Nội dung chính

Một thế giới tăm tối, phi nhân tính và đầy ám ảnh

Các nền văn minh Hy Lạp, Do Thái và Ki-tô giáo đã thay đổi định nghĩa về ý nghĩa của việc làm người.

Halloween giúp chúng ta tưởng nhớ những người đã khuất.


Một trong những chủ đề bền bỉ nhất gắn liền với lễ hội Halloween chính là sự huyền bí đầy lạ lẫm của Ai Cập cổ đại: những chữ tượng hình khó hiểu che giấu các bí mật chết chóc, những ngôi mộ pharao bị nguyền rủa, hay những xác ướp bỗng chốc sống dậy. Thật trớ trêu thay, thực tế lại hoàn toàn khác: các dòng chữ khắc trên mộ vốn nhằm mục đích bảo vệ người đã khuất chứ không phải là lời nguyền, tục ướp xác được thực hiện để bảo tồn thi hài cho thế giới bên kia, chứ không phải để gieo rắc nỗi sợ hãi cho bất kỳ ai tình cờ bắt gặp. Thế nhưng, điều đáng sợ nhất về Ai Cập cổ đại - khi đặt trong bối cảnh Lễ Các Thánh (All Hallows Eve), một ngày lễ Kitô giáo cổ xưa nhằm tôn vinh các vị thánh, các vị tử đạo và tất cả những tín hữu đã qua đời - lại chính là bản chất bóc lột tàn khốc của xã hội Ai Cập thời tiền Kitô giáo.

Trên thực tế, chính Giáo hội Công giáo đã tiếp cận một sự thật đáng sợ - rằng cuộc đời ngắn ngủi của mỗi người rồi cũng sẽ kết thúc và dần bị lãng quên bởi phần lớn nhân gian - để rồi mang lại cho cái chết một phẩm giá đích thực. Giáo hội tạo ra con đường để mọi người, bất kể giàu nghèo hay địa vị xã hội, đều có thể được tưởng nhớ và tôn vinh.

Một thế giới tăm tối, phi nhân tính và đầy ám ảnh

Mặc dù vẫn còn nhiều tranh luận giữa các học giả về các kim tự tháp và những công trình vĩ đại khác của người Ai Cập cổ đại, nhưng gần như chắc chắn rằng phần lớn sức lao động tạo nên chúng đều là cưỡng bức, nằm trong một hệ thống quy mô lớn do nhà nước tổ chức, với hàng ngàn công nhân bị ép buộc làm việc. Qua nhiều thế kỷ, các pharao đã sử dụng những dự án xây dựng này để cạnh tranh với những người tiền nhiệm, nhằm phô trương quyền lực, sự giàu có, thẩm quyền tôn giáo và khả năng huy động các nguồn lực trong đế chế của mình.

Trong cuốn sách mới xuất bản mang tên Brief Lives of the Ancient World: Rulers, Rebels and Robbers (tạm dịch: Những cuộc đời ngắn ngủi thời cổ đại: Các nhà cai trị, những kẻ nổi loạn và những tên cướp), học giả kiêm nhà khảo cổ học người Anh Guy de la Bédoyère viết rằng, đây chính là phương thức để thể hiện “khái niệm về quyền lực quân chủ tuyệt đối”. Bằng chứng từ một nghĩa trang dành cho người lao động cho thấy họ đã phải trải qua “một cuộc đời đầy nguy hiểm, tàn khốc và ngắn ngủi, phải chịu đựng những chấn thương nghiêm trọng cùng tình trạng suy dinh dưỡng”. Nhiều người trong số họ thậm chí vẫn còn là những đứa trẻ.

Lao dịch trong một dự án xây dựng quy mô lớn tại Ai Cập là công việc vô cùng vất vả, nhọc nhằn và chẳng hề vinh quang. Tuy nhiên, xét cho cùng, số phận này vẫn còn tốt hơn là trở thành kẻ thù của người Ai Cập. Bédoyère mô tả một vị pharao tên là Amenhotep, người đã chiếm hai thành phố ở vùng Levant rồi ném toàn bộ cư dân tại đó xuống một cái hào. Trong khi thiêu sống họ, vị pharao này vẫn thức suốt đêm để cử hành nghi lễ tôn vinh thần Amun. Một vị pharao khác, Rameses II, đã huy động hàng ngàn người lao động - phần lớn là nô lệ bị bắt trong chiến tranh hoặc bị bắt làm cống phẩm - để khai thác và vận chuyển đá. “Đây chính là biểu hiện điển hình nhất của chế độ chuyên chế thời kỳ Đồ đồng.” Nếu bạn không phải là một pharao hay một nhân vật cấp cao trong triều đình, bạn sẽ chẳng để lại di sản gì, ngoại trừ những công trình mà bạn đã đổ mồ hôi công sức xây dựng cho một kẻ chẳng hề mảy may quan tâm đến sự hiện hữu của bạn.

Một nghịch lý cho thấy những giá trị mà nền văn minh này đề cao chính là việc các pharao lại trở thành những kẻ đào mộ khi quyền lực của Ai Cập suy tàn. “Rất có khả năng, thậm chí là gần như chắc chắn, một số vị vua đã cố tình cho phép người khác đột nhập vào lăng mộ của những người tiền nhiệm để lấy vật liệu cần thiết, nhằm phục vụ cho việc mai táng chính họ theo đúng phong cách xa hoa mà họ mong muốn.” Đối với người Ai Cập cổ đại, cuộc sống xoay quanh quyền lực, sự giàu sang và việc lưu truyền di sản đó vượt ra ngoài kiếp nhân sinh. Nếu bạn không thuộc tầng lớp tinh hoa, bạn chẳng có di sản nào để để lại, và ngay cả khi bạn thuộc tầng lớp đó, di sản ấy vẫn có thể bị các thế hệ sau phá hủy hoặc cướp đoạt!

Các nền văn minh Hy Lạp, Do Thái và Ki-tô giáo đã thay đổi định nghĩa về ý nghĩa của việc làm người.

Sự chuyển biến đột ngột khi cuốn sách của Bédoyère đề cập đến người Hy Lạp tựa như khoảnh khắc bình minh ló dạng. Chẳng hạn, Herodotus xứ Halicarnassus đã được Cicero tôn vinh là “cha đẻ của sử học” vì ông luôn nỗ lực cung cấp những thông tin chi tiết, toàn diện về các sự kiện lịch sử, bao gồm cả phong tục và văn hóa của thế giới cổ đại. Ngoại trừ Alexander Đại đế, hầu hết những người Hy Lạp mà chúng ta biết đến ngày nay không phải là các nhà lãnh đạo chính trị, mà là những nhà văn và triết gia – chẳng hạn như Socrates, Plato, Aristotle, Sophocles (ngay cả chính khách người Athens
là Pericles cũng là một bậc thầy hùng biện). Thay vì cố gắng để lại di sản thông qua các công trình xây dựng hay những cuộc chiến tranh bành trướng, người Hy Lạp lại đề cao việc theo đuổi tri thức – một hành trình mà bất kỳ ai cũng có thể tiếp cận.

Người Do Thái, tất nhiên, cũng từng trải nghiệm sâu sắc những nỗi kinh hoàng tăm tối tại Ai Cập. Có lẽ một phần nhờ vào ký ức về nhiều thế hệ sống trong cảnh nô lệ, Kinh Thánh của người Do Thái đã truyền tải tư tưởng về phẩm giá của mọi con người: “Áp bức người yếu thế là sỉ nhục Đấng tạo thành nên họ, thương xót kẻ khó nghèo là tôn kính Đấng dựng nên người đó” (Cn 14, 31). “ĐỨC CHÚA bắt phải nghèo và cho giàu có, Người hạ xuống thấp, Người cũng nhắc lên cao. Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi, ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro” (1 Sm 2, 7-8). Thiên Chúa của người Do Thái không chỉ là Đấng giải cứu dân Ngài khỏi cảnh nô lệ tại Ai Cập, mà còn là Đấng quan tâm đến nhu cầu và mong muốn của tất cả mọi người, chứ không riêng gì giới giàu sang hay quyền thế.

Đức tin Kitô giáo đã kết hợp những đặc điểm của cả văn hóa Hy Lạp lẫn Do Thái. Điều này thể hiện rõ trong Tân Ước, nơi các chân lý Kinh Thánh cổ xưa được truyền tải thông qua ngôn ngữ của triết học Hy Lạp; thậm chí, các tác phẩm của những tư tưởng gia Hy Lạp còn được trích dẫn một cách trân trọng (x. Cv 17, 28, Tt 1, 12, 1 Cr 15, 33). Không có gì ngạc nhiên khi Giáo hội khẳng định rằng mọi con người đều mang “hình ảnh Thiên Chúa” imago Dei và đều nằm trong kế hoạch cứu độ vĩnh cửu của Ngài, tôn giáo mới này đã phát triển mạnh mẽ, lan tỏa đến mọi tầng lớp xã hội và các nhóm dân tộc trên khắp Đế chế La Mã.

Chúa Giêsu được tôn vinh như một vị vua - không phải vì Ngài chinh phục các vùng đất hay xây dựng những cung điện tráng lệ, mà vì Ngài là tấm gương sáng ngời về đức hạnh hoàn hảo, sẵn sàng chấp nhận cái chết nhục nhã trên thập tự giá vì lợi ích của người khác. Sau đó, các môn đệ tuyên bố rằng Ngài đã sống lại từ cõi chết; họ cũng tin rằng một ngày nào đó, chính họ cũng sẽ được phục sinh.

Halloween giúp chúng ta tưởng nhớ những người đã khuất.

Như vậy, Giáo hội Công giáo đã tái định hình ý nghĩa của sự sống và cái chết.

Từ đó, hàng triệu con người không còn phải lao nhọc trong tăm tối và áp bức vì lợi ích của kẻ khác - một cuộc đời vốn chẳng là gì ngoài cơ hội để giới cầm quyền bóc lột. Thông qua đức tin vào Đức Kitô, các Kitô hữu không chỉ tìm thấy phẩm giá và giá trị của bản thân, mà còn có thể được tôn vinh như những vị thánh hay các vị tử đạo, linh hồn họ được cầu nguyện, và di tích của họ được Giáo hội trân trọng gìn giữ.

Thi hài người quá cố được chôn cất thay vì hỏa táng, bởi các Kitô hữu luôn mong chờ ngày phục sinh - thời điểm linh hồn sẽ tái hợp với thể xác. Trong tác phẩm chống Kitô giáo mang tên Chống lại người Galilê - Against the Galileans, hoàng đế Julianus the Apostate ở thế kỷ IV đã phàn nàn rằng: “Các người đã lấp đầy cả thế giới này bằng những ngôi mộ và hầm mộ.” Tương tự, Eunapius Sardis (khoảng năm 345 – sau năm 414) cũng bày tỏ thái độ khinh miệt khi chỉ trích các Kitô hữu vì đã tôn vinh xương cốt và đầu lâu của những người đã khuất.

Trớ trêu thay, chính nhiều khía cạnh này lại trở thành những đặc điểm định hình nên quan niệm của chúng ta về lễ Halloween ngày nay. Tục lệ “cho kẹo hay bị ghẹo” (trick-or-treat) bắt nguồn từ “souling” – một phong tục cổ xưa, trong đó người ta đi từ nhà này sang nhà khác để xin đồ ăn, đổi lại bằng việc cầu nguyện cho những người đã khuất. Những tấm bia mộ và ngọn nến gợi nhắc chúng ta về những tín hữu đã ra đi, còn xương cốt và đầu lâu được trưng bày ở nơi công cộng. Dù chúng ta thường liên tưởng những hình ảnh này với sự đáng sợ, nhưng thực chất, đó là cách để chúng ta tưởng nhớ và tôn vinh người đã khuất – một ngày dành cho tất cả những ai đã rời xa cõi đời này. Chẳng hạn, khi đến thăm Peru, tôi đã cầu nguyện trong một vương cung thánh đường ngay trước hộp sọ của Thánh Rosa Lima!

Đối với người Công giáo, việc đi giữa những ngôi mộ hay cầu nguyện trước hài cốt của các vị thánh là nguồn khơi gợi lòng đạo đức và sự an ủi trong đời sống tâm linh, chứ không phải là điều đáng sợ. Ngược lại, điều thực sự đáng sợ chính là thế giới trước khi Kitô giáo xuất hiện, thời kỳ mà dù bạn có giàu có hay quyền lực đến đâu, cũng chẳng có cách nào để được người đời nhớ đến hay thậm chí là tôn vinh.

Như những câu chuyện từ Ai Cập cổ đại cho thấy, thế giới xưa kia từng là một nơi tăm tối và cay đắng, nơi đông đảo người dân phải lao động và chết trong sự vô danh, chỉ để thỏa mãn lòng kiêu ngạo của một nhóm thiểu số. Và trong hàng trăm vị pharao đó, liệu bạn có thể kể tên được bao nhiêu người mà không cần tra cứu?


Nguồn: Học viện Thần học Đa Minh