NỘI DUNG CHÍNH

Câu hỏi: Có thể đệm đàn organ đang khi linh mục đọc Kinh nguyện Thánh Thể không?

Câu hỏi: Sau khi rước lễ, tín hữu có nên ngồi hay không?

Câu hỏi: Ở một số nơi, bàn quỳ được đưa ra khỏi nhà thờ. Vì vậy, dân chúng chỉ có thể đứng hoặc ngồi và điều này làm giảm bớt sự tôn kính và tôn thờ đối với bí tích Thánh Thể.

Câu hỏi: Có thể dạo đàn phong cầm cách nhẹ nhàng trong khoảng thời gian thinh lặng sau khi nghe giảng không?

Câu hỏi: Cụm từ “một dịp cử hành đặc biệt có phần long trọng” phải được hiểu như thế nào?

Câu hỏi: Trường hợp “Gloria” (Kinh Vinh Danh) và “Credo” (Kinh Tin Kính) không được hát mà chỉ được đọc, đôi khi vị chủ tế tiến hành đọc luân phiên với cộng đoàn. Nhưng vì đây là một bài thánh ca và việc tuyên xưng đức tin liên quan đến cả một cộng đoàn phụng vụ xét như một tổng thể, liệu thực hành này có phù hợp với luật chữ đỏ không?

Câu hỏi: Trong Tuần Bát nhật Phục sinh, có đọc Kinh Tin Kính không?

Câu hỏi: Ý nghĩa đích thực của nghi thức dâng lễ là gì? Mô tả về phần dâng lễ trong Thánh Lễ đã chỉ ra rằng nghi thức này chỉ là sự “chuẩn bị” lễ vật và đặt chúng trên bàn thờ. Đây là những lễ phẩm của dân chúng dành cho Giáo Hội và cho người nghèo, hoàn toàn không phải là việc “tiến dâng” hy tế.

Câu hỏi: Trong Thánh Lễ được cử hành khá long trọng với sự tham dự của cộng đoàn, những cách thức khác nhau của xông hương vẫn được sử dụng: cách thứ nhất, đơn giản và không rườm ra; cách kia, tương tự như nghi lễ xông hương được quy định trong Sách lễ Rôma trước đây. Vậy ta nên theo cách nào?

Câu hỏi: Có thể bỏ nghi lễ rửa tay khi cử hành Thánh Lễ không?

Câu hỏi: Trong phần chuyển cầu của Kinh nguyện Thánh Thể III, chúng ta đọc thấy cụm từ “cùng với thánh T” (rồi tới dấu ngoặc đơn mở và đóng với dòng chữ đỏ bên trong như sau “tên thánh kính trong ngày hay thánh bổn mạng”). Những từ này nên được diễn giải thế nào? Có phải đề cập đến vị thánh kính trong ngày hay thánh bổn mạng không? Có được đề cập như thế ngay cả vào Chúa nhật hoặc vào những ngày lễ long trọng hơn không? Một vị á thánh có thể được đề cập ở chỗ này không?

Câu hỏi: Theo chỉ dẫn của Nghi thức Thánh Lễ, phải đọc hay hát kinh Chiên Thiên Chúa (Agnus Dei) bao nhiêu lần?

Câu hỏi: Ở rất nhiều nơi, khăn phủ hầu như không bao giờ được sử dụng để phủ lên chén được chuẩn bị ở bàn phụ (bàn đồ lễ) trước Thánh Lễ. Liệu gần đây, có quy chế nào được đưa ra xác định việc bỏ việc sử dụng khăn phủ chén không?

Câu hỏi: Trước khi đọc các Bài đọc Kinh Thánh, đôi khi các linh mục hoặc thừa tác viên giáo dân đọc Sách Thánh công bố cả phụ đề trước Bài đọc hoặc thậm chí đọc cả chữ đỏ: “Bài đọc I”, “Bài đọc II”, v.v. Thực hành này có được phép không?

Câu hỏi: Trong Thánh Lễ có cộng đoàn tham dự, khi dâng của lễ, giáo dân hay tu sĩ mang đến bàn thờ bánh và rượu để được thánh hiến. Những lễ phẩm này được linh mục chủ tế tiếp nhận. Tất cả những ai tham dự Thánh Lễ đều có thể đi vào đoàn rước cùng với nhóm dâng của lễ này để mang những lễ vật lên. Sau đó, họ sẽ đứng chung quanh bàn thờ cho đến thời điểm hiệp lễ. Thực hành này có phù hợp với tinh thần của luật và của Sách lễ Rôma không?

Câu hỏi: Một số vị chủ tế có thói quen nâng đôi tay lên cao và rồi chắp tay lại trong cuộc đối thoại trước kinh Tiền tụng cũng như khi bắt đầu ban phép lành cuối lễ. Các vị chủ tế khác thì không làm những cử chỉ như vậy. Vậy ai làm đúng?

Câu hỏi: Còn rung chuông trong Thánh Lễ không?

Câu hỏi: Ở một số nơi, người ta thường có thói quen là khi tham dự Thánh Lễ thay vì trao chúc bình an khi phó tế kêu mời “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau” thì họ lại nắm lấy tay nhau đang khi hát Kinh Lạy Cha. Thực hành này có được chấp nhận hay không?

Câu hỏi: Rõ ràng là có những thực hành khác hẳn nhau trong việc đọc hay hát vinh tụng ca kết thúc Kinh nguyện Thánh Thể: (a) Đôi khi chỉ một mình chủ tế đọc hoặc hát vinh tụng ca. (b) Hoặc thường xuyên hơn, tất cả các linh mục đồng tế cùng đọc hoặc hát vinh tụng ca. (c) Ở một số nơi, toàn thể cộng đoàn đọc hoặc hát vinh tụng ca. Vậy phải tuân theo quy tắc nào?

Câu hỏi: Khi không có tín hữu nào hiện diện tại Thánh Lễ để có thể thực hiện lời tung hô sau truyền phép (Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến), linh mục có nên đọc câu: “Đây là mầu nhiệm đức tin” không?

Câu hỏi: Một số hành vi tôn kính của cả chủ tế lẫn dân chúng đã không còn được sử dụng nữa, ví dụ, cúi mình hay cúi sâu được thực hiện thay cho cử chỉ bái gối trước đây khi đọc những lời loan báo về mầu nhiệm nhập thể trong kinh Tin kính (Credo) “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần…” Những cử chỉ như vậy còn được tuân giữ hay không?

Câu hỏi: QCSL [1970] số 237 nói rằng các mụn bánh thánh [dính vào ngón tay LM hay rớt ra ngoài đĩa thánh] sẽ được thu lượm lại, nhưng không nói rõ phải xử lý như thế nào?

Câu hỏi: Sau khi cho rước lễ xong, linh mục thường tráng chén (chén thánh, đĩa thánh, bình thánh) ở giữa bàn thờ. Không thể có một vị trí và thời điểm nào tốt hơn được chọn để làm điều này hay sao? Một thừa tác viên khác có thể tráng chén không?

Câu hỏi: Khi cử hành Thánh Lễ, những loại đèn / nến được thắp sáng đặt trên chân đèn / nến có phải bao gồm các loại sử dụng sáp ong, dầu ô liu, hoặc dầu thực vật khác không?

Câu hỏi: Nếu không có ghế [dành cho] chủ tế và cũng không có vị trí đặc biệt nào để từ đó cử hành phụng vụ Lời Chúa, vậy khi một linh mục cử hành với một nhóm nhỏ hiện diện thôi: (a) Ngài có thể ở tại bàn thờ trong phần phụng vụ Lời Chúa không? (b) Nên đặt Sách Lễ ở phía bên phải của bàn thờ hay ở giữa bàn thờ? (c) Nếu thực hành như thế, phía bên nào của bàn thờ được chỉ định là bên trái hay bên phải?

Câu hỏi: Thánh Lễ cho các nhu cầu và các dịp hội họp khác nhau cũng như Thánh Lễ ngoại lịch được cử hành vào các ngày trong tuần của mùa Giáng sinh và Phục sinh được không?

Câu hỏi: Vào ngày Chủ nhật lễ Lá, phẩm phục màu đỏ chỉ được sử dụng trong cuộc rước lá phải không?

Câu hỏi: Có thể đệm đàn organ đang khi linh mục đọc Kinh nguyện Thánh Thể không?

Câu hỏi: Vào các ngày trong tuần của mùa Thường niên, có thể chọn cử hành Thánh Lễ về bất kỳ vị thánh nào không?

Câu hỏi: Khi nào thì công thức đặc biệt cầu cho người chết trong Kinh nguyện Thánh Thể (KNTT) II và III có thể được sử dụng?

Câu hỏi: Có thể cử hành Thánh Lễ an táng trong tuần bát nhật Giáng sinh và Phục sinh không?

Câu hỏi: Có thể cử hành Thánh Lễ an táng vào thứ Năm Tuần Thánh và trong Tam nhật Phục Sinh không?

 

Có lẽ, phụng vụ nói chung và Thánh Lễ nói riêng là một trong những lãnh vực mà các tín hữu quan tâm nhiều nhất bởi vì lý do rất đơn giản, phụng vụ là phụng tự công cộng của toàn thể Hội Thánh và phụng vụ gắn liền hằng ngày với đời sống của mỗi tín hữu. Vì thế, chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi Bộ Phụng tự Thánh và Kỷ luật Bí tích,[1] từ sau Công đồng Vatican II tới nay, vẫn thường xuyên nhận được rất nhiều thắc mắc của các tín hữu khắp nơi trên thế giới. Những giải đáp của Bộ Phụng tự Thánh và Kỷ luật Bí tích cho những câu hỏi này có thể được tìm thấy trong một tập san có tên gọi là Notitiae. Kể từ năm 1965, tập san Notitiae được phát hành 2 tháng một kỳ với phần nội dung thường bao gồm những vấn đề sau: [i] Các tài liệu chính thức của Tòa Thánh cùng với phần chú giải; [ii] Các bản văn phụng vụ mới; [iii] Báo cáo của các cuộc họp; [iv] Bài nghiên cứu mang tính học thuật về phụng vụ; [v] Giải đáp những gì còn hồ nghi (dubia); [vi] Các diễn văn của ĐGH liên quan đến các vấn đề phụng vụ theo nghi lễ Rôma.

Các tín hữu tại Việt Nam cũng có đầy những thắc mắc và tranh luận về phụng vụ. Tuy nhiên, chúng ta lại ít có dịp tiếp cận với tập san Notitiae để tìm ra lời giải đáp chính thức của Tòa Thánh. Bởi thế, chúng tôi thấy cần phải chuyển ngữ ra tiếng Việt các câu hỏi phụng vụ và lời đáp của Bộ Phụng tự Thánh và Kỷ luật Bí tích hầu giúp cho nhiều người có thể hiểu đúng và thực hành đúng phụng vụ. Vì số câu hỏi là rất lớn nhưng phần nhiều không phải hoặc không còn là “vấn đề” phụng vụ tại Việt Nam nữa, nên chúng tôi chỉ chọn lựa dịch thuật ở đây một ít câu hỏi và trả lời khả dĩ đáp ứng nhu cầu thực tế tại Việt Nam hiện nay. Nhân tiện, chúng tôi cũng tiến hành cập nhật những gì thấy là cần thiết hoặc giải thích cho rõ hơn câu trả lời của Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích.

ĐỆM ĐÀN

Câu hỏi: Có thể đệm đàn organ đang khi linh mục đọc Kinh nguyện Thánh Thể không?

Trả lời: Không được. QCSL [1975] số 12 nói rõ: Tính chất các phần dành cho vị chủ tọa; buộc linh mục phải đọc rõ ràng lớn tiêng, và buộc mọi người phải chăm chú lắng nghe. Vì thế, khi linh mục đọc các phần đó, không ai được đọc hay hát kinh nào khác, cũng không đươc đánh đàn hay chơi nhạc cụ nào khác. Đây là một quy tắc rõ ràng, không có chỗ cho sự nghi ngờ, vì nó là một lời nhắc nhở về những thực hành sai lầm đã hết sức cản trở và giảm thiểu sự tham gia của đoàn dân vào phần trọng tâm này của Thánh Lễ (Notitiae 13 [1977] 94-95, no. 2).

Cập nhật: Bản chất các kinh nguyện “chủ toạ” buộc LM phải đọc rõ ràng, lớn tiếng, và buộc mọi người phải chăm chú lắng nghe. Vì thế, khi LM đọc các kinh này, không ai được đọc hoặc hát kinh nào khác, cũng không được đánh đàn hoặc chơi nhạc cụ nào khác” (QCSL [2002] số 32).

TƯ THẾ NGỒI

Câu hỏi: Sau khi rước lễ, tín hữu có nên ngồi hay không?

Trả lời: Sau khi rước lễ các tín hữu có thể quỳ, đứng, hoặc ngồi. QCSL [1970] số 21 đưa ra quy tắc này: “Dân chúng ngồi .... nếu điều này hữu ích trong lúc thinh lặng thánh sau hiệp lễ.” Vì vậy, đây là vấn đề tùy chọn, chứ không bắt buộc. Do đó, QCSL [1970] số 121 (Tráng chén xong, LM có thể trở lại ghế. Mọi người ngồi, giữ thinh lặng thánh một chút, hoặc có thể hát thánh ca ngợi khen hay thánh vịnh”) nên được diễn dịch cho khớp với QCSL [1970] số 21 (Notitiae 10 [1974] 407) – Một trả lời khác từ Ðức Hồng Y Arinze, Bộ trưởng Bộ Phụng tự và Bí tích trước thắc mắc của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ về vấn đề này như sau: “Luật mọi người đứng trong lúc rước lễ nhằm bảo đảm tính đồng nhất trong một giới hạn rộng rãi. Nhưng luật này không quy định một cách cứng nhắc đến nỗi những ai muốn ngồi hay qùy lại không được tự do”(“Vatican xác định nguyên tắc đứng hay ngồi sau khi rước lễ” từ VietCatholic News (Chúa nhật 20/7/2003).

Câu hỏi: Ở một số nơi, bàn quỳ được đưa ra khỏi nhà thờ. Vì vậy, dân chúng chỉ có thể đứng hoặc ngồi và điều này làm giảm bớt sự tôn kính và tôn thờ đối với bí tích Thánh Thể.

Trả lời: Việc sắp xếp [nội thất] tại một nơi thờ phượng có liên hệ đến tập tục riêng của một địa phương. Ví dụ, ở bên phương Đông, người ta sử dụng thảm; còn trong các đại thánh đường ở Rôma, chỉ từ thời hiện đại, tín hữu mới quen sử dụng những chiếc ghế mà không có bàn quỳ, để nhà thờ có thể chứa được số đông người hơn. Không gì có thể ngăn cản các tín hữu quỳ trên sàn nhà để thể hiện sự tôn thờ của họ, cho dù điều này có khó chịu đến thế nào đi chăng nữa. Trong trường hợp không thể quỳ gối (xin xem QCSL [1975], số 21: “… mọi người đứng: từ đầu ca nhập lễ, hoặc khi linh mục tiên tới bàn thờ, cho đến hết lời nguyện nhập lễ; khi hát Ha-lê-lui-a trước Tin Mừng; khi đọc Tin Mừng; khi đọc kinh Tin kính và lời nguyện cho mọi người; và từ lời nguyện tiến lễ cho đến hết lễ, trừ những gì sẽ nói sau. Còn ngồi: khi đọc các bài đọc và thánh vịnh đáp ca trước Tin Mừng; khi nghe diễn giảng và khi sửa soạn lễ phấm cho phần dâng lễ; và tùy nghi, khi giữ thinh lặng thánh sau hiệp lễ. Sẽ quỳ, khi truyền phép Mình Thánh, Máu Thánh, trừ khi vì nơi chật hẹp, hoặc vì quá đông người dự lễ, hay vì những lý do chính đáng nào khác, không thể quỳ được.”) thì việc cúi mình sâu một cách cung kính cũng là dấu hiệu của sự tôn kính và tôn thờ được thể hiện vào thời điểm truyền phép và hiệp lễ (Notitiae 14 [1978] 302-303, n. 4).

Cập nhật: Các tín hữu đứng: từ khi bắt đầu ca nhập lễ, hoặc khi LM tiến tới bàn thờ, cho đến hết lời nguyện nhập lễ; khi hát Alleluia trước Tin Mừng; khi đọc Tin Mừng; khi đọc kinh Tin kính và lời nguyện cho mọi người; và từ lời nguyện tiến lễ cho đến hết lễ, trừ những gì nói sau. Còn ngồi: khi đọc các bài đọc và thánh vịnh đáp ca trước Tin Mừng; khi nghe diễn giảng và khi sửa soạn lễ phẩm cho phần dâng lễ; và tuỳ nghi, khi giữ thinh lặng thánh sau hiệp lễ. Sẽ quỳ: khi truyền phép Mình Thánh và Máu Thánh, trừ khi vì nơi chật hẹp hoặc vì quá đông người dự lễ, hay vì những lý do chính đáng nào khác không thể quỳ được. [Còn những ai không quỳ gối lúc truyền phép, thì phải cúi mình khi LM cúi mình sau truyền phép]” (QCSL [2002], số 43).

Câu hỏi: Có thể dạo đàn phong cầm cách nhẹ nhàng trong khoảng thời gian thinh lặng sau khi nghe giảng không?

Trả lời: Được, miễn là việc dạo đàn thực sự diễn ra cách nhẹ nhàng và không làm chia trí dân chúng đang khi suy niệm (Notitiae 9 [1973] 192).

Câu hỏi: Cụm từ “một dịp cử hành đặc biệt có phần long trọng” phải được hiểu như thế nào?

Trả lời: Đây là dịp lễ mà QCSL [1970] số 31 đòi hỏi hát kinh Vinh danh (“Kinh Vinh danh là một kinh rất cổ kính mà Hội Thánh đoàn tụ trong Chúa Thánh Thần đã dùng để tôn vinh Chúa Cha và Con chiên và cầu khẩn Người. Hoặc là toàn thể cộng đoàn giáo dân cùng hát, hoặc hát luân phiên giữa dân chúng và ca đoàn, hay là một mình ca đoàn hát. Nếu không hát thì mọi người cùng đọc hoặ chia hai bè. Sẽ hát hoặc đọc trong các Chúa nhật, trừ mùa Vọng và mùa Chay: cũng đọc và hát trong các lễ trọng, lễ kính và trong những dịp cử hành đặc biệt có phần long trọng.”). “Một dịp cử hành đặc biệt có phần long trọng” là dịp cử hành được xét là diễn ra cách trọng thể hoặc với một số lượng lớn người tham dự (Notitiae 6 [1970] 263, no. 33).

Cập nhật: “Kinh Vinh danh là một thánh thi có từ rất lâu đời và đáng kính mà Hội Thánh, được Chúa Thánh Thần quy tụ, dùng để tôn vinh Chúa Cha và cầu khẩn với Chiên Con. Không được thay thế bản văn của thánh thi này bằng bản văn nào khác. LM, hoặc tuỳ nghi, một ca xướng viên hoặc cả ca đoàn xướng, rồi hoặc tất cả mọi người cùng hát, hoặc cộng đoàn hát luân phiên với ca đoàn, hoặc một mình ca đoàn hát. Nếu không hát thì phải đọc, hoặc mọi người đọc chung, hoặc chia hai bè. Thánh thi này được hát hoặc đọc trong các Chúa nhật ngoài mùa Vọng và mùa Chay, trong các lễ trọng và lễ kính, và trong các cử hành đặc biệt khá long trọng” (QCSL [2002] số 53).

Câu hỏi: Trường hợp “Gloria” (Kinh Vinh Danh) và “Credo” (Kinh Tin Kính) không được hát mà chỉ được đọc, đôi khi vị chủ tế tiến hành đọc luân phiên với cộng đoàn. Nhưng vì đây là một bài thánh ca và việc tuyên xưng đức tin liên quan đến cả một cộng đoàn phụng vụ xét như một tổng thể, liệu thực hành này có phù hợp với luật chữ đỏ không?

Trả lời: Chữ đỏ của Nghi thức Thánh Lễ, được xây dựng theo cách thực tiễn, chỉ đề cập đến “Gloria” thế này: “bài thánh ca được hát hoặc đọc” (số 5) và chỉ nói về “Credo” như sau: “việc tuyên xưng đức tin ... được thực hiện”(số 15). Như thường lệ, QCSL [1975] cho thấy sự tiến triển theo một trật tự thiêng liêng (số 31 và 43), bằng cách đưa ra đặc điểm cộng đồng phù hợp với các văn bản này và bằng việc nhấn mạnh đến cách thức đối đáp khi đọc chúng. (a) Đối với “Gloria”, để bảo tồn tính chất của nó như một bài thánh ca, QCSL [1975] số 31 / QCSL [2002] số 53 nói: “Kinh này được hát hoặc do toàn thể cộng đoàn tín hữu, hoặc luân phiên giữa dân chúng và ca đoàn, hoặc do chính ca đoàn. Nếu không hát, thì phải đọc, hoặc bởi tất cả mọi người cùng nhau đọc chung, hoặc chia hai bè.” Do đó, “Gloria” nên ưu tiên hát hơn là đọc. Nếu không hát, nó được đọc bởi tất cả hoặc đọc theo kiểu luân phiên. Chủ tế nên tham gia vào việc hát “Gloria” cùng với cộng đoàn phụng vụ hoặc đọc chung với họ, hoặc luân phiên đối đáp giữa hai bên của cộng đoàn hoặc ngài cũng có thể đọc thánh thi này luân phiên xen kẽ với cộng đoàn. (b) Đối với “Credo”, QCSL [1975] số 44 / QCSL [2002] số 68 nói: “Kinh Tin Kính phải do LM [hát hoặc] đọc chung với cộng đoàn [bắt buộc] vào các Chúa nhật và lễ trọng; cũng có thể đọc trong những cử hành đặc biệt khá long trọng. Nếu hát, thì thường tất cả mọi người cùng hát, hoặc hát luân phiên.” Do vậy, dù hát hay đọc thì “Credo” vẫn thuộc về toàn thể cộng đoàn phụng vụ, cho nên có thể đọc chung với nhau hoặc chia làm hai bè hát đối đáp (Notitiae 14 [1978] 538, no. 14).

Câu hỏi: Trong Tuần Bát nhật Phục sinh, có đọc Kinh Tin Kính không?

Trả lời: Cơ bản là không đọc; Tuy nhiên, vẫn có thể đọc Kinh Tin Kính ngay cả vào ngày thường trong tuần này khi có cử hành lễ “đặc biệt khá trọng thể” (Notitiae 7 [1971] 112, no. 2).

Câu hỏi: Ý nghĩa đích thực của nghi thức dâng lễ là gì? Mô tả về phần dâng lễ trong Thánh Lễ đã chỉ ra rằng nghi thức này chỉ là sự “chuẩn bị” lễ vật và đặt chúng trên bàn thờ. Đây là những lễ phẩm của dân chúng dành cho Giáo Hội và cho người nghèo, hoàn toàn không phải là việc “tiến dâng” hy tế.

Trả lời: Lịch sử dạy rằng nghi thức dâng lễ là một hành động chuẩn bị cho hy tế trong đó linh mục và các thừa tác viên tiếp nhận lễ vật được mang lên bởi dân chúng. Đây là những yếu tố cho việc cử hành (bánh và rượu) và những lễ phẩm khác có ý định dành cho Giáo Hội và cho người nghèo. Ý nghĩa của sự chuẩn bị này luôn luôn được coi như thể là dâng lễ, mặc dù các công thức thực ra đã không diễn tả một cách đầy đủ đây là dâng lễ và cũng không được viết ra trong ngôn ngữ hy tế. Nghi thức mới đặt nét đặc biệt này trong một ánh sáng rõ ràng hơn qua các phương thế: đó là sự tham gia tích cực của các tín hữu trong việc trình bày lễ vật cũng như bằng các công thức mà vị chủ tế đọc khi đặt các yếu tố cho việc cử hành Thánh Thể lên trên bàn thờ (Notitiae 6 [1970] 37, no. 25).

Câu hỏi: Trong Thánh Lễ được cử hành khá long trọng với sự tham dự của cộng đoàn, những cách thức khác nhau của xông hương vẫn được sử dụng: cách thứ nhất, đơn giản và không rườm ra; cách kia, tương tự như nghi lễ xông hương được quy định trong Sách lễ Rôma trước đây. Vậy ta nên theo cách nào?

Trả lời: Đừng bao giờ quên rằng Sách lễ của ĐGH Phaolô VI (từ năm 1970) đã thay thế Sách lễ vốn được gọi không đúng lắm là “Sách lễ của thánh Piô V” (1570), và đây là sự thay thế hoàn toàn, trong cả bản văn lẫn chữ đỏ. Bởi vậy, khi chữ đỏ trong Sách lễ của ĐGH Phaolô VI không nói gì hoặc chỉ nói một chút về những điều cụ thể ở một số chỗ, thì không nên suy đoán rằng phải tuân giữ theo nghi thức cũ. Do đó, các cử chỉ phức tạp và rườm ra khi xông hương như được quy định trong Sách lễ cũ (xem “Missale Romanum”, Vatican Polyglot Press, 1962: “Ritus servandus” VIII and “Ordo incensandi” pp. LXXXLXXXIII) sẽ không được tiếp tục nữa. Trong khi xông hương, vị chủ tế (QCSL [1975] các số 51 và 105) tiến hành như sau: (a) đối với các lễ phẩm: ngài xông 3 lần y như là thầy phó tế xông hương Sách Phúc âm; (b) đối với thánh giá: ngài xông hương 3 lần khi tới trước đối tượng này; (c) đối với bàn thờ: ngài xông hương liên tục khi đi quanh bàn thờ, không phân biệt giữa bàn thờ và chân bàn thờ (Notitiae 14 [1978] 301-302, no. 2).

Câu hỏi: Có thể bỏ nghi lễ rửa tay khi cử hành Thánh Lễ không?

Trả lời: Không được. (1) Cả QCSL [1970] (số 52, 106, 222) và Nghi thức Thánh Lễ [1969] (với cộng đoàn, số 24; không có cộng đoàn, số 18) đều tỏ cho thấy “Lavabo” là một trong những nghi lễ đã được quy định trong phần chuẩn bị lễ vật. Chúng ta không thể bỏ đi nghi thức này vì ý nghĩa của nó là: “nói lên lòng ao ước được thanh tẩy nội tâm [của linh mục]” (GIRM [1970] số 52). Trong quá trình làm việc của Consilium liên quan đến Nghi thức Thánh Lễ, đã có một số cuộc tranh luận về giá trị và vị trí được chỉ định đối với “Lavabo”, ví dụ, liệu nghi thức này nên được cử hành trong im lặng hay đi kèm với một bản văn; tuy nhiên, điều người ta nhất trí là nó phải được giữ lại. Mặc dù không có lý do thực tế nào về hành động rửa tay kể từ lúc khởi đầu thời Trung cổ, nhưng biểu tượng của nó là hiển nhiên và được mọi người hiểu thấu (xem PV 34). Nghi thức này được áp dụng trong tất cả các nghi lễ của phương Tây. (2) Hiến chế Phụng vụ Thánh (PV 37-40) đã phác thảo ra những phần thích nghi của nghi lễ vốn được đề xuất bởi các HĐGM và rồi đệ trình lên Tòa Thánh. Những thích nghi như vậy phải dựa trên những lý do nghiêm trọng, chẳng hạn, do văn hóa và quan điểm đặc thù của dân chúng, do cách sử dụng trái ngược và không thể thay đổi, do thiếu khả năng thích ứng thực tế đối với một số nghi thức mới mẻ vì chúng xa lạ với bản tính của người dân. (3) Ngoài những khoản miễn trừ đã được hình dung không nằm trong chữ đỏ và các bản dịch khác nhau của văn bản (xem Consilium, Instr. 25/01/1969), Nghi thức Thánh Lễ được trình bày như một đơn vị duy nhất có cấu trúc tổng quát và các thành phần riêng lẻ mà phải được tôn trọng một cách chính xác. Sự lựa chọn tùy ý cử hành hay không một phần theo ý cá nhân hoặc ý cộng đồng sẽ sớm dẫn đến sự hủy hoại cả một công trình đã được xây dựng một cách chu đáo và kiên trì (Notitiae 6 [1970] 38-39, no. 27).

Câu hỏi: Trong phần chuyển cầu của Kinh nguyện Thánh Thể III, chúng ta đọc thấy cụm từ “cùng với thánh T” (rồi tới dấu ngoặc đơn mở và đóng với dòng chữ đỏ bên trong như sau “tên thánh kính trong ngày hay thánh bổn mạng”). Những từ này nên được diễn giải thế nào? Có phải đề cập đến vị thánh kính trong ngày hay thánh bổn mạng không? Có được đề cập như thế ngay cả vào Chúa nhật hoặc vào những ngày lễ long trọng hơn không? Một vị á thánh có thể được đề cập ở chỗ này không?

Trả lời: (a) Các từ được trích dẫn [như được ghi chú một cách đúng đắn] nằm trong ngoặc đơn; do đó, việc muốn đề cập đến tên thánh mừng kính trong ngày hoặc tên vị thánh bảo trợ hay không được coi là tùy chọn. Tuy nhiên, không nên thường xuyên bỏ qua mà không đọc gì cả, bởi vì việc đề cập đến tên các thánh như thế bổ sung một điều gì đó cụ thể / đặc biệt liên quan đến những người tham dự phụng vụ, địa điểm, và hoàn cảnh ở đó. (b) Vì vậy, có thể luôn luôn đề cập đến tên các vị thánh kính trong ngày hoặc tên của vị thánh bổn mạng, ngay cả khi Thánh Lễ nhằm tôn vinh thánh nhân bị cản trở, và đề cập thậm chí vào cả Thánh Lễ Chúa nhật và vào những ngày trọng thể hơn. Có những điều kiện đặc biệt của dân chúng và địa phương nơi cử hành đôi khi có thể khiến chúng ta chọn lựa cách bỏ qua mà không cần đọc tên vị thánh, ví dụ, nếu đề cập đến một vị thánh ít được biết đến mà có thể khiến dân chúng bối rối và lúng túng. Vị chủ tế phải luôn canh chừng, đừng áp đặt lòng sùng mộ của cá nhân mình lên các tín hữu. (c) Những gì đã nói về các vị thánh thì cũng được áp dụng cho á thánh, nhưng chỉ nên thực hành tại những nơi và theo các cách thức đã được thiết định bởi luật pháp mà thôi (x. CIC [1917] 1277, 2): Notitiae 14 [1978] 594-595, no. 17).

Câu hỏi: Theo chỉ dẫn của Nghi thức Thánh Lễ, phải đọc hay hát kinh Chiên Thiên Chúa (Agnus Dei) bao nhiêu lần?

Trả lời: Thời điểm đọc / hát kinh “Agnus Dei” là đi kèm với việc bẻ bánh thánh cho đến khi một mẩu bánh nhỏ được bỏ vào chén thánh (QCSL [1975] số 56e). Trong thực tế, hai tình huống cần được xem xét: (a) Nếu chỉ có một chủ tế hoặc chỉ có ngài với một vài vị đồng tế hiện diện, việc bẻ bánh bấy giờ được thực hiện khá nhanh. Thông thường, kinh “Agnus Dei” được đọc hoặc hát ba lần, như được chỉ ra trong Nghi thức Thánh Lễ [1975] số 131, là đủ để đi kèm với nghi lễ bẻ bánh này; (b) Trong trường hợp có nhiều vị đồng tế hoặc việc bẻ bánh phải mất một thời gian dài, thì kinh “Agnus Dei” có thể được lặp lại cho đến khi hoàn tất việc bẻ bánh, theo chữ đỏ trong Nghi thức Thánh Lễ [1975] số 131: “Nếu việc bẻ bánh kéo dài, có thể lập lại nhiều lần ‘Lạy Chiên Thiên Chúa’ nhưng lần cuối cùng vẫn kết ‘xin ban bình an cho chúng con’); và theo chỉ thị của QCSL [1975] số 56e: “Kinh “Lạy Chiên Thiên Chúa”: đang khi bé bánh và bỏ một phần vào chén thánh thì ca đoàn hay ca viên thường hát đối đáp hay đọc lớn tiếng kinh Lạy Chiên Thiên Chúa”, và giáo dân đáp lại. Kinh này có thể được lặp đi lặp lại, bao lâu còn cần để kèm theo việc bẻ bánh. Lần cuối cùng đưực kết thúc bằng câu “Xin ban bình an cho chủng con”(Notitiae 14 [1978] 306, no. số 8).

Câu hỏi: Ở rất nhiều nơi, khăn phủ hầu như không bao giờ được sử dụng để phủ lên chén được chuẩn bị ở bàn phụ (bàn đồ lễ) trước Thánh Lễ. Liệu gần đây, có quy chế nào được đưa ra xác định việc bỏ việc sử dụng khăn phủ chén không?

Trả lời: Không có quy chế nào như vậy, thậm chí trong thời gian gần đây, làm thay đổi nội dung của QCSL [1975] số 80c: “[Trên bàn phụ: chén lễ, khăn thánh, khăn lau chén, và, tùy nghi, tầm đậy chén: đĩa thánh và nếu cần các bình thánh có đựng bánh lễ cho linh mục, các thừa tác viên và giáo dân rước lễ; bình nước và bình rượu, trừ khi giáo dân đưa lên tẫt cả các vật này lúc dâng lễ; đĩa hứng khi cho giáo dân rước lễ; và tất cả những gì cần thiềt để rửa tay]. Chén thánh có khăn phủ, và khăn phủ này có thể luôn là màu trắng” (Notitiae 14 [1978] 594, no. 16).

Câu hỏi: Trước khi đọc các Bài đọc Kinh Thánh, đôi khi các linh mục hoặc thừa tác viên giáo dân đọc Sách Thánh công bố cả phụ đề trước Bài đọc hoặc thậm chí đọc cả chữ đỏ: “Bài đọc I”, “Bài đọc II”, v.v. Thực hành này có được phép không?

Trả lời: Rõ ràng là không. Cũng như tất cả chữ đỏ, các tiêu đề như “Bài đọc I”, “Bài đọc II” chỉ là những hướng dẫn thuận tiện cho người đọc. Đối với các lời chú thích / đầu đề [được in nghiêng] vốn là một câu hoặc được rút ra từ bản văn Sách Thánh hoặc là câu tóm tắt nội dung của Bài đọc sắp công bố, chúng cũng chỉ là những hướng dẫn hữu ích cho việc lựa chọn giữa các bản văn Sách Thánh khác nhau mà thôi, đặc biệt là trong phần các lễ Chung. Tiêu đề duy nhất được đọc lên là câu chỉ ra tên của cuốn Sách Thánh / Thánh thư được công bố, hoặc, tác giả của bản văn / tác phẩm đó. Ví dụ: “Bài trích thư thánh Phaolô tông đồ gởi Timôthê”; “Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh…” (Notitiae 14 [1978] 303, no. 5).

Câu hỏi: Trong Thánh Lễ có cộng đoàn tham dự, khi dâng của lễ, giáo dân hay tu sĩ mang đến bàn thờ bánh và rượu để được thánh hiến. Những lễ phẩm này được linh mục chủ tế tiếp nhận. Tất cả những ai tham dự Thánh Lễ đều có thể đi vào đoàn rước cùng với nhóm dâng của lễ này để mang những lễ vật lên. Sau đó, họ sẽ đứng chung quanh bàn thờ cho đến thời điểm hiệp lễ. Thực hành này có phù hợp với tinh thần của luật và của Sách lễ Rôma không?

Trả lời: Chắc chắn cử hành Thánh Thể là hành động của toàn thể cộng đồng, được thực hiện bởi tất cả các thành viên của cộng đoàn phụng vụ. Tuy nhiên, mỗi người có vị trí và vai trò riêng của mình và phải tuân giữ điều này một cách đúng đắn: “Trong cử hành phụng vụ, là thừa tác viên hay là tín hữu, trong các việc cử hành phụng vụ, mỗi người khi chu toàn phận vụ, chỉ thi hành trọn những gì thuộc lãnh vực mình tùy theo bản chất sự việc và những qui tắc phụng vụ” (PV 28). Trong phần phụng vụ Thánh Thể, chỉ có linh mục chủ tế mới ở lại tại bàn thờ. Vị trí của các thành viên thuộc cộng đồng tín hữu đang quy tụ là ở trong nhà thờ và bên ngoài “presbyterium”. Đây là khu vực được dành riêng cho chủ tế, cho các vị đồng tế và các thừa tác viên bàn thờ (Notitiae 17 [1981] 61).

Câu hỏi: Một số vị chủ tế có thói quen nâng đôi tay lên cao và rồi chắp tay lại trong cuộc đối thoại trước kinh Tiền tụng cũng như khi bắt đầu ban phép lành cuối lễ. Các vị chủ tế khác thì không làm những cử chỉ như vậy. Vậy ai làm đúng?

Trả lời: Thông thường, vấn đề nảy sinh là do thói quen vốn bắt nguồn từ chữ đỏ của Sách Lễ Rôma trước đây. Trong khi đó, các chỉ thị hiện tại của Nghi thức Thánh Lễ vốn phải được tuân theo thì cho biết rõ ràng rằng chỉ nâng tay lên ở hai thời điểm: (a) Tại thời điểm của cuộc đối thoại trước kinh Tiền tụng, số 27 (SLRM, tr. 392 / SLRM [1975] phiên bản VN, tr. 429) nói chính xác: “Với đôi tay dang ra, linh mục hát hoặc đọc: ‘Chúa ở cùng anh chị em’ [Giáo dân thưa: “Và ở cùng cha”];” “Linh mục giơ tay lên nói tiếp: ‘Hãy nâng tâm hồn lên’ [Giáo dân thưa: “Chúng con đang hướng về Chúa”];” “Với đôi tay dang rộng, linh mục tiếp tục: ‘Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta’ [Giáo dân thưa: “Thật là chính đáng”];” “Linh mục dang tay tiếp tục đọc kinh Tiền tụng.” Do đó, với chỉ thị mới này, nghi thức cũ không còn được tiếp tục nữa; nghĩa là điều mà nghi thức cũ chỉ ra vào thời điểm này: “Linh mục chắp tay trước ngực và cúi đầu khi nói: “Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta” không được thực hành nữa...” (b) Tại thời điểm ban phép lành vào cuối Thánh Lễ, Nghi thức Thánh Lễ mới chỉ nói đơn giản: “Linh mục ban phép lành cho mọi người, bằng những lời này…” (Số 142). Trong khi đó, chữ đỏ của Nghi thức Thánh Lễ trước đây lại nói, sau lời giải tán “Ite, Missa est”, cử chỉ được quy định cho việc ban phép lành có năm bước sau: “Linh mục ngước mắt lên, dang tay ra, nâng tay lên rồi chắp hai tay lại, và cúi đầu trước thánh giá, ngài nói: “Xin Thiên Chúa toàn năng ban phúc lành cho anh chị em.” .và quay mặt về phía mọi người, ngài tiếp tục: “là Cha và Con và Thánh Thần.” Tuy nhiên, bây giờ, chữ đỏ có liên quan chỉ đòi hỏi một cử chỉ thôi, cụ thể là, linh mục ban phúc lành cho mọi người bằng những lời: “Xin Thiên Chúa toàn năng là Cha và Con và Thánh Thần ban phúc lành cho anh chị em” (Notitiae 14 [1978] 536-537, số 12).

Câu hỏi: Còn rung chuông trong Thánh Lễ không?

Trả lời: Tất cả phụ thuộc vào những hoàn cảnh khác nhau liên quan đến nơi chốn cũng như dân chúng, như được chỉ rõ trong QCSL [1975] số 109: “Một lát trước khi truyền phép, nếu thuận tiện, người giúp lễ sẽ rung chuông như một tín hiệu nhắc nhở giáo dân. Tùy theo phong tục địa phương, giúp lễ cũng rung chuông mỗi lần dâng Mình Máu Thánh.” Nếu nơi nào nhận được một nền giáo lý cũng như giáo dục lâu dài và chu đáo về lãnh vực phụng vụ, thì một cộng đoàn phụng vụ ở đó có thể tham gia Thánh Lễ với sự chăm chú và ý thức đến độ không cần tín hiệu rung chuông này ở phần trung tâm của Thánh Lễ. Điều này có thể dễ dàng áp dụng trong trường hợp, ví dụ như, tại các cộng đoàn tu sĩ hoặc khi cử hành Thánh Lễ cho các nhóm nhỏ và đặc biệt. Điều ngược lại có thể được coi là trường hợp của một nhà thờ giáo xứ hoặc nhà thờ công cộng, nơi mà các tín hữu tham dự nhận được những mức độ giáo dục về phụng vụ và tôn giáo khác nhau và là nơi thường có khách vãng lai hoặc không phải là người đi nhà thờ thường xuyên tham gia Thánh Lễ. Trong những trường hợp này, việc rung chuông xét như một tín hiệu là hoàn toàn phù hợp và đôi khi cần thiết. Để kết luận: thông thường, nên đưa ra tín hiệu bằng việc rung chuông, ít nhất là ở thời điểm sau truyền phép khi linh mục giơ Mình Thánh và Chén Thánh lên cao cho đòan dân chiêm ngưỡng hầu khơi gợi niềm vui và sự chú ý của người tham dự (Notitiae 8 [1972] 343).

Cập nhật: Trước lúc truyền phép một chút, thừa tác viên có thể tuỳ nghi rung chuông để nhắc nhở tín hữu. Cũng rung chuông khi dâng Mình Thánh, và khi dâng Máu Thánh lên, tuỳ theo thói quen mỗi địa phương” (QCSL [2002], số 150).

Áp dụng: Nên bỏ thói quen rung chuông đang khi chủ tế rước lễ vì hai lý do: [i] Thứ nhất, tất cả những gì vừa nêu, xét như là luật phụng vụ, đều không đề cập hay có bất cự sự ủng hộ nào cho thực hành này; [ii] Thứ hai, đây là thời điểm mà QCSL [1975] số 119 nói rõ rằng Khi linh mục rước lễ, ca đoàn bắt dầu hát ca hiệp lễ” và QCSL [2002] số 86 cũng nói tương tự: Đang khi linh mục rước lễ, thì hát ca hiệp lễ” chứ không phải rung chuông.

Câu hỏi: Ở một số nơi, người ta thường có thói quen là khi tham dự Thánh Lễ thay vì trao chúc bình an khi phó tế kêu mời “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau” thì họ lại nắm lấy tay nhau đang khi hát Kinh Lạy Cha. Thực hành này có được chấp nhận hay không?

Trả lời: Việc nắm tay nhau kéo dài tự nó là một dấu hiệu của sự hiệp thông hơn là dấu hiệu trao bình an. Hơn nữa, đây là một cử chỉ phụng vụ được đem vào phụng vụ một cách tự nhiên theo sáng kiến cá nhân chứ không phải theo hướng dẫn của chữ đỏ. Cũng không có bất kỳ lời giải thích rõ ràng nào về lý do tại sao dấu hiệu trao chúc bình an khi có lời mời: “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau” lại phải thay thế để rồi mang một cử chỉ khác vốn kém ý nghĩa hơn vào trong một phần khác của Thánh Lễ: dấu hiệu bình an chứa đầy ý nghĩa, là sự ân cần tử tế và mang cảm hứng Kitô giáo. Phải loại bỏ bất cứ sự thay thế nào cho dấu hiệu bình an này (Notitiae 11 [1975] 226).

Câu hỏi: Rõ ràng là có những thực hành khác hẳn nhau trong việc đọc hay hát vinh tụng ca kết thúc Kinh nguyện Thánh Thể: (a) Đôi khi chỉ một mình chủ tế đọc hoặc hát vinh tụng ca. (b) Hoặc thường xuyên hơn, tất cả các linh mục đồng tế cùng đọc hoặc hát vinh tụng ca. (c) Ở một số nơi, toàn thể cộng đoàn đọc hoặc hát vinh tụng ca. Vậy phải tuân theo quy tắc nào?

Trả lời: Trong bất kỳ một cuộc họp mặt nào, thông thường, việc khai mở và kết thúc thuộc quyền của vị chủ tọa. Trong trường hợp cử hành Thánh Thể, rõ ràng, phần chính yếu của toàn bộ cử hành Thánh Lễ chính là Kinh nguyện Thánh Thể vốn bao gồm từ Kinh tiền tụng cho đến vinh tụng ca kết thúc “Chính nhờ Người, với Người và trong Người mà mọi danh dự và vinh quang đều quy về Chúa, là Cha toàn năng, trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời.” Do đó, vị chủ tế sẽ là người khai mở Kinh nguyện Thánh Thể này bằng Kinh tiền tụng; tiếp theo, toàn thể cộng đoàn cùng nhau đọc hoặc hát kinh Sanctus; sau đó, chỉ một mình chủ tế đọc [Kinh nguyện Thánh Thể II]: “Lạy Chúa, Chúa thực sự là Đấng Thánh…” (hoặc bản văn song song trong các Kinh nguyện Thánh Thể khác). Tới phần vinh tụng ca kết thúc, chúng ta ghi nhận ba trường hợp được yêu cầu sau đây: (a) Chủ tế là người có quyền khai mở Kinh nguyện Thánh Thể thì cũng kết thúc Kinh nguyện này bằng cách [đọc / hát] vinh tụng ca cuối cùng. Chính xác, đây là những gì mà QCSL [1975] số 191 chỉ ra: Lời kết thúc kinh Tạ ơn sẽ do (a) một mình chủ tế đọc, hoặc do (b) tất cả các vị đồng tế cùng đọc với ngài”. Trường hợp thứ hai (b) được áp một cách phổ biến vì hầu như mọi nơi, các linh mục đồng tế đã nhanh chóng chấp nhận việc đọc hoặc hát vinh tụng ca kết thúc này cùng với nhau. Không giống như hai trường hợp trước [(a) + (b)], việc toàn thể cộng đoàn cùng đọc hay hát vinh tụng ca kết thúc Kinh nguyện Thánh Thể chung với nhau là một sự nới rộng bất hợp pháp không chỉ từ quan điểm kỷ luật – vì chống lại các quy tắc hiện hành - mà ở mức độ sâu xa hơn, nó mâu thuẫn với bản chất của các thừa tác viên và các bản văn. Mặc dù ai đó có thể giải thích phần mở rộng này có thể áp dụng cho toàn thể cộng đoàn phụng vụ như là một dấu hiệu mong muốn tăng cường sự tham gia của mọi người vào cử hành phụng vụ. Tuy nhiên, điều cần thiết là mong muốn này phải được thực hiện một cách có trật tự và xác thực. Có những điều xem ra như thể sự tiến bộ nhưng thực sự lại là bước thụt lùi: đó là, ở đây, người ta đã quên đi phần vụ thuộc về mỗi cá nhân trong nghi thức phụng vụ. Hãy xem lại Hiến chế Phụng vụ Thánh số 28: Là thừa tác viên hay là tín hữu, trong các việc cử hành phụng vụ, mỗi người khi chu toàn phận vụ, chỉ thi hành trọn những gì thuộc lãnh vực mình tùy theo bản chất sự việc và những qui tắc phụng vụ. Trong trường hợp thứ ba (c), điều thường xảy ra là “Amen” cuối cùng được nói hoặc hát không phải bởi một người. Ngược lại, như các hướng dẫn được đưa ra trong Nghi thức Thánh Lễ [1975] (các số 100, 108, 115, 124, “Dân chúng đáp: ‘Amen’”), sau vinh tụng ca, chúng ta có thể nhấn mạnh hơn lời đáp Amen này bằng cách tất cả mọi người cất lên bản dệt nhạc cho lời Amen một cách công phu trau truốt hơn nhằm tạo ra sức mạnh và sự trang trọng cho lời tung hô này (ví dụ, tất cả mọi người sẽ hát ba lần “Amen” trong Thánh Lễ do Đức Giáo hoàng cử hành hoặc hát “Amen” cách đơn giản hơn như trong Sách lễ 1974 của Pháp, trang 103) (Notitiae 14 [1978] 304-305, số 7).

Cập nhật:

- Cuối Kinh nguyện Thánh Thể (Kinh Tạ Ơn), LM cầm đĩa có bánh thánh và chén thánh, rồi nâng cả hai lên và đọc lời vinh tụng ca một mình: “Chính nhờ Người…” Đến cuối, cộng đoàn tung hô: “Amen”. Đoạn LM đặt đĩa thánh và chén thánh trên khăn thán (QCSL [2002], số 151).

- Vinh tụng ca kết thúc Kinh nguyện Thánh Thể (Kinh Tạ Ơn) chỉ được đọc bởi vị chủ tế chính, và nếu muốn, các vị đồng tế có thể cùng đọc với ngài, còn tín hữu thì không được đọc theo (QCSL [2002], số 236).

Câu hỏi: Khi không có tín hữu nào hiện diện tại Thánh Lễ để có thể thực hiện lời tung hô sau truyền phép (Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến), linh mục có nên đọc câu: “Đây là mầu nhiệm đức tin” không?

Trả lời: Không. Cụm từ “mầu nhiệm đức tin”, vốn đã được lấy ra khỏi bối cảnh những lời riêng của Chúa Kitô và được đặt sau phần truyền phép “phục vụ như là một câu dẫn đến lời tung hô” (Ap. Const. “Missale Romanum”). Nhưng khi không có tín hữu nào hiện diện để có thể đáp lại lời tung hô, thì linh mục không cần đọc câu: “Đây là mầu nhiệm đức tin” nữa. Trường hợp này cũng giống như một Thánh Lễ, do nhu cầu nghiêm trọng, được cử hành mà không có bất kỳ người giúp lễ nào, thì chủ tế sẽ không đọc các lời chào chúc và không ban phép lành vào cuối Thánh Lễ (QCSL [1970] số 211). Câu Trả lời tương tự áp dụng cho Thánh Lễ đồng tế mà tại đó không có tín hữu nào hiện diện (Notitiae 5 [1969] 324-325, no. 3. 229).

Cập nhật: Nếu không có lý do chính đáng và hợp lý, thì không được cử hành Thánh Lễ mà không có người giúp, hoặc ít là một tín hữu nào đó. Trong trường hợp này, thì bỏ các lời chào, lời bảo và phép lành cuối lễ” (QCSL [2002] số 254).

Câu hỏi: Một số hành vi tôn kính của cả chủ tế lẫn dân chúng đã không còn được sử dụng nữa, ví dụ, cúi mình hay cúi sâu được thực hiện thay cho cử chỉ bái gối trước đây khi đọc những lời loan báo về mầu nhiệm nhập thể trong kinh Tin kính (Credo) “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần…” Những cử chỉ như vậy còn được tuân giữ hay không?

Trả lời: Rõ ràng, mọi người nên thể hiện đức tin, lòng mộ mến và sự tôn kính của mình không chỉ bằng lời nói mà còn bằng cử chỉ và tư thế nữa. Người ta phải cẩn thận hơn về điều này bởi vì kể từ khi cải cách phụng vụ, thì hiện nay, các cử chỉ được quy định ngày càng ít hơn và đơn giản hơn. Do đó, Nghi thức Thánh Lễ và QCSL [1975] chỉ định một số trường hợp trong đó cử chỉ đi kèm với lời đọc. Để nhận diện những trường hợp khác nhau, chúng ta chỉ cần nhắc lại ở đây QCSL [1975] số 234 là đủ: “Có hai cách cúi: cúi đầu và cúi mình: (a) Cúi đầu: mỗi khi đọc danh Ba Ngôi Thiên Chúa cùng nhau, mỗi khi đọc tên Giêsu, tên Đức Maria đồng trinh và tên vị thánh mà chúng ta dâng lễ kính ngài; (b) Cúi mình hay cúi sâu: khi chào kính bàn thờ, không có Mình Thánh trong Nhà Tạm; khi đọc kinh “Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin thanh tẩy...’’, “Lay Chúa là Thiên Chúa, xỉn thirơng nhận...’'; trong kinh Tin kính, khi đọc câu “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần...; trong kinh Tạ ơn I, khi đọc câu “Lạy Cha là Thiên Chúa loàn năng, chúng con nài xin Cha...”. Trong trường hợp đọc các lời trong kinh Tin kính mà chữ đỏ của Nghi thức Thánh Lễ dạy “Tất cả cùng cúi”. Cũng nên nhớ rằng trong Thánh Lễ Vọng Giáng sinh, Thánh Lễ [GS] lúc nửa đêm, Thánh Lễ [GS] lúc rạng đông và Thánh Lễ [GS] ban ngày, chúng ta bái gối khi đọc câu “Và đã làm người” (xem MR, pp. 153, 155, 156, 157); Cũng thực hành tương tự như thế trong Thánh Lễ Truyền tin (xem MR, p. 538). Trường hợp thánh hiến bánh và rượu, QCSL [1975] số 234b quy định: “Linh mục cúi mình một chút khi đọc lời truyền phép.” Hơn nữa các linh mục bái gối “sau khi giơ cao Mình Thánh” cũng như “sau khi giơ cao chén thánh” (QCSL [1975] số 233); “Linh mục bái gối thờ lạy”(Nghi thức Thánh Lễ, các số 91-92, 104-105, 111- 112, 120-121). Đối với các linh mục đồng tế, các ngài đứng đang khi chủ tế giơ cao bánh thánh và chén thánh, chăm chú nhìn vào bánh thánh và chén thánh, rồi cúi sâu (QCSL [1975], các số 174c, 180c, 184c, 188c). Tương tự như vậy, trước khi rước lễ, có những cử chỉ diễn tả lòng tôn kính và đức tin được thực hiện bởi cả linh mục chủ tế lẫn những người rước lễ. Đối với linh mục chủ tế, QCSL [1975] số 115 và Nghi thức Thánh Lễ số 133 cho biết “.. sau đó linh mục bái gối, cầm lấy bánh thánh”, v.v.; còn đối với các linh mục đồng tế, QCSL [1975] hướng dẫn: “…từng người một, đến giữa bàn thờ, bái gối [hoặc cúi mình], cung kính cầm lấy Mình Thánh Chúa ở bàn thờ; tay mặt cầm Mình Thánh, tay trái đỡ phía dưới, rồi vể chỗ đứng. Các vị đồng tế có thể đứng nguyên tại chỗ, chủ tế hoặc một hay nhiều vị đồng tế cầm đĩa thánh đi đến trước từng người, để mỗi người, tiếp nhận Mình Thánh; hoặc chuyển đĩa thánh tự người nọ tới người kia cho đến người cuồi cùng.” (QCSL [1975] số 197). Đối với dân chúng, họ đứng khi lãnh nhận Thánh Thể, và họ có thể làm một dấu hiệu tôn kính nào đó (QCSL [1975] các số 244c, 245b, 246b, 247b) (Notitiae 14 [1978] 535-536, no 11).

Cập nhật và hội nhập (dựa theo QCSL [2002] phiên bản tiếng Việt):

- Bái gối là bái gối bên phải sát đất, biểu lộ sự thờ lạy, vì thế, nó được dành để tôn kính phép Thánh Thể và Thánh giá kể từ khi nghi thức tôn thờ trọng thể trong phụng vụ ngày thứ Sáu Tuần Thánh cho đến lúc khởi đầu Canh thức Vượt Qua. Tại Việt Nam, Hội đồng Giám mục đã quy định thay thế bái gối bằng cúi mình. Trong Thánh Lễ, có ba lần chủ tế cúi mình thay bái gối, tức là: sau khi dâng Mình Thánh, sau khi dâng Máu Thánh và trước khi rước lễ. Những điều riêng biệt phải giữ trong Thánh Lễ đồng tế được ghi ở phần nói về lễ đồng tế (x. số 210-251). Nếu Nhà Tạm có Mình Thánh Chúa đặt trong cung thánh, thì LM, phó tế và các thừa tác viên cúi mình khi đến bàn thờ hoặc khi rời bàn thờ, nhưng không cúi mình trước Nhà Tạm đang khi cử hành Thánh Lễ. Ngược lại, mọi người cúi mình khi đi qua trước Mình Thánh Chúa, trừ ra khi đang đi kiệu. Những thừa tác viên cầm Thánh giá nến cao (đèn hầu) đi rước, thì cúi đầu thay vì cúi mình (số 274).

- Việc cúi đầu, cúi mình nói lên sự tôn kính đối với chính các nhân vật hoặc các biểu tượng của các nhân vật ấy. Có hai cách cúi: cúi đầu và cúi mình. (a) Cúi đầu: mỗi khi đọc kinh Ba Ngôi Thiên Chúa một trật, khi đọc tên Chúa Giêsu, tên Đức Maria đồng trinh và tên vị thánh được kính trong lễ hôm ấy. (b) Cúi mình hoặc cúi sâu: khi chào kính bàn thờ, khi đọc các kinh “Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin thanh tẩy…”, và kinh “Lạy Chúa là Thiên Chúa, xin thương nhận…”, khi đọc câu: “Bởi phép Chúa Thánh Thần…” trong Kinh Tin kính, câu: “Lạy Chúa toàn năng, chúng con nài xin Chúa…” trong Lễ quy Rôma. Phó tế cũng cúi mình khi xin chúc lành trước khi đi đọc bài Tin Mừng. Ngoài ra, LM cũng hơi cúi mình khi đọc lời truyền phép (số 275).

- LM đọc hoặc hát Kinh Tin kính chung với cộng đoàn (x. số 68). Mọi người đứng. Khi tới câu: “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần…”, mọi người đều cúi mình; nhưng trong lễ Truyền tin và lễ Giáng sinh, thì mọi người bái gối (số 137).

Câu hỏi: QCSL [1970] số 237 nói rằng các mụn bánh thánh [dính vào ngón tay LM hay rớt ra ngoài đĩa thánh] sẽ được thu lượm lại, nhưng không nói rõ phải xử lý như thế nào?

Trả lời: QCSL [1970] số 237 phải được thực hiện trong bối cảnh xem xét thêm các số hướng dẫn khác liên quan đến cùng một điểm. Mô tả về hình thức cơ bản của việc cử hàn, QCSL nói rõ: “Cho rước lễ xong, linh mục trở về bàn thờ, thu lại những mẩu bánh nếu có, rồi đứng sang phía bên cạnh bàn thờ hoặc tới bàn phụ mà gạt mụn bánh trên đĩa thánh vào trong bình thánh vào chén thánh, rồi tráng chén và dùng khăn tuyết mà lau” (QCSL [1970] số 120). Nghi thức Thánh Lễ với cộng đoàn tham dự số 138 chỉ ra: “Sau khi cho rước lễ xong, chủ tế hoặc phó tế gạt mụn bánh thánh vào chén thánh và tráng chén.” Còn số 31 của Nghi thức Thánh Lễ không có cộng đoàn tham dự thì cho biết: “Sau đó, linh mục tráng chén “trên đĩa thánh” và chính chén thánh.” Như vậy là đã rõ (Notitiae 8 [1972] 195).

Cập nhật:

- Cho rước lễ xong, LM lau đĩa thánh gạt vào chén thánh và tráng chén thánh. Thừa tác viên đem cất chén thánh, khăn thánh và khăn lau chén, hoặc để lại trên bàn thờ (NTTL – Khi chỉ có một thừa tác viên tham dự - số 30).

- Cho rước lễ xong, LM hoặc phó tế hoặc thầy (đã lãnh tác vụ) giúp lễ lau đĩa thánh gạt vào chén thánh rồi tráng chén thánh (NTTL, số 137).

Câu hỏi: Sau khi cho rước lễ xong, linh mục thường tráng chén (chén thánh, đĩa thánh, bình thánh) ở giữa bàn thờ. Không thể có một vị trí và thời điểm nào tốt hơn được chọn để làm điều này hay sao? Một thừa tác viên khác có thể tráng chén không?

Trả lời: (a). Các chỉ thị trong QCSL phải được tuân thủ. Có một nguyên tắc chung tại QCSL [1975] số 238 là: “ Nên hết sức liệu để tráng, lau các bình thánh tại bàn phụ, sau khi hiệp lễ hay dâng lễ, hoặc do chính linh mục, hoặc thầy phó tề hay thầy giúp lễ.” Hướng dẫn liên quan đến thời điểm tráng chén (sau khi rước lễ hoặc sau Thánh Lễ) được hoàn thành tại số 229 của QCSL [1975] khi đề cập đến vị trí tráng chén (ở bên cạnh bàn thờ). Chúng ta hiểu ngầm rằng quy định này muốn chủ tế đừng bao giờ đứng ở giữa bàn thờ mà tráng chén (xem thêm số 120). (b) Các chi tiết khác được tìm thấy ở nơi khác trong QCSL [1975] như sau: Đối với linh mục, theo QCSL [1975] số 120: Cho rước lễ xong, linh mục trơ lại bàn thờ, lượm những mụn bánh, nếu có; rồi ngài đứng sang phía cạnh bàn thờ hay tới bàn phụ mà gạt các mụn bánh trên đĩa thánh và trong bình thánh vào chén thánh; ngài vừa tráng chén, vừa đọc thầm: “Lạy Chúa, miệng chúng con...” và dùng khăn lau chén mà lau. Nếu tráng chén trên bàn thờ, thì sau đó người giúp lễ sẽ đem bình và chén xuồng bàn phụ. Cũng có thể để chén bình chưa tráng trên một khăn thánh  bàn thờ hay bàn phụ, che đậy lại tùy nghi, để sau lễ, khi giải tán dân chúng rồi, sẽ tráng sau.” Đối với phó tế, theo QCSL [1975] số 138: Cho rước lễ xong, cùng với linh mục trở về bàn thờ, thầy lượm các mụn bánh thánh, nếu có, rồi đem chén thánh và các bình thánh xuống bàn phụ mà tráng, lau và sắp xếp như thường lệ; đang khi đó, linh mục tiến về ghế. Cũng co thế để chén và bình thánh chưa tráng, chưa lau trên một khăn thánh ở bàn phụ, che đậy lại tùy nghi, để sau lễ sẽ tráng, một khi đã giải tán dân chúng.” Đối với thầy giúp lễ, theo QCSL [1975] số 147: Cho rước lễ xong, thầy giúp linh mục hoặc thầy phó tẽ lau chén và sắp xếp các bình thánh. Khi không có thầy phó tế, thấy giúp lễ mang các bình thánh tới bàn phụ, lau tráng và sắp xếp các bình thánh tại đó.” Những lưu ý về linh mục, phó tế và thầy giúp lễ trên đây cũng có thể áp dụng cho một thừa tác viên đặc biệt là người cho rước lễ cách hợp pháp (xem SCDS, Instr. “Immensae caritatis”; RR, “Rước lễ và thờ phượng Thánh Thể ngoài Thánh Lễ,” số 17; cũng xem thêm QCSL [1975] số 229 liên quan đến linh mục cử hành mà không có cộng đoàn tham dự; và các số 202-206 liên quan đến Thánh Lễ đồng tế (Notitiae 14 [1978] 593-594, số 15).

Câu hỏi: Khi cử hành Thánh Lễ, những loại đèn / nến được thắp sáng đặt trên chân đèn / nến có phải bao gồm các loại sử dụng sáp ong, dầu ô liu, hoặc dầu thực vật khác không?

Trả lời: QCSL [1970] quy định về nến dùng cho Thánh Lễ “như là một dấu hiệu để tỏ lòng cung kính và mừng lễ” (số 79, 269). Tuy nhiên, QCSL lại không nói gì thêm về chất liệu làm nến, ngoại trừ trường hợp đèn cung thánh / đèn Nhà Tạm, thì nhiên liệu dùng để đốt phải bằng dầu hoặc bằng sáp (xem “Rước lễ và Tôn thờ Thánh Thể ngoài Thánh Lễ”, Intr., số 11). Đối với nến đốt trong Thánh Lễ, các Hội đồng Giám mục có thẩm quyền chọn lựa chất liệu nào là phù hợp y như đối với các vật dụng thánh khác. Thẩm quyền này bị giới hạn trong điều kiện là phải lưu ý đến đánh gía của dân chúng xem chất liệu nào có giá trị và xứng đáng cũng như thích hợp để sử dụng nơi thiêng thánh. Nến dành cho việc sử dụng trong phụng vụ nên được làm bằng vật liệu có thể cung cấp ngọn lửa thật và sống động mà không gây ám khói hoặc độc hại cũng như không làm dơ bẩn khăn bàn thờ hoặc khăn phủ bàn thờ. Các loại đèn điện thì bị cấm vì chúng không bảo đảm tính xác thực và tính biểu tượng đầy đủ của ánh sáng (Notitiae 10 [1974] 80, no. 4. 272).

Cập nhật (từ QCSL [2002])

- Bàn thờ phải phủ ít là một khăn màu trắng. Trên bàn thờ hoặc gần bàn thờ, phải đặt hai, hoặc bốn, hoặc sáu chân đèn, nhất là trong Thánh Lễ Chúa nhật hoặc ngày lễ buộc; hoặc nếu là lễ Giám mục giáo phận cử hành, thì phải đặt bảy chân đèn, có thắp nến (số 117).

- Trong nơi thánh, Thánh Lễ phải được cử hành trên một bàn thờ. Ngoài nơi thánh thì có thể cử hành trên một bàn thích hợp, nhưng bao giờ cũng phải có khăn phủ bàn và khăn thánh, Thánh giá và nến (số 297).

- Mỗi khi cử hành phụng vụ, cần có những chân nến để tỏ lòng cung kính và mừng lễ (x. số 117). Phải chú tâm đến cấu trúc của bàn thờ và cung thánh, để tuỳ nghi đặt các chân nến trên bàn thờ, hoặc chung quanh bàn thờ cho có sự hoà hợp chung và không ngăn cản tín hữu dễ dàng nhìn thấy những gì đang thực hiện hoặc đặt trên bàn thờ (số 307).

Câu hỏi: Nếu không có ghế [dành cho] chủ tế và cũng không có vị trí đặc biệt nào để từ đó cử hành phụng vụ Lời Chúa, vậy khi một linh mục cử hành với một nhóm nhỏ hiện diện thôi: (a) Ngài có thể ở tại bàn thờ trong phần phụng vụ Lời Chúa không? (b) Nên đặt Sách Lễ ở phía bên phải của bàn thờ hay ở giữa bàn thờ? (c) Nếu thực hành như thế, phía bên nào của bàn thờ được chỉ định là bên trái hay bên phải?

Trả lời: (a) Các quy tắc phụng vụ có hiệu lực phân biệt một cách rõ ràng giữa bàn thờ và nơi để công bố Lời Chúa (QCSL [1975] các số 252-257). Trường hợp các địa điểm chưa được tu sửa cho phù hợp với phụng vụ cải cách (và việc tu sửa như vậy nên được hoàn tất sớm mà không trì hoãn quá lâu), điều cần thiết là phải cung cấp ít nhất một chiếc ghế cho chủ tế và một tòa giảng di động cho độc viên Sách Thánh. Khi chính vị chủ tế phải đóng vai trò là người đọc sách, đặc biệt là vai trò công bố bài Phúc Âm, việc đọc Sách Thánh nên diễn ra tại tòa giảng di động. Trong trường hợp rất đặc biệt mà thậm chí không có cả một băng ghế, linh mục có thể ở lại tại bàn thờ, còn Sách Lễ và Sách Bài Đọc được đặt trên một cái giá đọc sách. (b) Hiển nhiên, giá sách này phải được xếp đặt cách thuận tiện cho việc đọc của chủ tế, ví dụ, ở giữa bàn thờ. Tập tục đặt Sách Lễ ở phía bên trái của bàn thờ xuất phát từ thời kỳ chén thánh được đặt ở trung tâm [bàn thờ] ngay từ đầu Thánh Lễ. Trường hợp này nay không còn nữa, vì kể từ khi cải cách phụng vụ, thì chén thánh được đặt trên bàn phụ cách xa bàn thờ. (c) Phía bên trái của bàn thờ được hiểu là phía tay trái của chủ tế; còn bên phải bàn thờ là bên tay phải của ngài (Notitiae 14 [1978] 302, no. 3. 273).

Câu hỏi: Thánh Lễ cho các nhu cầu và các dịp hội họp khác nhau cũng như Thánh Lễ ngoại lịch được cử hành vào các ngày trong tuần của mùa Giáng sinh và Phục sinh được không?

Trả lời: QCSL [1970] số 316(c) chỉ nói về các ngày trong tuần của mùa Thường niên mà không đề cập đến các ngày trong tuần của mùa Giáng sinh và Phục sinh (Trong các ngày thuộc mùa Quanh năm, linh mục có thể chọn hoặc lễ về ngày trong tuần, hoặc lễ nhớ tự do nếu có, hoặc lễ về vị thánh nào có tên trong sách các thánh ngày hôm đó, hoặc lễ tùy hoàn cảnh hay lễ ngoại lịch). Nhưng việc đối chiếu giữa QCSL [1970] với Quy chế Tổng quát về Năm Phụng vụ và Lịch chung Rôma (QCNPV) dẫn chúng ta đến cách giải thích sau đây.

(1) Thánh Lễ cho các nhu cầu và các dịp hội họp khác nhau hoặc Thánh Lễ ngoại lịch đều không được cử hành vào dịp lễ trọng, các Chúa nhật mùa Vọng, mùa Chay và mùa Phục sinh, cũng như vào thứ Tư lễ Tro và các ngày trong Tuần Thánh vốn “đã được ưu tiên hơn tất cả cử hành khác” (xem QCNPV số 16).

(2) Vào các Chúa nhật không phải là những ngày vừa được liệt kê ở trên, vào các ngày lễ kính, vào các ngày trong trong tuần của mùa Vọng từ 17 đến 24 tháng 12 và các ngày trong trong tuần của mùa Chay, thì có thể cử hành Thánh Lễ cho các nhu cầu và các dịp hội họp khác nhau hoặc Thánh Lễ ngoại lịch khi “có nhu cầu quan trọng, theo sự chỉ định của bản quyền địa phương hoặc với phép của đấng bản quyền" (QCSL [1970] số 332).

(3) Vào các ngày trong tuần của mùa Vọng, từ đầu mùa Vọng cho đến ngày 16 tháng 12, các ngày trong tuần của mùa Giáng sinh từ ngày 2 tháng 1 cho đến thứ Bảy sau Lễ hiển linh, các ngày trong tuần của mùa Phục sinh từ thứ Ba sau tuần bát nhật Phục sinh cho đến thứ Bảy trước lễ Hiện xuống, và vào những ngày lễ nhớ bắt buộc, “Nếu thực sự có nhu cầu hoặc lợi ích mục vụ đòi hỏi, thì khi cử hành Thánh Lễ có giáo dân tham dự, có thể dùng những bài lễ thích hợp với nhu cầu và lợi ích trên, tùy theo sự xét doán của vị phụ trách thánh đường hay của chính linh mục chủ tế (QCSL [1970] số 333). Nhu cầu ở đây được hiểu theo nghĩa mục vụ, chẳng hạn, nếu có một số lượng lớn người tập hợp cho một buổi cử hành đặc biệt, như trường hợp xảy ra tại một số nơi vào thứ Sáu đầu tháng. Ngoài những trường hợp như vậy, Thánh Lễ cho các nhu cầu và dịp hội họp khác nhau không được phép. Trước hết, phải hướng tâm trí các tín hữu về những ngày lễ của Chúa, là những lễ quanh năm cử hành các mầu nhiệm cứu chuộc. Vì thế, Phần Riêng mỗi mùa phải có một chỗ thích hợp vượt trên lễ các thánh, để trọn vẹn chu kỳ các mầu nhiệm cứu chuộc được kính nhớ đúng mức (PV số 108). Điều này áp dụng trước hết cho năm mươi ngày từ Chủ nhật Phục sinh cho đến lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, những ngày này “được cử hành trong niềm hân hoan phấn khởi, như một ngày lễ duy nhất, hơn thế, như một ”Đại Chúa nhật” (QCNPV, số 22).

(4) Trong mùa Thường niên, được phép cử hành Thánh Lễ cho các nhu cầu và các dịp khác nhau bất cứ khi nào rơi vào ngày thường hay ngày lễ nhớ tùy chọn.

(5) Thánh Lễ cầu cho người đã qua đời được quy định theo cùng một cách. [a] Thánh Lễ an táng có thể được cử hành vào bất cứ ngày nào, ngoại trừ Tam nhật Vượt Qua, các Chúa nhật mùa Vọng, mùa Chay, mùa Phục Sinh, và các ngày lễ trọng. [b]. Thánh Lễ khi hay tin người chết, khi an táng và khi giỗ đầu có thể được cử hành vào những ngày được chỉ định tại các số 3-4 của QCSL [1970] số 337). [c] Thánh Lễ hàng ngày cầu cho người qua đời có thể được cử hành vào các ngày trong tuần của mùa Thường niên và vào ngày lễ nhớ tùy chọn, như ở phần (4) (Notitiae 5 [1969] 323-324, no. 2).

Câu hỏi: Vào ngày Chủ nhật lễ Lá, phẩm phục màu đỏ chỉ được sử dụng trong cuộc rước lá phải không?

Trả lời: Không. Màu đỏ là màu được sử dụng trong cả Thánh Lễ lẫn Giờ kinh Phụng vụ của toàn bộ ngày phụng vụ về Cuộc Khổ Nạn của Chúa, nghĩa là Chủ nhật lễ Lá, cụ thể là từ Kinh Chiều I cho đến Kinh Chiều II. Chúng ta cũng áp dụng tương tự như vậy cho ngày thứ Sáu Tuần Thánh, trong đó màu đỏ là màu sắc cho cả Giở kinh lẫn cử hành Cuộc Thương Khó của Chúa (Notitiae 5 [1969] 403, no. 12).

ĐỆM ĐÀN

Câu hỏi: Có thể đệm đàn organ đang khi linh mục đọc Kinh nguyện Thánh Thể không?

Trả lời: Không được. QCSL [1975] số 12 nói rõ: Tính chất các phần dành cho vị chủ tọa; buộc linh mục phải đọc rõ ràng lớn tiêng, và buộc mọi người phải chăm chú lắng nghe. Vì thế, khi linh mục đọc các phần đó, không ai được đọc hay hát kinh nào khác, cũng không đươc đánh đàn hay chơi nhạc cụ nào khác. Đây là một quy tắc rõ ràng, không có chỗ cho sự nghi ngờ, vì nó là một lời nhắc nhở về những thực hành sai lầm đã hết sức cản trở và giảm thiểu sự tham gia của đoàn dân vào phần trọng tâm này của Thánh Lễ (Notitiae 13 [1977] 94-95, no. 2).

Cập nhật: Bản chất các kinh nguyện “chủ toạ” buộc linh mục phải đọc rõ ràng, lớn tiếng, và buộc mọi người phải chăm chú lắng nghe. Vì thế, khi linh mục đọc các kinh này, không ai được đọc hoặc hát kinh nào khác, cũng không được đánh đàn hoặc chơi nhạc cụ nào khác” (QCSL [2002] số 32).

THÁNH LỄ NGOẠI LỊCH KÍNH VỊ THÁNH

Câu hỏi: Vào các ngày trong tuần của mùa Thường niên, có thể chọn cử hành Thánh Lễ về bất kỳ vị thánh nào không?

Trả lời: Được. QCSL [1970] số 316c nói: “Các ngày trong tuần thuộc Mùa Thường Niên, linh mục có thế chọn lễ về ngày trong tuần, hoặc lễ nhớ không bắt buộc nếu có, hoặc lễ vị thánh nào có tên trong sổ bộ các thánh ngày đó, hoặc lễ “cho các nhu cầu khác nhau” hoặc lễ “ngoại lịch”..” Các Thánh Lễ ngoại lịch được liệt kê là những Thánh Lễ “kính nhớ những mầu nhiệm của Chúa, hoặc để kính Đức Trinh Nữ Maria, một vị thánh nào đó, hay tất cả các vị thánh” (QCSL [1970], số 329c). Mặc dù số 316c dành ưu tiên nhất định cho những vị thánh được đề cập trong sổ bộ các thánh ngày đó, nhưng số 329c lại cho phép, như một lựa chọn theo lòng đạo đức của giáo dân, cử hành Thánh Lễ ngoại lịch về bất kỳ vị thánh nào hoặc tất cả các vị thánh. Các bản văn dùng cho các Thánh Lễ ngoại lịch được cử hành để tôn vinh các vị thánh được chọn phù hợp với số 4, tr. 514 của Sách lễ Rôma “Missale Romanum” (RM: Lễ riêng các thánh, Dẫn nhập số 4) (Notitiae 10 (1974) 145, no. 2. 322a).

Cập nhật: Phần “Thánh Lễ ngoại lịch” trong phiên bản tiếng Việt [1992] của cuốn Sách lễ Rôma ấn bản 1975 nằm từ trang 971-995.

ĐỌC CÔNG THỨC CẦU CHO NGƯỜI QUÁ CỐ

Câu hỏi: Khi nào thì công thức đặc biệt cầu cho người chết trong Kinh nguyện Thánh Thể (KNTT) II và III có thể được sử dụng?

Trả lời: Nguồn gốc của câu hỏi này phát xuất từ cụm từ chữ đỏ được ghi trong KNTT III: “Khi lời cầu nguyện này được sử dụng trong “Thánh Lễ cho người qua đời...” (x. “Preces eucharisticae et Praefationes,” Vatican Polyglot Press, 1967, p. 35). Chữ đỏ này đã được làm sáng tỏ trong Nghi thức Thánh Lễ mới (QCSL [1970] số 322b): “ Khi làm lễ [với bài lễ] cầu cho một người quá cố, có thể thêm công thức riêng đã trù liệu ở chỗ có ghi sẵn, nghĩa là trước kinh “Lạy Chúa, xin nhớ đến tôi tớ Chúa...” Do đó, việc thêm công thức này cầu cho người quá cố có thể được áp dụng trong bất kỳ Thánh Lễ nào được cử hành [với bài lễ] cầu cho người đã qua đời mà nhận được sự tưởng nhớ cách đặc biệt (tức lễ an táng hay giỗ đầu chẳng hạn). Mục đích của luật này là tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi QCSL [1970] số 316, nghĩa là linh mục phải kiềm chế bằng việc chỉ làm lễ [với bài lễ] cầu cho các người đã qua đời cách chừng mực thôi (Quả thật, trong Thánh Lễ nào cũng cầu cho người sống và kẻ chết, và trong mỗi KNTT đều có nhớ đến những người quá cố rồi) (Notitiae 5 (1969) 325, no. 4).

Câu hỏi: Có thể cử hành Thánh Lễ an táng trong tuần bát nhật Giáng sinh và Phục sinh không?

Trả lời: Được. Quy tắc của QCSL [1970] số 336 cho biết trong những Thánh Lễ cầu cho người quá cố, lễ an táng chiếm địa vị cao nhất, có thể được cử hành vào bất cứ ngày nào trừ những ngày lễ trọng buộc, các Chúa nhật mùa Vọng, mùa Chay, và mùa Phục sinh. Do đó, Thánh Lễ cầu cho người quá cố có thể được cử hành trong tuần bát nhật Giáng sinh hoặc Phục sinh (Notitiae 6 [1970] 263, no. 37).

Cập nhật: QCSL [2002] số 380: Trong những Thánh Lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời, thì đứng đầu là lễ an táng. Có thể cử hành lễ này mọi ngày trừ những lễ trọng buộc, thứ Năm Tuần Thánh, Tam Nhật Vượt Qua, và các Chúa Nhật mùa Vọng, mùa Chay và mùa Phục Sinh. Ngoài ra phải giữ mọi điều luật đã quy định” (Giáo Luật, điều 1176-1185; Sách Nghi thức Rôma, Nghi thức An Táng, ấn bản mẫu).

Câu hỏi: Có thể cử hành Thánh Lễ an táng vào thứ Năm Tuần Thánh và trong Tam nhật Phục Sinh không?

Trả lời: Không được cử hành nếu chúng ta áp dụng chỉ thị được ghi trong Sách lễ Rôma. Vào sáng thứ Năm Tuần Thánh, theo luật, Hội Thánh cử hành Thánh Lễ truyền dầu (MR. 239-242). Ngoài Thánh Lễ Tiệc Ly diễn ra vào chiều tối thì “Bản quyền địa phương có thể cho phép cử hành một Thánh Lễ khác tại các nhà thờ hay các nhà nguyện công cộng / bán công vào buổi tối hoặc, trong trường hợp cần thiết thực sự, ngay cả vào buổi sáng, nhưng chỉ dành riêng cho những người, bằng bất cứ cách nào, không thể tham gia Thánh Lễ buổi tối” (MR trang 243 RM, Thứ Năm Tuần Thánh “Thánh Lễ Tiệc Ly”). Các cử hành Thánh Thể khác vào Thứ Năm Tuần Thánh hoàn toàn bị cấm. Vào thứ Sáu Tuần Thánh, “theo truyền thống cổ xưa của Giáo Hội, không được cử hành các bí tích” (MR 250. RM, Thứ Sáu Tuần Thánh, “Cử Hành Cuộc Khổ Nạn của Chúa”). “Vào thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội chờ đợi tại ngôi mộ của Chúa, .. và không được cử hành hy tế của Thánh Lễ” (MR. 265 RM, Thứ Bảy Tuần Thánh). Trường hợp Chúa nhật Phục Sinh, QCSL [1970] số 336 cấm không cử hành Thánh Lễ an táng, vì đây là một lễ trọng buộc (Notitiae 10 [1974] 145-146, no. 3).

LM. Giuse Phạm Đình Ái, S.S.S. chuyển ngữ


[1] Bộ này mang nhiều danh xưng khác nhau qua thời gian: 1] Bộ Lễ nghi Thánh (từ 01/01/1968); 2] Thánh Bộ Lễ nghi (01/01/1968–08/05/1969); 3] Thánh Bộ Phụng tự Thánh (08/05/1969–01/08/1975); 4] Bộ các Bí tích và Phụng tự Thánh (01/08/1975–02/08/1984); 5] Bộ Phụng tự Thánh (02/08/1984 – 01/03/1989); 6] Bộ Phụng tự Thánh và Kỷ luật Bí tích (từ 01/03/1989–nay).