sự trao xương gửi thịt trong bí tích Hôn phối, theo gương sự kết hợp giữa Đức Kitô và Hội Thánh để cùng với Thiên Chúa tạo nên những linh hồn theo hình ảnh Ngài để muôn đời thờ phượng Thiên Chúa, lại là thánh thiện! Cũng như, nguyện gẫm để dâng lòng mình lên kết hợp với Thánh Tâm Chúa âu sầu phiền não trong vườn Giệt-si-ma-ni, để an ủi Chúa, để đền bồi phạt tạ thay cho các linh hồn tội lỗi, đó là thánh thiện! Theo Kitô giáo, không có trạng thái nào là thấp, là ô trọc (bas, impur). Tự nó, cái gì cũng tốt cả, nhưng đặt vào tay con người có tự do thì tùy theo sự sử dụng tự do, hoặc hướng về Thiên Chúa và tha nhân, hoặc quy về mình một cách vị kỷ, mà trở nên tốt hay xấu.
Tôi đã tin rằng Thiên Chúa là Cha Từ ái tạo nên mọi vật trong “tình yêu”: Ngài yêu thế gian đến nỗi phó Con Một của Ngài cho thế gian và Ngôi Hai đã mang lấy nhục thể, tôi cũng tin rằng Nước Trời là muối là men thấm nhuần vào thế gian thụ tạo; thế nhưng, tất cả mới chỉ là trên bình diện lý trí và ý thức; chứ trong tiềm thức sâu xa thì con người của tôi vẫn còn sót lại nhiều nếp gấp của quan niệm tu hành theo mẫu ngoại giáo, có thể tạm gọi là “phi vũ trụ” (acosmique), phản sáng tạo (anti-création), phi nhập thể (désincarné). Do đó mà tôi có dị ứng với mọi sinh hoạt thế trần: lập gia đình, sinh hoạt xã hội (ngay cả suy tư triết lý cũng vậy!); thậm chí cơ cấu Giáo Hội, giáo luật và cả hình thức phụng vụ, các á bí tích và các bí tích, bí tích Thánh Thể, cũng đều gặp nơi tôi một sự dị ứng nào đó! Tôi đã hiểu những lời: “Nước Trời ở trong các con”, “Thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý” theo một xu hướng duy tâm hướng nội cực đoan! Và cũng xin thú thật rằng mãi đến nay, mỗi lần tỉnh ngủ dậy, cái bản năng phi vũ trụ và bi quan ấy vẫn như còn đè nặng, tôi phải vận dụng lý trí và ý chí để điều chỉnh lại theo đúng tín lý của Kitô giáo là “hiếu sinh” và “hiếu hữu”. Về phương diện này, có lẽ Khổng giáo lại gần với Kitô giáo hơn bất cứ triết lý ngoại giáo nào: từ quan niệm “vạn vật bản hồ thiện” quan niệm Trời là hiếu sinh và hóa dục vạn vật; đạo Hiếu cũng bao hàm một quan niệm “được sinh ra cho có” là một ân sủng chứ không phải là oan trái hay nghiệp chướng. Tuy nhiên theo tôi nghĩ, trong triết lý Khổng giáo, vấn đề sự dữ không được đào sâu và lý giải thâm thúy; trái lại còn như tránh né, đảnh trống lảng! Tôi còn nhớ thuở bé: bị thân phụ tôi cấm ngặt không được nói những chuyện buồn, chuyện xấu, ngay cả những chữ như “chết”, “thối”… cũng phải hạn chế! Ví dụ: phải nói đồng hồ đứng, không chạy, chứ không được nói “đồng hồ chết”.
Cái lựa chọn cuối cùng là cái méo mó nghề nghiệp của việc “dạy triết”. Tuy trong bản chất tôi học triết với tinh thần là “tầm sư học đạo”, Triết học trở thành môn học như bất cứ môn học nào, dạy triết cũng trở thành một môn “chuyên biệt” thiên về tri thức, đặt vấn đề “sống” vào trong hai dấu ngoặc: giáo sư triết, thi triết, chương trình triết, cũng như giáo sư vật lý, thi vật lý, chương trình vật lý, thế thôi! Thầy trò rời khỏi giảng đường, rời khỏi phòng thi, sống ra sao không cần biết đến. Các nhóm môn sinh chung quanh Khổng Tử, Lão Tử, Socrate, Pythagore đâu có như vậy. Cái méo mó hàn lâm ấy có chi phối lên đời sống thiêng liêng của tôi khá nặng; vô hình chung tôi nghiên cứu về đời sống thiêng liêng, bình luận và có khi giảng giải về đời sống thiêng liêng như giảng bài học bài, để biết để thi vậy. Tôi đã hơi thiên về nghiên cứu “thần nhiệm học” hơn là thực sự sống “thần nhiệm”, học “Théologie mystique” hơn là “réaliser la vie mystique”: tôi là giáo sư hơn là tu sĩ, ngay cả trong lãnh vực thần nhiệm, có xu hướng trở thành “thức giả” (savant) về khoa thần nhiệm (science mystique) hơn là “thánh” thần nhiệm (“saint” mystique)!
Với bao nhiêu là lợn cợn đủ loại, cộng với chìm nổi của cuộc đời do ngoại cảnh, do thế sự chi phối: lý lịch của tôi về mặt nào quả cũng là một “tạp pí lù” phải dày công gạn lọc nhiều năm cũng là dễ hiểu các vị linh hướng của tôi cũng đã phải hao tốn nhiều công lao và thì giờ trong việc giúp tôi tìm và thực hiện ý Chúa. Thế nhưng tạ ơn Chúa muôn ngàn trùng, Ngài không nỡ bỏ tôi và Ngài đã ban cho tôi hai ngôi sao sáng để rọi lên cái biển đời đầy hỗn tạp của tôi, đó là Mẹ Maria và thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu. Tôi nghĩ rằng quá hỗn tạp như tôi thì Chúa phải đặt nhiều trung gian; cũng như nước quá ô nhiễm thì phải qua nhiều màng lọc! Nếu nội tâm tôi như đã được phân tích sơ lược ở trên, có thể ví như một mặt biển luôn sóng gió và dồn ứ quá nhiều lợn cợn, thì trái lại, Đức Maria khác nào như một dòng suối mát trong, luôn tưới lên tâm hồn tôi một cái gì đó đơn sơ lành mạnh (sain). Ở Paris, nguyện đường Đức Mẹ mẫu ảnh làm phép lạ (chapelle de la médaille miraculeuse) ở Rue du Bac rất bình dân, rất dung dị với chiếc ghế dựa bọc nhung xanh nơi Đức Mẹ ngồi khi hiện ra với Thánh nữ Catherine Labouré, là nơi tôi đến để được như lắng dịu mọi xôn xao bất cứ về mặt gì: lý trí, cảm xúc hay luận lý: có nhiều lúc, tôi không dám đến với Chúa, nhưng Đức Mẹ thì gần như luôn luôn hiện diện. Không hiểu khi Ma-da-lê-na gần như bị Chúa đẩy lui, không cho đụng tới Ngài buổi sáng Phục sinh, có chạy tới tìm Đức Mẹ hay không, chứ tôi thì vậy đó! Nói quá đi một ít nhiều để cho dễ hiểu: có nhiều lúc, tôi chỉ còn tin vào Đức Mẹ, rồi qua Đức Mẹ dần dần, Chúa mới trở lại trong gầm trời thiêng liêng của tôi! Trong những lúc tối tăm mù mịt, Đức Mẹ là ngôi sao hướng dẫn, trong những lúc ngã quỵ, Đức Mẹ là nơi tôi nương tựa và lồm cồm bò dậy và vươn lên, trong những lúc hầu như tuyệt vọng về mặt này mặt khác (vật chất cũng như tinh thần, xã hội, luân lý, thiêng liêng), Đức Mẹ là niềm cậy trông còn sót lại, như đồng vốn cuối cùng cho tôi gây dựng lại sự nghiệp đã tiêu tan.
Tôi xin đính chính ngay rằng: Đức Mẹ của tôi không phải là một sự an ủi tình cảnh có tính cách ủy mị nhi nữ đâu! hình ảnh của người nữ đạp đầu rắn dữ, tiến lên như đạo binh hùng dũng, có mặt trời mặt trăng và tinh tú chầu quanh, dự trận cam go và chiến thắng rồng dữ trong sách Khải huyền: đó là Đức Mẹ của tôi, đã giúp tôi thoát được bàn tay thâm độc của ác thần. Có lẽ tôi cũng như người nữ bị 7 thần dữ chiếm ám, chúng bị phép rửa trục xuất rồi lại rủ thêm tiếp viện tấn công dữ dội, nên Thiên Chúa đã giao cho vị nữ nguyên soái các đạo binh thiên quốc đến giải thoát tôi. Dùng đến hình ảnh người nữ oai hùng trong sách Khải huyền, là để nói lên rằng đến với Đức Mẹ cũng như đến với Chúa không phải tìm thuốc mê, thuốc phiện, như người ta lầm tưởng rằng tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng; nhưng là được thuộc về một số ít người mà thiên Chúa chọn cho tham dự vào một cuộc giao tranh khốc liệt (nhìn Đức Mẹ đứng dưới cây thập giá thì rõ). Tuy nhiên dể tránh cái sa lầy “phô trương lực lượng” (triomphalisme), đừng quên rằng cuộc giao tranh ác liệt này là giao tranh giữa thần kiêu ngạo với Đức Mẹ là hình ảnh kiểu mẫu của đức khiêm nhường; Chúa dùng một thiếu nữ mong manh để đạp dập đầu kẻ hung hăng kiêu ngạo, cũng như Đa-vít thắng Gô-li-át và Chiên Con thắng sư tử. Đừng quên rằng tính cách biện chứng ấy của linh đạo Kitô giáo, của cuộc chiến đấu Kitô giáo (combat spirituel): dũng lực mà không oai hùng (don de force chứ không phải courage humain).
Bên cạnh vị nữ nguyên soái ấy, có một nữ tùy tướng đó là Tê-rê-sa Hài Đồng. Xét về một mặt, tôi cũng bị lệch đường một phần nào do hiểu lầm về Thánh nữ: qua trung gian Thánh nữ, tôi tiếp cận với thánh Gioan Thánh Giá, từ đó tôi cứ ngộ nhận là có lẽ tôi được kêu gọi đưa dòng Cát Minh ngành nam vào vườn nho Hội Thánh Việt Nam, do đó sinh ra bất ổn trong suốt thời kỳ tu học. Nhưng nay thì thấy rõ: vì đời sống của tôi quá nhiều nỗi gian truân, nên Thiên Chúa đã dùng Thánh Nữ Tê-rê-xa Hài Đồng để dạy cho tôi bài học “hoàn toàn phó thác”, khác nào cái neo cuối cùng cắm sâu xuống lòng biển, khi mà chèo, lái, buồm thậm chí cả la bàn cũng đều hư hỏng, mà sóng gió tứ bề! Đời thiêng liêng của tôi thật rất nhiều giai đoạn như vậy, không có cái neo cuối cùng là “động tác hoàn toàn phó thác ấy”, chắc đã chìm dưới vực sâu của mọi thứ cám dỗ, dọa dẫm, lừa lọc, mà sự khờ dại và tính nhát đảm (poltron chứ không lâche) của tôi khó lòng đương dầu nổi. Và “động tác phó thác hoàn toàn ấy của Thánh Nữ Tê-rê-xa cũng là một dạng thức hiện đại của phương pháp “thần phi (voie analogique) mà Thánh Gioan Thánh Giá phát minh, giúp các linh hồn vươn bay thoát khỏi mọi cuộc thử thách cam go trong đêm dày đặc của cảm giác và tâm linh (nuit des sens et nuit de I’esprit). Tôi không dám nói tôi được đưa vào đêm dày thần nhiệm ấy, nhưng bề mặt hiện tượng tâm lý tự nhiên, thì quả linh hồn tôi bị quá nhiều bóng đêm dày đặc bao phủ, và sau hết là lòng sùng kính các thánh; có lẽ là lòng sùng kính này cũng là qua sự tiếp cận với Thánh Nữ Tê-rê-sa Hài Đồng. Trước hết, chính Thánh Nữ có hứa rằng lên trời, thánh Nữ sẽ lại trở về trần gian, giúp đỡ những anh chị em còn ở nội chiến địa. Thánh Nữ cũng kể lại câu chuyện “Thánh Nữ nằm mơ thấy Nữ phúc lộc Anne de Jésus, vị sáng lập dòng nữ Cái Minh tại Pháp hiện ra an ủi, mà Thánh Nữ thì xưa nay không bao giờ nghĩ đến vị nữ phúc lộc ấy cả. Một vị Phúc Lộc gần như xa lạ với Thánh Nữ cũng còn có lòng ưu ái với Thánh Nữ như vậy thì bất cứ vị thánh nào đã được vào nơi vinh hiển, ắt cũng đều gần gũi với chúng ta. Cầu xin các Ngài không cần nghe ta kể lể cũng biết ta cần gì là vẫn sẵn sàng giúp ta. Cầu xin là để đón nhận, là để tiếp cận, để ý thức mình không cô đơn mà chiến đấu, là sống mầu nhiệm các Thánh cùng thông công trong nhiều hướng: trên xuống, dưới lên; cầu xin thực ra là cộng tác tích cực với các Ngài vì sự nghiệp cứu độ là sự nghiệp chung cần sự cộng tác của nhiều người (Giêsu Nazaret, Maria đều là người cả) trong sự tương giao cộng tác từ đó!
Tôi lại có cái may mắn không bị hạn chế trong một dòng tu nào, được đọc rất nhiều tiểu sử các vị lập dòng, các vị đổi mới dòng, các Thánh nam nữ khá nhiều thuộc nhiều dân tộc, nhiều triều đại, nên luôn cảm thấy như là đứa con cưng (tuy là hư hỏng) của một đại gia đình luôn luôn được số đông anh chị chắt chiu đùm bọc và nêu gương; từ Thánh An Tôn ẩn cư cho đến nữ danh ca Eve Lavallière, từ hoàng đế Lu-y IX cho đến cụ già (tuy vậy mà lõi đời) Gioan XXIII, từ Thánh Sy-ry-lô và Mê-tô-đô ở vùng cận đông, cho đến Thánh Mác-ti-nô de Po-rê ở châu Mỹ, từ vị tông đồ mòn gót chân tryền giáo cho đến Thánh Nữ Lidwine liệt giường nan y mấy chục năm, rồi các tín hữu danh nhân như Dante, Benanos, Péguy, Nguyễn Trường Tộ, Hàn Mặc Tử, Marie Noel, Jacques Maritain, Emmanuel Monier và cuối cùng là các Linh mục, tu sĩ, giáo dân tôi đã từng gặp mà nay đã qua đời; lẽ nào họ chẳng cúi xuống trên chúng ta, với trăm ngàn yêu mến phù trợ! (Tuy nhiên, đừng quên rằng họ phù trợ khác hơn điều ta chờ đợi theo cái nhìn phàm tục). Tôi đến với họ như đến với những người còn sống, như lúc tắt đèn thì hỏi người láng giềng xin mượn đốm lửa que diêm! Và lắm lúc tôi cảm thấy rõ ràng những con người ấy đã bước qua sự phân cách của không gian và thời gian, nên rất gần gũi, mà là sự hiện diện thông cảm của họ rất sâu xa và bền vững.
Ví dụ trong lúc viết lên những giòng này, tôi nghe một em bé khóc ngoài cửa, íl nhất tôi cũng ngưng viết, mở cửa ra xem sao! Tôi là kẻ phàm tục tội lỗi thà còn vậy huống hồ là bất cứ một chi thể nào của Đức Kitô đã đi vào vinh hiển! Đến với họ trong sự thông hiệp vào mầu nhiệm “Các thánh thông công” là như cành nho cùng chung một nguồn nhựa sống, phát xuất từ một gốc nho duy nhất là Đức Kitô; tôi nghĩ mỗi bông hoa như Tê-rê-sa Hài Đồng là kết quả của cả giòng họ Martin, của dòng Cát Minh Pháp (cho nên nữ Phúc Lộc Anne de Jésus mới tỏ mình ra), của Hội Thừa sai Paris (qua chân phúc Théophane Vénard) v.v… Mà quả vậy thánh Nữ Clara, thánh Phêrô Acantaca, đã nhiều lần tỏ mình khích lệ Tê-rê-sa thành Avila trong sự nghiệp cải tổ dòng nữ Cát Minh.
Từ cuối năm 1956 đến nay và có lẽ đến ngày tôi từ giã cõi đời, hầu hết mọi dêm, từ 10 giờ đến 6 giờ sáng, sau khi đóng cửa phòng là tôi chỉ có một mình; thế nhưng tôi có cảm tưởng tôi được sống như những ngày thơ ấu, mỗi buổi tối được vui vầy trong bầu không khí của cha mẹ, anh chị em sum vầy đoàn tụ, vui buồn san sẻ, lo âu hy vọng chung chia! Tôi thấy được ấm cúng, được đùm bọc, ngược hẳn với cảnh bị xô đẩy chen chúc giữa một đám đông vô danh, vô ngã vị mà con người chỉ ở sát nhau, như đá xếp cạnh nhau, chứ không sống với nhau, nịnh bợ nhau, phỉnh lừa nhau, lợi dụng nhau, đề phòng nhau, lánh mặt nhau! Và tôi có cảm tưởng đã quen sống với nhau trong sự thông dự mầu nhiệm thiêng liêng vô hình ấy, đến nỗi lúc bị ném vào giữa đám đông vô danh, vẫn như có mang theo cái khí quyển với nhau ấy, thành ra nhờ đó mà dễ tạo ra sự thông cảm, để thiết lập những tương quan liên ngã vị bất cứ ở môi trường nào, làm cho bầu không khí bớt bị ngộp thở! Louis Lavelle có phân biệt sự “cô tịch” (solitude) và “cô lập” (isolement). Lòng sùng kính các thánh đã giúp tôi sống hơn 30 năm trong sự “cô tịch” và phần nào giúp tôi khi chung đụng với mọi người ở mọi nơi, dễ dàng và nhanh chóng tạo ra sự sống với bất cứ trạng huống nào! Tất cả đều trở nên có “sự hiệp thông các thánh”, bởi lẽ, trừ ra những linh hồn đã rơi vào hỏa ngục (mà là những linh hồn nào, nào ai hiểu được!), còn đã là người thì hoặc đã hiển thánh (đã hoặc chưa hoặc không được phong), hoặc là đang có khả năng nên thánh (xem kẻ trộm lành, tử tội ra Prazini). Sự hiệp thông ấy vô giới hạn, giữa những người sống với nhau, cũng như giữa những người đã qua đời và những nguời đang sống ở trần gian. Tôi bỗng nhiên liên tưởng đến Quan Công và Trần Hưng Đạo, và những ai đã chết vì “Đại nghĩa”. Tôi không giấu diếm ai rằng trước 75, đêm giao thừa, tôi thường đến Đền thờ Đức Thánh Trần cầu xin Ngài phù hộ cho con cháu Tiên Rồng sớm chấm dứt cảnh tương tàn, và có dịp ra Huế tôi vẫn đến viêng mộ cụ Phan Bội Châu với tâm tình như vậy. Và tôi vẫn tin rằng trong các tiền nhân nội ngoại của tôi, những ai thực hiện được phần nào “đạo thánh hiền với nhân-nghĩa-lễ-trí-tín”, đều có sự gần gũi phù trợ nào đó đối với đứa con cháu này. Còn lòng ái mộ đối với thánh M. Gandhi, đối với Đức Thích Ca và chư liệt thánh kim cổ-đông tây cũng như gần như với các thánh Tiên tri và Tổ phụ thời cựu ước vậy! Tôi nghĩ các ngài đều là tác phẩm của một Thánh Thần duy nhất mà thôi. Cái hoa nở đẹp, con bướm sặc sỡ, tiếng chim lảnh lót, quả ngọt thơm tho còn do bàn tay Thiên Chúa tác thành; huống chi là những bậc thánh nhân-quân tử, anh hùng, liệt nữ, đáng cho thiên hạ noi gương.
Trong các đại gia đình ấy, ở vị trí trưởng ban Triết học một viện Đại học Công giáo, đáng lý tôi phải thấy gần gũi với các bậc như Tô-ma A-qui-nô, Bellarmin, Albert Cả, Lacordaire, Bonaventure, Duns Scotus… Nhưng vì Pascal đã dẫn tôi gặp Chúa Giêsu lần đầu tiên trong lúc Ngài vất vả quằn quại dưới cây dầu, toát mồ hôi máu, xin môn đệ hợp ý cầu nguyện, cho nên tôi thường hay tưởng đến những linh hồn được Chúa mời gọi thông dự vào cơn hấp hối của Ngài, mà cũng theo như lời Pascal, còn sẽ kéo dài mãi cho đến ngày tận thế, trong số đó, dĩ nhiên là có các vị như Ma-ga-ri-ta A-la-cốc, Ma-da-lê-na Xô-phi-a, Ma-da-lê-na dệ Pát-di; nhưng cách riêng tôi quan tâm hơn tới những vị gần với thời đại, với tâm hồn tôi.
Thứ nhất, xét về gần gũi trong thời gian, tôi vẫn thường tưởng nhớ đến những người có ít nhiều liên hệ với giai đoạn hiện dại của lịch sử đầy máu và nước mắt của chúng ta với hai cuộc đại chiến và những cuộc đổ máu phụ cận, gần như liên tục mãi cho đến nay và chưa biết rồi sẽ ra sao: Charles de Foucauld bị sát hại năm l916, linh mục Ives de Moncheuil bị Đức quốc xã xử giảo, Lm. Maximilien Kolbe bị Đức quốc xã xử tử, mục sư Boenhofer cũng thế, nữ tu Bênedicte de la Croix cũng thế (có lẽ bị hỏa thiêu). Bên tai tôi như luôn văng vẳng lời cảnh cáo Đức Mẹ đã nói với Gia-xin-ta và Phan-xi-cô, với Berthe Petit, với Joseph Menendez. “Nos civilisations, nous sommes mortelles!”, lời nhận định của Paul Valéry, tôi nghĩ rằng hoàn toàn chí lý! Không có gì bảo đảm rằng Luân Đôn, Pa-ri, Nữu Ước, Tokio, Bá Linh sẽ không như Ni-ni-vê và Ba-by-lon. Văn minh ư? Tiến bộ ư? Các trại tập trung, các lò hỏa thiêu phi bác sự lạc quan trên! Quả như nhà tâm lý học Etienne de Greeff đã nhận xét, cái gọi là “văn minh tiến bộ” chỉ là một lớp sơn hào nhoáng, mỏng manh chỉ thổi nhẹ cạo sơ là bay, còn bản chất con người vẫn là “luật rừng”! Ca-in và A-ben vẫn là chiều kích muôn đời của Nhân loại. Chúa Giêsu vẫn không ngừng… quằn quại, bị xử oan, bị giết nơi những người bị đàn áp, cầm tù, tra tấn, đe dọa, kỳ thị, khủng bố, gạt ra ngoài lề xã hội gọi là “văn minh tiến bộ” này! Cái dị ứng gần như “thâm căn cố đế” đối với cái văn minh duy khoa học kỹ thuật cực đoan, phi nhân bản, phản thiện căn, phát tích từ sự phản loạn chống lại Thiên Chúa được mệnh danh là “Phục Hưng” ở thế kỷ 16 của Tây phương bắt nguồn từ những suy tư và nhận xét nói trên!
Quả như nhà bác học Alexis Carrel đã nói: “Rồi chúng ta sẽ phải trả (và đã bắt đầu trả rồi) với cái giá đắt cho những sai lầm nghiêm trọng của phong trào Phục Hưng”. Một thứ man rợ mới (trang bị bom hạt nhân!!!) đang ra đời và sẽ phá vỡ hủy hoại những giá trị văn minh chân chính, nếu không có gì ngăn chận lại. Và có gì ngăn chận được đây??!! Tôi nghĩ chỉ có Thánh giá Chúa Giêsu mà thôi! Như nữ triết gia (và sau là nữ tu dòng kín Cát Minh) Edith Stein đã nói: “Không phải những thành đạt nhân loại sẽ cứu chữa được chúng ta, mà chỉ có cây Thánh giá Chúa. Tôi ước ao được thông dự vào cây Thánh giá ấy!” Jacques Maritain đã bình giải như sau: “Sự dữ đã lên đến mức độ không còn gì cứu vãn được nữa, ngoài Thánh giá Chúa Giêsu, cho nên những tâm hồn ưu việt đã say sưa từ bỏ tất cả (cả những điều được phép và những điều tốt) để ôm lấy cây Thánh giá trần trụi đi theo chân Chúa”. Lời cảnh báo kêu gọi của Đức Mẹ, không phải chỉ có đàn bà con nít nghe theo mà ngay cả những bậc đại trí của thời đại cũng hình như vọng lại một cách bi thiết: Gabriel Marcel, Marcel Cortez, Unanumo, Bernanos, Georghiu, và trước đó, Dostoievski, Kierkegaard hình như cũng đã có cái nhìn tiên tri nào đó về cái lịch sử đầy máu lửa và nước mắt này của cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI. Đó là nghĩ tới vận mạng Nhân loại, còn…
Thứ hai, nghĩ về bản thân thì:
– Eve Lavallière, nữ danh ca, sau một đời phấn thải hương thừa, với bao vương tôn công tử, ong qua bướm lại, đã được Chúa ban cho ơn hối cải, là một là một hình ảnh giúp tôi nhìn vào như một tấm gương để soi rọi chính cái mặt thật hoen ố của mình, khi phấn son loè loẹt, được rửa trôi đi! (trí thức, danh thơm tiếng tốt, hợm mình cũng chỉ là son phấn loè loẹt mà thôi!)
– Benoit Joseph Labre với cuộc đời lữ thứ hành hương, lại là phản diện để giúp tôi, sau khi đã cùng với Eve Lavallière lặn xuống đáy vực sâu của linh hồn mình, được đưa mắt ngước nhìn lên như một chân trời xa định hướng cho tôi bước tới, mặc dù cái dở dang của ngài là do tự nguyện lang thang hành hương trong sự thảnh thơi tuyệt vời; còn sự dang dở của tôi một phần nhỏ là do biến cố khách quan, mà phần lớn là do tôi lạc bước lang thang và lợn cợn.
– Còn Edith Stein (nữ tu Bénédicte de la Croix) thì như một ngọn lửa của lễ vật toàn thiêu, nhắc tôi nhớ rằng Nhân loại đang rên rỉ quằn quại dưới những sự bạo tàn, man rợ, từ nhiều phía, dưới nhiều dạng.
– Và Chales de Foucauld thì nhắc nhớ tôi rằng phần đông anh em, chị em còn đang ngụp sâu trong những điều kiện sống túng nghèo: vất vả lam lũ, đến tận cùng cực vì miếng cơm manh áo hàng ngày, khiến rất dễ quên đi rằng sống là còn cần phải có Lời Chúa!
– Jacintha và Phanxicô ở Fatima, Berthe Petit giúp tôi nhớ đến lời kêu xin tha thiết của Đức Mẹ đang chờ đợi các con cái Mẹ góp phần nhỏ mọn của mình, giúp Mẹ nâng cánh tay Chúa đã quá nặng trĩu vì tội lỗi thế gian, gần như phải trút cơn thịnh nộ thanh luyện đến cùng dưới một dạng Hồng Thủy nào đó.
– Josept Mermendez thì giúp tôi hoàn toàn cậy trông rằng cuối cùng, lòng thương xót của Trái tim Chúa Giêsu sẽ cùng với trái tim Đức Mẹ làm cho “Yêu thương” thắng “hận thù”, và Ơn Cứu độ sẽ gỡ ta khỏi án phạt vì “muôn đời vẫn một lòng thương!”, “vì lòng thương xót Chúa trải qua từ đời nọ đến đời kia hằng bao bọc những ai kính sợ Chúa!”
– Và cuối cùng với các thánh: Gioan Thánh Giá, Têrêxa Hài Đồng, với Thomas Merton, Ives de Montchanin và Elisabeth de la Trinité, tôi quên đi tất cả (mà nhất là quên chính mình tôi) bằng cách ném tất cả vào hai Trái Tim Cực Thánh, trong thánh lễ được dâng lên mọi lúc mọi nơi, như giọt nước nhỏ vào một Trùng Dương, dắt dìu Tình yêu Muôn Thuở của chính Thiên Chúa Ba Ngôi, đồng hóa với Ngôi Hai, hiệp thông cùng Ngôi Ba, trở về trong lòng Ngôi Nhất là Cha, Cội nguồn và Cứu cánh của muôn loài như đã đi vào nơi Bình an Phúc lạc muôn đời, miệng thì thầm, tai văng vẳng lời kinh Lạy Cha, với hai dòng kinh phụ lưu là 150 Thánh Vịnh và 150 kinh Kính Mừng của chuỗi hạt Mân Côi, cất bước hành hương tiến về thành thánh Giê-ru-sa-lem, nơi cả triều thần đang liên hoan tiệc cưới Chiên Con, nơi cả Triều thần Thiên quốc đang thờ lạy tung hô: “ Sanctus! Sanctus! Sanctus! Dominus sabaoth, pleni sunt coeli et terra Gloria tua; Gloria Patri et Filio et Spiritu Sancto, nunc et in semper et in saecula saeculorum. Amen” (Thánh! Chí thánh! Ngàn trùng chí thánh! Trời đất rạng ngời vinh quang Chúa uy linh; Vinh quang dâng lên Chúa Cha chúa Con và Chúa Thánh Thần, bây giờ, luôn mãi và cho đến muôn thuở muôn đời. Amen. )
Niềm hạnh phúc ấy thật ra đã bắt đầu từ cái hôm nay của cuộc đời này. Có lúc tôi cảm thấy mình như hòa tan trong Nhiệm Thể Chúa Kitô (bao gồm cả Nhân loại và toàn thể Vũ trụ), nhưng có lúc tôi cảm thấy như chính toàn thể Nhiệm Thể Chúa Kitô: sinh động trong con tim bé nhỏ của tôi! Giọt nước với Trùng Dương tuy hai mà một, rồi tuy một mà lại là hai: cái ngã tý hon của tôi, cái ngã tý hon của mỗi tâm linh, cái Tam Ngã Nhất Thể vô cùng vô tận vô biên của Thiên Chúa như triền miên trong một sự hiệp thông dìu dắt, trong an lạc muôn đời (chứ không phải là hòa tan trong cái Tự Thể cô đơn hay cái Tịch Diệt hư vô quạnh quẽ hoang liêu).
Nhân dịp đây xin ghi lại một nhận xét: nơi các thánh hiền ngoại giáo, những người theo cùng một vị sáng lập thường chỉ tạo nên một khuôn mẫu thánh thiện duy nhất na ná như nhau: mẫu người “trung hiếu” của Khổng giáo, mẫu người “thanh thoát” của Lão giáo, mẫu người “khắc kỷ” của phái Stoicien, mẫu người “từ bi” của Phật giáo; còn các Thánh Kitô giáo thì thật là thiên hình vạn trạng, đôi khi gần như tương phản nhau: Phanxicô nghèo khó, Phanxicô Xaviê, Têrêsa Hài Đồng, Vinh-sơn Phaolô. Benoit Joseph Labre, Lu-y Gon-da-ga, Charles de Foucauld, Clara, Marguerite de Cortonne, Phê-rô Alcantara, Phi-lip-phê Nê-ri v.v và v.v…
Điều ấy cũng nhắc ta nhớ rằng dù ta có yêu mến noi theo vị thánh nào đi nữa, họ cũng chỉ là những ngọn đuốc, ánh sao chiếu sáng, chứ trên đường hành hương thì cuối cùng vẫn là chính mình phải đi theo bước đi riêng của mình; bởi vì, tương quan giữa mỗi một linh hồn với Thiên Chúa là một tương quan duy nhất, độc đáo, đặc thù, Thánh Gio-an Thánh giá đã dặn (và Đức Gioan XXIII đã nhắc lại) rằng không nên và không thể bắt chước y hệt một vị thánh nào cả! Riêng tôi thì… sau tháng 5-1975, tôi như đột nhiên băng qua 25 năm trời, trực tiếp nối lại cuộc đời tín hữu của những năm 49-50 ở Nghệ Tĩnh. Do đó, như có một sự “hồi xuân”, một sự “hoàn đồng” đáng phấn khởi. Quả vậy, từ năm 51 đến năm 75, Hội Thánh Công giáo ở Pháp cũng như ở Việt Nam tại những vùng thuộc thế giới không-xã-hội-chủ-nghĩa, đều còn mang nhiều tính cách của một xã hội Kitô-chế (Chrétienté) với những khía cạnh tích cực và tiêu cực của nó. Và có thể gọi đó là xã hội hậu-Constantin là xã hội mà Kitô giáo nếu không được nhìn nhận như là quốc giáo. Thì cũng được xem là bình thường, trở nên như một yếu tố văn hóa tự nhiên vì quá thấm nhuần mọi cơ chế xã hội. Do đó, tính cách có thể nói là “quái dị” (étrange) có thể gây “xì-căng-đan” (như vụ Phaolô gây ra khi rao giảng tại quảng trường đồi A-rê-ô-pa ở A-tê-na! ), cái tính cách “điên rồ” của thập giá bị xóa mờ đi. Quả vậy, đáng lẽ bàn dân thiên hạ ngoài Kitô-giáo phải la ó lên hoặc ít là nhún vai tẩy chay khi rằng một đầu óc như Teilhard de Chardin mà tin có thịt và máu người thật sự trong bánh và rượu sau khi truyền phép, và sẵn sàng quỳ chầu hàng giờ như quan chầu vua! Sự yên ổn của Hội Thánh trong sự bình thường hóa ấy, thật ra có bao hàm một sự “nhạt nhẽo hóa” (affadir) của những Chân lý mà nếu suy nghĩ cho kỹ phải là “long trời lở đất”!: Đồng trinh mà sinh con! Chết rồi sống lại!
Tại khu 4 từ năm 1945 trở đi và trên toàn cõi Việt Nam, thì từ sau 1975, Kitô giáo hình như được trở lại cái thời đại còn là một “xì- căng-đan” một cái gì quái gỡ. (Và tôi nghĩ các cụ nhà Nho cho rằng Gia-tô-giáo là tà đạo, thật ra đã có lý 100%, và có chủ trương bách hại cũng là đóng dúng vai trò của những kẻ có trọng trách duy trì đạo thánh hiền; cũng như các vị Thượng tế Do thái giáo cũng đã có lý 100% khi kết án tử hình Chúa Giêsu dám tự xưng là “Thiên Chúa” chính là điều phải làm để chu toàn hổn phận bảo vệ truyền thống “độc thần” của cha ông họ để lại!!!). Lắm lúc tôi nghĩ rằng, suy cho cùng, những người bách hại Kitô giáo dù là những người thành tâm trung thực đã không thỏa hiệp ỡm ờ đáng nghi. Đồng thời, làm như thế là họ đã đặt Kitô giáo vào đúng vị trí của nó, và đem lại sinh khí “hồi xuân” cho nó. Vì vậy từ 1949-50 và từ sau ‘75, tôi bỗng thấy mình như được sống lại thời Công vụ các Tông đồ có cái gì rất sinh động, rất hứa hẹn, rất khích lệ (stimulant) và hình như, tôi chỉ cảm thấy mình quả thật được sống Kitô giáo thật là trọn vẹn trong hoàn cảnh như vậy, bởi vì tôi thấy trong trạng huống như vậy, Lời Chúa mới ứng nghiệm, theo đó, được theo Chúa là được chọn lựa giữa bao người khác để làm thành dân riêng của Chúa, có ấn tín riêng (như cóc bôi vôi lồ lộ trên trán, đi đâu lòi ra đấy! Còn trong các môi trường xã hội mang dấu vết Kitô-chế, thì y như đã bị hòa loãng, nhạt nhẽo làm sao!) Người tín hữu như được cởi khỏi không biết bao nhiêu là lớp áo đã bị phủ lên qua nhiều thế hệ thỏa hiệp với mọi giá trị trần gian! Ví dụ, lễ tấn phong Giám mục Việt Nanh Tiên khởi của giáo phận Vinh năm 51 tại Thanh Hóa, chắc chắc là gần với việc các “Tông đồ đặt tay lên các vị được sai đi, hơn là lễ tấn phong Giám mục Saigon người việt Nam Tiên khởi cùng thời. Một số cuộc cử hành phụng vụ Lời Chúa và Mình Máu Thánh Chúa, nhất là ở những vùng hẻo lánh xa xôi sau ngày… 1975 (đôi khi không có linh mục, hoặc có Lm mà linh mục lại quỳ ở hàng ghế giáo dân) quả là gần gũi với các thánh lễ trong hang toại đạo hơn là thánh lễ tại dinh tổng thống chế độ cũ ở miền Nam! Một số người sau ‘75 tìm học đạo và theo đạo, chắc chắn là gần Ni-cô-dê-mô hơn là hàng ngàn người theo đạo ở giáo phận Qui Nhơn thời trước năm 1963. Thời Công Vụ Tông đồ! Đó là bầu khí mà tôi sống từ năm 1976 và có lẽ đến cuối đời! Xét về một mặt nào đó, linh đạo tôi theo hiện nay là linh đạo của Công Vụ Tông đồ. Có thể là phạm tội bất kính với tiền nhân. Nhưng tôi cảm thấy như vượt qua (kể cả Charles de Foucauld, cho đến kể cả An-tôn ẩn tu, kể cả Teilhard de Chardin, Ives Congar, Henri Lubac, cho đến cả Giút-ti-nô, I-re-ne) trở về trạng thái nguyên sơ của các tín hữu nguyên khởi, với Tê-pha-nô, Clê-ô-pha, với A-qui-la và Prít-xi-la, với Ti-mô-tê-ô, với Co-nê-li-ô v. v…; Cho nên, hình như tôi không nguyện gẫm theo kiểu của bất cứ vị thánh nào, kể cả Tê-rê-sa thành A-vi-la, hay cấm phòng 30 ngày kiểu I-nhã Loi-yô-la, mà chỉ sống như hai môn đệ trên đường Em-mau mà thôi! Lắm lúc đọc sách thần học tín lý (dogmatique) luân lý (morale), thần nhiệm (spirituelle) bất cứ của vị nào, tôi cũng thấy loang loãng làm sao ấy! Tôi chỉ sống với những Sự Kiện và những Việc Làm của Thiên Chúa (Faits et Actes divins) trực tiếp tác động lên đời tôi, lên lịch sử nhân loại và vũ trụ:
Sáng tạo vũ trụ.
Chọn dân Ít-ra-en
Chọn bà Maria
Nhập thể
Tử nạn và Phục sinh (lập Thánh Thể và giáo phẩm)
Lên trời
Lập Hội Thánh (Thánh Linh giáng lâm)
Sai đi làm chứng các sự kiện và hành vi của Thiên Chúa (chứ không phải giảng đạo lý)
Dân canh thức chờ đợi sự kiện “tái lâm bất thình lình” như kẻ trộm.
Và tôi hiểu tại sao Tê-rê-sa Hài Đồng về cuối đời đã nói rằng: “Đọc sách gì cũng nhức đầu, ngoại trừ Kinh Thánh và nhất là Tin Mừng!” Và nếu ai hỏi linh đạo hiện nay của tôi là gì. Tôi xin được trả lời: Tin Mừng (nhất là đoạn về Em-mau) và Công Vụ Tông Đồ (nhất là đoạn Thánh Tê-pha-nô bị giết chết. Đây là vị thánh quan thầy của tôi). Quyết định chịu phép rửa đến với tôi đúng vào ngày lễ của ngài, ngày 26-12- l948, lúc tôi dự lễ tại nhà thờ xứ Nghĩa Yên, giáo phận Vinh, cơ chế, cơ sở, tư duy thần học chỉ là lớp áo che chở giữ gìn (đôi khi còn che khuất, bóp nghẹt) những sự kiện, những tác động đích thực của Thiên Chúa. Hai năm 1949-50 và sau ’75, tôi cảm thấy không phải là theo một đạo lý, nhưng là được tiếp cận, dự nhập vào một hành vi của Thiên Chúa, một hành vi đang thực sự tác động qua những sự kiện cụ thể, đã được hội nhập vào trong dòng sống thực của mối hữu thể nhân linh bằng xương bằng thịt đã sinh ra, đã chịu đau khổ, đã làm việc (hết sức vất vả) và sẽ chết giống như Đức Giêsu người Na-da-rét và Đức Maria, mẹ Ngài và là hành vi đang tác động nhờ trung gian của Bí tích lớn và thật là “Hội Thánh Công giáo”: duy nhất, thánh thiện, tông truyền mà các cửa Hỏa ngục sẽ không thắng nổi, đó là hành vi thiên Chúa đang dùng để cứu vớt và thâu gom mọi sự trong Đức Kitô, Đấng đang xây dựng Nhiệm Thể của mình (gồm cả vũ trụ) qua thời gian, mà chính thời gian cũng là một thụ tạo sẽ tuôn chảy vào cõi đời đời.
Do đó, hai năm l949-50 và sau năm l975, tôi như tắm gội trong nguồn nước tươi trẻ muôn đời của Hội Thánh (La jeunesse éternelle de l’Eglise) mà những cơ chế, những cơ sở, những pho sách dù là cần thiết (indispensable) nhưng không phải là thiết yếu (essentiel), lắm lúc dưới khía cạnh nào đó còn là những nét nhăn cần tô điểm lại để “tìm lại má hồng như xưa” cho đẹp mắt Quân Vương (Kh l9, 7-8). Amen.
Cơn cám dỗ thường có hiện nay của tôi và có lẽ sẽ là “cơn cám dỗ cuối cùng” là tôi thấy có lẽ tôi đã mất “ơn kêu gọi”: nhưng không rõ ơn kêu gọi gì: tu dòng Phan-xi-cô? Tu dòng Biển Đức? Lập gia đình? Hoạt động chính trị? Văn hóa?… Nhưng đã mất ơn kêu gọi! Nhưng dù vậy, có vậy đi nữa (mà chắc là vậy! ) thì tấm áo Đức Bà tôi đã được linh mục rửa tội khoác lên đầu lúc tôi quỳ trước ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp sau khi chịu phép rửa tội ngày 09-1-1949 tại nhà thờ xứ Nghĩa Yên và động tác phó thác hoàn toàn của Thánh nữ Tê-rê-sa thành Li-di-ơ với lời: “Dù một mình tôi có phạm tất cả tội lỗi của toàn thể Nhân loại, từ A-đam cho đến người cuối cùng (tôi nghĩ có cả Yu-da), tôi cũng cứ cậy trông vào lòng xót thương vô cùng của Chúa!”, vẫn đối lại mọi phù phép của kẻ thù. Và vị thánh cuối cùng mà tôi trông nhờ lời bầu cử là Thánh “Kẻ Trộm Lành” đã được chính Chúa phong thánh ngay từ trên ngai Thánh giá buổi chiều thứ Sáu Tuần thánh đầu tiên. Và ơn kêu gọi của tôi có phải chăng là làm chứng rằng dù có lỡ mất ơn kêu gọi đi nữa, thì cũng không mất lòng cậy trông vào Lòng thương xót vô cùng và Quyền năng vô hạn của Thiên Chúa, và vào sức phù trợ của Mẹ Maria, vào sự cầu bầu của các Thánh Nam Nữ trong mầu nhiệm của các Thánh thông công.
Mất ơn kêu gọi, đó là thân phận của A-đam đã dại dột ăn quả cấm nên mất ơn kêu gọi, nhưng cả cuốn Kinh Thánh cũng chỉ cốt làm chứng điều kỳ diệu này: Ơn kêu gọi mà A-dam đã đánh mất, thì Đức Kitô và Mẹ Ngài đã tìm lại được, và sau khi phân phát cho những ai muốn đến lãnh (gratuit) trong một chế độ “ân sủng” mà Đấng Đầy Ân Sủng là người được hưởng đầu tiên hoàn toàn không do công lênh gì cả, với ơn “Vô Nhiễm”; Cho nên những dòng kể chuyện đời mình của tôi cũng không có cách kết thúc nào hơn là bằng cách mượn lời Ngài để dâng lên THIÊN CHÚA - TÌNH YÊU lời tán tụng tung hô:
MAGNIFICAT ANIMA MEA DOMINUM!
Ngày thứ Bảy đầu tháng Đức Mẹ
Năm ân sủng 1986
(03-5-1986 nhằm ngày 25 tháng Ba - Bính Dần) 
Tất cả những dòng trên đây tôi chỉ bảo đảm là tôi một lòng chân thành. Còn sai đúng, dở hay tốt xấu, tôi hoàn toàn tuân theo sự phán quyết thẩm lượng của quý vị thẩm quyền của Hội Thánh Công giáo mà tôi dành trọn vẹn lòng con hiếu – tôi trung cho đến hơi thở cuối cùng. Tôi cũng cậy trông vào lượng bao dung thông cảm của Hội Thánh vốn là Mẹ Hiền của những người con vụng dại lỡ lầm.


TÊPHANÔ THẾ TÂM NGUYỄN KHẮC DƯƠNG (1925-2026)

Nguồn: Đại hội thụ nhân thế giới